USS Herndon (DD-198)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
HMS Churchill FL25452.jpg
Tàu khu trục HMS Churchill (I45) trên đường đi, sau khi rời một xưởng tàu Hoa Kỳ.
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Tên gọi: USS Herndon (DD-198)
Đặt tên theo: William Lewis Herndon
Đặt hàng: Newport News Shipbuilding & Dry Dock Company
Đặt lườn: 25 tháng 11, 1918
Hạ thủy: 31 tháng 5, 1919
Đỡ đầu bởi: cô Lucy Taylor Herndon
Nhập biên chế: 14 tháng 9, 1920
Tái biên chế: 4 tháng 12, 1939
Xuất biên chế: 6 tháng 6, 1922
9 tháng 9, 1940
Xóa đăng bạ: 8 tháng 1, 1941
Số phận: Chuyển cho Anh Quốc, 9 tháng 9, 1940
Phục vụ
Nhập biên chế: 7 tháng 3, 1931
Xuất biên chế: 28 tháng 5, 1934
Số phận: Trả cho Hải quân, 1934
Phục vụ (Anh Quốc)
Tên gọi: HMS Churchill (I45)
Trưng dụng: 9 tháng 9, 1940
Nhập biên chế: 9 tháng 9, 1940
Số phận: Chuyển cho Liên Xô, 16 tháng 7, 1944
Phục vụ (Liên Xô) Naval Ensign of the Soviet Union.svg
Tên gọi: Deyatelny (Деятельный)
Trưng dụng: 16 tháng 7, 1944
Số phận: Bị đánh chìm, 16 tháng 1, 1945
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu khu trục Clemson
Trọng tải choán nước: 1.215 tấn Anh (1.234 t) (tiêu chuẩn)
1.308 tấn Anh (1.329 t) (đầy tải)
Độ dài: 314 ft 5 in (95,83 m)
Sườn ngang: 31 ft 9 in (9,68 m)
Mớn nước: 9 ft 10 in (3,00 m)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hơi nước hộp số Westinghouse;[1]
4 × nồi hơi 300 psi (2.100 kPa);[1]
2 × trục;
công suất 26.500 hp (19.800 kW)
Tốc độ: 35 kn (65 km/h)
Tầm xa: 4.900 nmi (9.070 km; 5.640 mi) ở tốc độ 15 hải lý một giờ (28 km/h; 17 mph)
Số lượng tàu con
và máy bay mang được:
4 × xuồng đổ bộ LCP
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
122 sĩ quan và thủy thủ
Vũ trang: 4 pháo 4 in (100 mm)/50 caliber;[1]
3 × pháo 3 in (76 mm)/23 caliber;[1]
12 × ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm) (4×3)[1]

USS Herndon (DD-198) là một tàu khu trục lớp Clemson được Hải quân Hoa Kỳ chế tạo vào cuối Chiến tranh Thế giới thứ nhất; từng phục vụ cho Lực lượng Tuần duyên Hoa Kỳ từ năm 1930 đến năm 1934 như là chiếc CG-17; trong Chiến tranh Thế giới thứ Hai được chuyển cho Hải quân Hoàng gia Anh Quốc vào năm 1940 như là chiếc HMS Churchill; rồi lại được chuyển cho Hải quân Liên Xô vào năm 1944 như là chiếc Deyatelny (tiếng Nga: Деятельный), cho đến khi bị tàu ngầm U-boat U-286 đánh chìm vào ngày 16 tháng 1, 1945. Nó là chiếc tàu chiến đầu tiên của Hải quân Hoa Kỳ được đặt tên theo Trung tá Hải quân William Lewis Herndon (1813-1857).

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Herndon được đặt lườn vào ngày 25 tháng 11, 1918 tại xưởng tàu của hãng Newport News Shipbuilding & Dry Dock CompanyNewport News, Virginia. Nó được hạ thủy vào ngày 31 tháng 5, 1919, được đỡ đầu bởi cô Lucy Taylor Herndon, cháu gái của Trung tá Herndon; và được đưa ra hoạt động tại Norfolk, Virginia vào ngày 14 tháng 9, 1920 dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Thiếu tá Hải quân L. H. Thebaud.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

USS Herndon (DD-198/CG-17)[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi chạy thử máy tại vùng biển New England, Herndon được đưa về lực lượng dự bị Charleston, South Carolina tại vào ngày 3 tháng 11, 1920. Nó phục vụ trong thành phần dự bị các hoạt động thực tập huấn luyện và cơ động dọc theo bờ Đông Hoa Kỳ cho đến khi nó được cho xuất biên chế tại Philadelphia, Pennsylvania vào ngày 6 tháng 6, 1922. Cho nhu cầu tăng cường tuần tra chống buôn lậu rượu, Herndon tham gia phục vụ cho Lực lượng Tuần duyên Hoa Kỳ từ năm 1930 đến năm 1934 như là chiếc CG-17.

