USS Abel P. Upshur (DD-193)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
USS Abel Upshur
Tàu khu trục USS Abel P. Upshur (DD-193)
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Tên gọi: USS Abel P. Upshur (DD-193)
Đặt tên theo: Abel Parker Upshur
Hãng đóng tàu: Newport News Shipbuilding & Dry-dock Co.
Đặt lườn: 5 tháng 4, 1918
Hạ thủy: 4 tháng 7, 1918
Nhập biên chế: 19 tháng 7, 1919
Xuất biên chế: 23 tháng 9, 1940
Xóa đăng bạ: 8 tháng 1, 1941
Số phận: Chuyển cho Anh Quốc, 9 tháng 9, 1940
Phục vụ (Anh Quốc)
Tên gọi: HMS Clare
Nhập biên chế: 9 tháng 9, 1940
Số phận: Bán để tháo dỡ, 1945
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu khu trục Clemson
Trọng tải choán nước: 1.215 tấn Anh (1.234 t) (tiêu chuẩn)
1.308 tấn Anh (1.329 t) (đầy tải)
Độ dài: 314 ft 5 in (95,83 m)
Sườn ngang: 31 ft 9 in (9,68 m)
Mớn nước: 9 ft 10 in (3,00 m)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hơi nước hộp số Westinghouse;[1]
4 × nồi hơi 300 psi (2.100 kPa);[1]
2 × trục;
công suất 26.500 hp (19.800 kW)
Tốc độ: 35 kn (65 km/h)
Tầm xa: 4.900 nmi (9.070 km; 5.640 mi) ở tốc độ 15 hải lý một giờ (28 km/h; 17 mph)
Số lượng tàu con
và máy bay mang được:
4 × xuồng đổ bộ LCP
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
122 sĩ quan và thủy thủ
Vũ trang: 4 pháo 4 in (100 mm)/50 caliber;[1]
1 × pháo 3 in (76 mm)/23 caliber;[1]
12 × ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm) (4×3)[1]

USS Abel P. Upshur (DD-193) là một tàu khu trục lớp Clemson được Hải quân Hoa Kỳ chế tạo vào cuối Chiến tranh Thế giới thứ nhất, trong Chiến tranh Thế giới thứ Hai được chuyển cho Hải quân Hoàng gia Anh Quốc như là chiếc HMS Clare cho đến khi chiến tranh kết thúc và bị tháo dỡ năm 1945. Nó là chiếc tàu chiến duy nhất của Hải quân Hoa Kỳ được đặt tên theo Bộ trưởng Hải quân Abel Parker Upshur.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Abel P. Upshur được đặt lườn vào ngày 20 tháng 8, 1918 tại xưởng tàu của hãng Newport News Shipbuilding & Dry Dock CompanyNewport News, Virginia. Nó được hạ thủy vào ngày 14 tháng 2, 1920, được đỡ đầu bởi bà George J. Benson, cháu Bộ trưởng Upshur; và đưa ra hoạt động tại xưởng hải quân Norfolk vào ngày 23 tháng 11, 1920 dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Đại úy Hải quân Vincent H. Godfrey.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

USS Abel P. Upshur[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi nhập biên chế, Abel P. Upshur được phân về Đội khu trục 37 thuộc Hải đội 3, Hạm đội Đại Tây Dương. Nó hoạt động dọc theo vùng bờ Đông Hoa Kỳ, tham gia các cuộc thực tập và cơ động cho đến khi được cho xuất biên chế tại Xưởng hải quân Philadelphia vào ngày 7 tháng 8, 1922. Nó được cho hoạt động trở lại tại Xưởng hải quân Washington vào tháng 3, 1928 như một tàu huấn luyện do nhân sự của Hải quân Dự bị của hạt Columbia, và tiếp tục trong vai trò này cho đến ngày 5 tháng 11, 1930, khi nó được chuyển thuộc dưới quyền Bộ Tài chính Hoa Kỳ. Tên nó được rút khỏi danh sách Đăng bạ Hải quân, và nó phục vụ cùng lực lượng Tuần duyên Hoa Kỳ trong các nỗ lực ngăn chặn buôn lậu rượu vào Hoa Kỳ.

