USS McCawley (DD-276)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Tên gọi: USS McCawley (DD-276)
Đặt tên theo: Charles McCawley
Hãng đóng tàu: Bethlehem Shipbuilding Corporation, Squantum Victory Yard
Đặt lườn: 5 tháng 11, 1918
Hạ thủy: 14 tháng 6, 1919
Đỡ đầu bởi: cô Eleanor Laurie McCawley
Nhập biên chế: 22 tháng 9, 1919
Tái biên chế: 27 tháng 9, 1923
Xuất biên chế: 7 tháng 6, 1922
1 tháng 4, 1930
Xóa đăng bạ: 13 tháng 8, 1930
Số phận: Bán để tháo dỡ, 2 tháng 9, 1931
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu khu trục Clemson
Trọng tải choán nước: 1.215 tấn Anh (1.234 t) (tiêu chuẩn)
1.308 tấn Anh (1.329 t) (đầy tải)
Độ dài: 314 ft 5 in (95,83 m)
Sườn ngang: 31 ft 9 in (9,68 m)
Mớn nước: 9 ft 10 in (3,00 m)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hơi nước hộp số Westinghouse;[1]
4 × nồi hơi 300 psi (2.100 kPa);[1]
2 × trục;
công suất 26.500 hp (19.800 kW)
Tốc độ: 35 kn (65 km/h)
Tầm xa: 4.900 nmi (9.070 km; 5.640 mi) ở tốc độ 15 hải lý một giờ (28 km/h; 17 mph)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
120 sĩ quan và thủy thủ
Vũ trang: 4 × pháo 4 in (100 mm)/50 caliber;[1]
1 × pháo 3 in (76 mm)/23 caliber;[1]
12 × ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm) (4×3)[1]

USS McCawley (DD-276) là một tàu khu trục lớp Clemson được Hải quân Hoa Kỳ chế tạo vào cuối Chiến tranh Thế giới thứ nhất. Nó là chiếc tàu chiến đầu tiên của Hải quân Hoa Kỳ được đặt theo tên Đại tá Thủy quân Lục chiến Charles Grymes McCawley (1827-1891). McCawley ngừng hoạt động năm 1922 và bị tháo dỡ năm 1936 nhằm tuân thủ quy định hạn chế vũ trang của Hiệp ước Hải quân London thứ hai.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

McCawley được đặt lườn vào ngày 5 tháng 11, 1918 tại xưởng tàu Squantum Victory Yard của hãng Bethlehem Shipbuilding CorporationSquantum, Massachusetts. Nó được hạ thủy vào ngày 14 tháng 6, 1919, được đỡ đầu bởi cô Eleanor Laurie McCawley, cháu nội Đại tá McCawley; và được đưa ra hoạt động vào ngày 22 tháng 9, 1919 dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Trung úy Hải quân H. E. Haynes.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Sau giai đoạn trang bị và chạy thử máy dọc theo vùng bờ Đông, McCawley lên đường đi San Diego, California, nơi nó gia nhập Hải đội Khu trục 2, sau được đổi tên thành Hải đội Khu trục 4, trực thuộc Hạm đội Thái Bình Dương. Nó tham gia các cuộc thực tập tại chỗ ngoài khơi bờ Tây cho đến khi được cho xuất biên chế tại San Diego vào ngày 7 tháng 6, 1922.

Đến ngày 27 tháng 9, 1923, McCawley được cho nhập biên chế trở lại và vẫn được phân về Hạm đội Thái Bình Dương. Trong sáu năm tiếp theo, ngoài các hoạt động thực tập huấn luyện tại chỗ và cơ động hải đội, nó tham gia nhiều cuộc tập trận Vấn đề Hạm đội. Nó hoạt động chủ yếu dọc theo vùng bờ Tây, từ San Diego cho đến Puget Sound và tại vùng biển Hawaii, ngoại trừ hai đợt vào các năm 19241927 khi nó tham gia tập trận hạm đội tại vùng biển Caribe.

McCawley được đưa vào danh sách đề nghị để loại bỏ nhằm tuân thủ những điều khoản giới hạn của Hiệp ước Hải quân London. Nó được cho xuất biên chế tại San Diego vào ngày 1 tháng 4, 1930; tên nó được cho rút khỏi danh sách Đăng bạ Hải quân vào ngày 13 tháng 8, 1930, và lườn tàu bị bán để tháo dỡ vào ngày 2 tháng 9, 1931.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c Thomas, Donald I., CAPT USN "Recommissioning Destroyers, 1939 Style" United States Naval Institute Proceedings September 1979 tr. 71

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]