Herndon được cho nhập biên chế trở lại cùng Hải quân vào ngày 4 tháng 12, 1939. Sau khi hoàn tất chạy thử máy và huấn luyện, nó đi đến vịnh Guantánamo, Cuba vào ngày 23 tháng 1, 1940 để tham gia hoạt động Tuần tra Trung lập tại vùng biển Caribe. Đến tháng 7tháng 8, nó hoạt động tại vùng kênh đào Panama cho các cuộc cơ động chiến thuật và chống tàu ngầm. Nó được cho xuất biên chế và chuyển cho Anh Quốc tại Halifax, Nova Scotia vào ngày 9 tháng 9, 1940 theo Thỏa thuận đổi tàu khu trục lấy căn cứ.

HMS Churchill (I45)[sửa | sửa mã nguồn]

Được đổi tên thành HMS Churchill, nó phục vụ như là soái hạm của chi hạm đội Town đầu tiên trong nhiệm vụ hộ tống các đoàn tàu vận tải vượt Đại Tây Dương và tuần tra các ngõ tiếp cận phía Tây đến quần đảo Anh. Các sự kiện nổi bật trong quãng đời phục vụ cùng Hải quân Hoàng gia bao gồm việc truy lùng thiết giáp hạm Đức Bismarck sau khi chiếc tàu đánh chìm tàu chiến-tuần dương HMS Hood; được viếng thăm bởi người mang tên được đặt cho con tàu, Thủ tướng Winston Churchill, khi đang trên đường quay về sau cuộc hội nghị Hiến chương Đại Tây Dương cùng Tổng thống Franklin D. Roosevelt vào tháng 8, 1941. Churchill được phân về Đội hộ tống B-7 trực thuộc Lực lượng Hộ tống Giữa đại dương để hộ tống các đoàn tàu vận tải.[2] Nó cũng phục vụ hộ tống bảo vệ cho lực lượng được tập trung trước và sau Chiến dịch Torch, cuộc đổ bộ lực lượng Đồng Minh lên Bắc Phi. Churchill được cải biến để tối ưu cho nhiệm vụ hộ tống vận tải bằng cách tháo dỡ ba trong số các khẩu pháo hải pháo 4 inch/50 caliber ban đầu và ba dàn ống phóng ngư lôi ba nòng để giảm bớt trọng lượng nặng bên trên, lấy chỗ chứa thêm mìn sâu và trang bị một dàn súng cối chống tàu ngầm Hedgehog.[3] Churchill được phân về Đội hộ tống C-4 thuộc Lực lượng Hộ tống Giữa đại dương, và đã hộ tống nhiều đoàn tàu vận tải trong mùa Đông năm 1942-1943.[4]

Deyatelny[sửa | sửa mã nguồn]

Được chuyển cho Hải quân Liên Xô vào ngày 16 tháng 7, 1944, chiếc tàu khu trục được đổi tên thành Deyatelny (tiếng Nga: Деятельный). Đang khi hộ tống một đoàn tàu vận tải đi trên tuyến đường từ Bán đảo Kola đến Bạch hải đầy bất trắc vào ngày 16 tháng 1, 1945, nó bị trúng ngư lôi, có thể từ tàu ngầm U-boat U-286, và bị đắm ở cách 40 mi (64 km) về phía Đông mũi Tereberski, ở tọa độ 69°15′B 37°2′Đ / 69,25°B 37,033°Đ / 69.250; 37.033Tọa độ: 69°15′B 37°2′Đ / 69,25°B 37,033°Đ / 69.250; 37.033.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c Thomas, Donald I., CAPT USN "Recommissioning Destroyers, 1939 Style" United States Naval Institute Proceedings September 1979 tr. 71
  2. ^ Rohwer 1992, tr. 135, 139
  3. ^ Lenton 1968, tr. 92-94
  4. ^ Milner 1985, tr. 290

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Phương tiện liên quan tới USS Herndon (DD-198) tại Wikimedia Commons