Abel P. Upshur được đưa trở lại sở hữu của Hải quân vào ngày 21 tháng 5, 1934, nhưng tiếp tục bị bỏ không tại Philadelphia cho đến ngày 4 tháng 12, 1939, khi nó được cho nhập biên chế trở lại và gia nhập Hải đội Đại Tây Dương. Nó hoạt động dọc theo vùng bờ Đông trong nhiệm vụ Tuần tra Trung lập. Đến ngày 9 tháng 9, 1940, nó được cho xuất biên chế tại Halifax, Nova Scotia; con tàu được chuyển cho Hải quân Hoàng gia Anh theo Thỏa thuận đổi tàu khu trục lấy căn cứ, theo đó 50 tàu khu trục cũ sẽ trao cho Anh đổi lấy quyền thuê lại trong 99 năm các căn cứ chiến lược tại vùng Tây Bán Cầu. Tên nó một lần nữa được rút khỏi danh sách Đăng bạ Hải quân vào ngày 8 tháng 1, 1941.

HMS Clare[sửa | sửa mã nguồn]

Tàu khu trục HMS Clare

Nhập biên chế cùng Hải quân Anh như là chiếc HMS Clare thuộc lớp Town, nó được phân về Chi hạm đội 1 và đi đến Belfast, Bắc Ireland vào ngày 26 tháng 9, 1940. Nó gia nhập Đội hộ tống 7 và bắt đầu hộ tống các đoàn tàu vận tải vượt Đại Tây Dương. Vào ngày 20 tháng 2, 1941, nó cứu vớt thủy thủ đoàn của chiếc tàu hơi nước Anh Rigmor đang bị chìm, và vào những giờ đầu tiên của ngày 21 tháng 2, nó va chạm với chiếc xuồng máy Petertoum, chịu đựng một số hư hại.

Sau khi được sửa chữa tại Plymouth, Anh từ tháng 3 đến tháng 10, Clare tiếp tục hoạt động cùng Đội hộ tống 41 trực thuộc Bộ chỉ huy Tiếp cận phía Tây. Nó được cải biến để tối ưu cho nhiệm vụ hộ tống vận tải đường dài bằng cách tháo dỡ hai nồi hơi phía trước thay bằng các thùng nhiên liệu bổ sung; điều này giúp gia tăng tầm xa hoạt động nhưng làm giảm tốc độ tối đa xuống còn 25 hải lý một giờ (46 km/h). Ba trong số các khẩu pháo hải pháo 4 inch/50 caliber ban đầu và một dàn ống phóng ngư lôi ba nòng cũng được tháo dỡ để giảm bớt trọng lượng nặng bên trên, lấy chỗ chứa thêm mìn sâu và trang bị một dàn súng cối chống tàu ngầm Hedgehog.[2]

Vào mùa Thu năm 1942, Clare tham gia các cuộc đổ bộ lên Bắc Phi trong khuôn khổ chiến dịch Torch. Nằm trong thành phần Lực lượng Đặc nhiệm Hải quân phía Đông, nó hỗ trợ cho cuộc đổ bộ gần Algiers. Vào ngày 12 tháng 11, 1942, chiếc tàu khu trục đã tấn công một tàu ngầm U-boat Đức tại vùng biển phía Bắc Oran, Algeria, và khai nhận đã đánh chìm tàu đối phương. Nó rời Gibraltar ngày 17 tháng 11, 1942 để quay về Anh tiếp tục nhiệm vụ hộ tống tàu bè vượt đại dương.

Đến tháng 7, 1943, Clare tham gia chiến dịch tấn công chiếm đóng Sicily. Nó vào ụ tàu tại Cardiff, Wales vào tháng 9 năm đó, và quay trở lại hoạt động vào tháng 5, 1944, phục vụ như một tàu mục tiêu để huấn luyện các đội bay thuộc Bộ chỉ huy Tiếp cận phía Tây. Khi chiến tranh kết thúc, nó được đưa về lực lượng dự bị tại Greenock, Scotland vào tháng 8, 1945 và bị tháo dỡ sau đó.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c Thomas, Donald I., CAPT USN "Recommissioning Destroyers, 1939 Style" United States Naval Institute Proceedings September 1979 tr. 71
  2. ^ Lenton 1968, tr. 92–94