USS Charles Ausburn (DD-294)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
USS Charles Ausburn (DD-294)
Tàu khu trục USS Charles Ausburn (DD-294)
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Tên gọi: USS Charles Ausburn (DD-294)
Đặt tên theo: Charles Lawrence Ausburne
Hãng đóng tàu: Bethlehem Shipbuilding Corporation, Squantum Victory Yard
Đặt lườn: 11 tháng 9, 1919
Hạ thủy: 18 tháng 12, 1919
Đỡ đầu bởi: bà D. K. Ausburn
Nhập biên chế: 23 tháng 3, 1920
Xuất biên chế: 1 tháng 5, 1930
Xóa đăng bạ: 22 tháng 10, 1930
Số phận: Bán để tháo dỡ, 17 tháng 1, 1931
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu khu trục Clemson
Trọng tải choán nước: 1.215 tấn Anh (1.234 t) (tiêu chuẩn)
1.308 tấn Anh (1.329 t) (đầy tải)
Độ dài: 314 ft 5 in (95,83 m)
Sườn ngang: 31 ft 9 in (9,68 m)
Mớn nước: 9 ft 10 in (3,00 m)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hơi nước hộp số Westinghouse;[1]
4 × nồi hơi 300 psi (2.100 kPa);[1]
2 × trục;
công suất 26.500 hp (19.800 kW)
Tốc độ: 35 kn (65 km/h)
Tầm xa: 4.900 nmi (9.070 km; 5.640 mi) ở tốc độ 15 hải lý một giờ (28 km/h; 17 mph)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
122 sĩ quan và thủy thủ
Vũ trang: 4 × pháo 4 in (100 mm)/50 caliber;[1]
1 × pháo 3 in (76 mm)/23 caliber;[1]
12 × ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm) (4×3)[1]

USS Charles Ausburn (DD-294) là một tàu khu trục lớp Clemson được Hải quân Hoa Kỳ chế tạo vào cuối Chiến tranh Thế giới thứ nhất. Nó là chiếc tàu chiến đầu tiên của Hải quân Hoa Kỳ được đặt theo tên Thiếu úy Charles Lawrence Ausburne (1889-1917), người tử trận trong Thế Chiến I. Charles Ausburn ngừng hoạt động năm 1930 và bị tháo dỡ năm 1931 nhằm tuân thủ quy định hạn chế vũ trang của Hiệp ước Hải quân London.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Charles Ausburn được đặt lườn vào ngày 11 tháng 9, 1919 tại xưởng tàu Squantum Victory Yard của hãng Bethlehem Shipbuilding CorporationSquantum, Massachusetts. Nó được hạ thủy vào ngày 18 tháng 12, 1919, được đỡ đầu bởi bà D. K. Ausburn; và được đưa ra hoạt động vào ngày 23 tháng 3, 1920 dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Đại úy Hải quân M. W. Hutchinson, Jr..

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Được phân về Hạm đội Đại Tây Dương, Charles Ausburn hoạt động từ Charleston, South Carolina, Norfolk, VirginiaNewport, Rhode Island dọc theo bờ biển Đại Tây Dương và vùng biển Caribe cho đến năm 1924, phục vụ với biên chế nhân sự bị cắt giảm từ tháng 10, 1920 đến tháng 5, 1922. Trong những năm này, nó tham gia các cuộc thao dượt hạm đội và cơ động huấn luyện, trợ giúp vào việc phát triển và áp dụng các kỹ thuật và chiến thuật mới trong hải quân. Vào mùa Thu năm 1923, nó được trang bị để mang theo một thủy phi cơ, và nó tiến hành các thử nghiệm trong lĩnh vực không lực hải quân đang phát triển mạnh mẽ.

Vào cuối mùa Hè năm 1924, Charles Ausburn thực hiện chuyến đi đến vùng có vĩ độ cao phía Bắc để phục vụ như tàu canh phòng cho chuyến bay vòng quanh thế giới của máy bay Lục quân, thường trực tại các trạm ngoài khơi GreenlandNewfoundland. Vào ngày 18 tháng 6, 1925, nó khởi hành từ Boston, Massachusetts bắt đầu một lượt phục vụ kéo dài một năm tại vùng biển Châu ÂuĐịa Trung Hải, viếng thăm nhiều cảng trước khi quay trở về New York vào ngày 11 tháng 7, 1926. Nó tiếp tục các hoạt động cùng hạm đội, cung cấp cơ sở vật chất cho việc huấn luyện nhân sự của Hải quân Dự bị Hoa Kỳ, cho đến ngày 1 tháng 5, 1930, khi nó được cho xuất biên chế tại Philadelphia, Pennsylvania. Charles Ausburn bị bán để tháo dỡ vào ngày 17 tháng 1, 1931.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c Thomas, Donald I., CAPT USN "Recommissioning Destroyers, 1939 Style" United States Naval Institute Proceedings September 1979 tr. 71

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]