USS Billingsley (DD-293)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
USS Billingsley
Tàu khu trục USS Billingsley (DD-293)
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Tên gọi: USS Billingsley (DD-293)
Đặt tên theo: William Billingsley
Hãng đóng tàu: Bethlehem Shipbuilding Corporation, Squantum Victory Yard
Đặt lườn: 8 tháng 9, 1919
Hạ thủy: 10 tháng 12, 1919
Đỡ đầu bởi: cô Irene Billingsley
Nhập biên chế: 1 tháng 3, 1920
Xuất biên chế: 1 tháng 5, 1930
Xóa đăng bạ: 22 tháng 10, 1930
Số phận: Bán để tháo dỡ, 17 tháng 1, 1931
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu khu trục Clemson
Trọng tải choán nước: 1.215 tấn Anh (1.234 t) (tiêu chuẩn)
1.308 tấn Anh (1.329 t) (đầy tải)
Độ dài: 314 ft 5 in (95,83 m)
Sườn ngang: 31 ft 9 in (9,68 m)
Mớn nước: 9 ft 10 in (3,00 m)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hơi nước hộp số Westinghouse;[1]
4 × nồi hơi 300 psi (2.100 kPa);[1]
2 × trục;
công suất 26.500 hp (19.800 kW)
Tốc độ: 35 kn (65 km/h)
Tầm xa: 4.900 nmi (9.070 km; 5.640 mi) ở tốc độ 15 hải lý một giờ (28 km/h; 17 mph)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
122 sĩ quan và thủy thủ
Vũ trang: 4 × pháo 4 in (100 mm)/50 caliber;[1]
1 × pháo 3 in (76 mm)/23 caliber;[1]
12 × ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm) (4×3)[1]

USS Billingsley (DD-293) là một tàu khu trục lớp Clemson được Hải quân Hoa Kỳ chế tạo vào cuối Chiến tranh Thế giới thứ nhất. Nó là chiếc tàu chiến duy nhất của Hải quân Hoa Kỳ được đặt theo tên Thiếu úy Hải quân William Billingsley (1887-1912), một trong những phi công hải quân đầu tiên. Billingsley ngừng hoạt động năm 1930 và bị tháo dỡ năm 1931 nhằm tuân thủ quy định hạn chế vũ trang của Hiệp ước Hải quân London.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Billingsley được đặt lườn vào ngày 8 tháng 9, 1919 tại xưởng tàu Squantum Victory Yard của hãng Bethlehem Shipbuilding CorporationSquantum, Massachusetts. Nó được hạ thủy vào ngày 10 tháng 12, 1919, được đỡ đầu bởi cô Irene Billingsley, em gái Thiếu úy Billingsley; và được đưa ra hoạt động vào ngày 1 tháng 3, 1920 dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Trung tá Hải quân H. D. Cooke.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi đưa vào hoạt động, Billingsley gia nhập Lực lượng Khu trục trực thuộc Hạm đội Đại Tây Dương, và đã hoạt động dọc theo vùng bờ Đông Hoa Kỳ và vùng biển Caribe cho đến mùa Hè năm 1920, khi nó thực hiện các chuyến đi huấn luyện cho nhân sự của Hải quân Dự bị Hoa Kỳ. Được đưa về tình trạng dự bị từ tháng 6, 1922, nó sau đó gia nhập Đội khu trục 26 thuộc Hải đội 9, Lực lượng Khu trục đặt căn cứ tại Philadelphia, Pennsylvania. Nó hoạt động dọc theo vùng bờ biển Đại Tây Dương cho đến tháng 6, 1924 khi Đội khu trục 26 lên đường gia nhập Lực lượng Hải quân Hoa Kỳ tại Châu Âu. Nó tuần tra tại các vùng biển Châu ÂuĐịa Trung Hải trong một năm tiếp theo, trợ giúp người tị nạn tại vùng Cận Đông. Vào mùa Xuân năm 1925, nó phục vụ như cột mốc dẫn đường và liên lạc cho chuyến bay "Vòng quanh thế giới" trong chặng băng qua Bắc Đại Tây Dương của máy bay Lục quân.

Cuối năm đó, Billingsley quay trở về nhà, tiếp nối các hoạt động thường lệ dọc bờ Đông cho đến mùa Hè năm 1929, khi nó lại thực hiện chuyến đi huấn luyện dự bị. Nó đi đến Xưởng hải quân Philadelphia vào tháng 9, 1929, được cho xuất biên chế tại đây vào ngày 1 tháng 5, 1930, và bị bán để tháo dỡ vào ngày 17 tháng 1, 1931.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c Thomas, Donald I., CAPT USN "Recommissioning Destroyers, 1939 Style" United States Naval Institute Proceedings September 1979 tr. 71

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]