USS Reno (DD-303)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
USS Reno (DD-303)
Tàu khu trục USS Reno (DD-303)
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Tên gọi: USS Reno (DD-303)
Đặt tên theo: Walter E. Reno
Hãng đóng tàu: Bethlehem Shipbuilding Corporation, Union Iron Works, San Francisco
Đặt lườn: 4 tháng 7, 1918
Hạ thủy: 22 tháng 1, 1919
Nhập biên chế: 23 tháng 7, 1920
Xuất biên chế: 18 tháng 1, 1930
Xóa đăng bạ: 8 tháng 7, 1930
Số phận: Bán để tháo dỡ, 1931
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu khu trục Clemson
Trọng tải choán nước: 1.215 tấn Anh (1.234 t) (tiêu chuẩn)
1.308 tấn Anh (1.329 t) (đầy tải)
Độ dài: 314 ft 5 in (95,83 m)
Sườn ngang: 31 ft 9 in (9,68 m)
Mớn nước: 9 ft 10 in (3,00 m)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hơi nước hộp số Westinghouse;[1]
4 × nồi hơi 300 psi (2.100 kPa);[1]
2 × trục;
công suất 26.500 hp (19.800 kW)
Tốc độ: 35 kn (65 km/h)
Tầm xa: 4.900 nmi (9.070 km; 5.640 mi) ở tốc độ 15 hải lý một giờ (28 km/h; 17 mph)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
122 sĩ quan và thủy thủ
Vũ trang: 4 × pháo 4 in (100 mm)/50 caliber;[1]
1 × pháo 3 in (76 mm)/23 caliber;[1]
12 × ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm) (4×3)[1]

USS Reno (DD-303) là một tàu khu trục lớp Clemson được Hải quân Hoa Kỳ chế tạo vào cuối Chiến tranh Thế giới thứ nhất. Nó là chiếc tàu chiến đầu tiên của Hải quân Hoa Kỳ được đặt theo tên Thiếu tá Hải quân Walter E. Reno (1881-1917), người từng phục vụ trong Thế Chiến I và thiệt mạng do tai nạn va chạm với một tàu vận tải Anh. Reno ngừng hoạt động năm 1930 và bị tháo dỡ năm 1931 nhằm tuân thủ quy định hạn chế vũ trang của Hiệp ước Hải quân London.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Reno được đặt lườn vào ngày 4 tháng 7, 1918 tại xưởng tàu Union Iron Works của hãng Bethlehem Shipbuilding CorporationSan Francisco, California. Nó được hạ thủy vào ngày 22 tháng 1, 1919, được đỡ đầu bởi cô Kathryn Baldwin Anderson, con gái Thống đốc California Alden Anderson[2]; và được đưa ra hoạt động vào ngày 23 tháng 7, 1920. Mẹ của Thiếu tá Reno, bà L. D. Reno ở Eldon, Iowa, được mời đỡ đầu con tàu, nhưng đã từ chối vì lý do sức khỏe. Vợ góa của Thiếu tá Reno, bà Beatrice Tracy Reno, con gái của cựu Trợ lý bộ trưởng hải quân Frank Tracy, cũng từng được cân nhắc là người đỡ đầu cho con tàu.[3]

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Được phân về Hạm đội Thái Bình Dương, Reno hoạt động dọc theo vùng bờ Tây Hoa Kỳ cho đến tháng 1, 1921, khi nó gia nhập các đơn vị khác của hạm đội trong một chuyến đi đến Valparaíso, Chile. Tiếp nối các hoạt động dọc theo vùng bờ Tây sau khi quay trở về, nó hoạt động giữa Washington và khu vực Nam California, thỉnh thoảng có những chuyến đi đến vùng quần đảo Hawaii hay vùng kênh đào Panama. Vào tháng 4, 1927, nó đi sang phía Đông đến tận vịnh Guantánamo, Cuba, và vào tháng 7 năm đó đã có mặt tại Prince Rupert, British Columbia tham dự lễ hội kỷ niệm 75 năm thành lập Canada.

Reno được cho xuất biên chế tại San Diego, California vào ngày 18 tháng 1, 1930. Tên nó được cho rút khỏi danh sách Đăng bạ Hải quân vào ngày 8 tháng 7, 1930 và nó bị tháo dỡ vào năm 1931 nhằm tuân thủ các điều khoản hạn chế vũ trang của Hiệp ước Hải quân London.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c Thomas, Donald I., CAPT USN "Recommissioning Destroyers, 1939 Style" United States Naval Institute Proceedings September 1979 tr. 71
  2. ^ Destroyer Reno Launched Here. Oakland Tribune. Oakland, California. Thursday, 23 January 1919. p. 4
  3. ^ Name a Destroyer Reno. Kansas City Star. Kansas City, Missouri. 8 January 1919. p. 24.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]