USS Crowninshield (DD-134)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
USS Crowninshield (DD-134)
Tàu khu trục USS Crowninshield (DD-134)
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Tên gọi: USS Crowninshield (DD-134)
Hãng đóng tàu: Bath Iron Works, Bath, Maine
Đặt lườn: 5 tháng 11, 1918
Hạ thủy: 24 tháng 7, 1919
Đỡ đầu bởi: cô Emily Crowninshield Davis
Nhập biên chế: 6 tháng 8, 1919
Tái biên chế: 12 tháng 5, 1930
30 tháng 9, 1939
Xuất biên chế: 7 tháng 7, 1922
8 tháng 4, 1937
9 tháng 9, 1940
Xóa đăng bạ: 8 tháng 1, 1941
Số phận: Chuyển cho Anh Quốc, 9 tháng 9, 1940
Phục vụ (Anh Quốc) Royal Navy Ensign
Tên gọi: HMS Chelsea (I35)
Trưng dụng: 9 tháng 9, 1940
Số phận: Chuyển cho Liên Xô, 16 tháng 7, 1944
Phục vụ (Canada) Royal Navy Ensign
Tên gọi: HMCS Chelsea
Trưng dụng: tháng 11, 1942
Số phận: Trả cho Anh Quốc, 26 tháng 12, 1943
Phục vụ (Liên Xô) Naval Ensign of the Soviet Union.svg
Tên gọi: Derzkiy
Trưng dụng: 16 tháng 7, 1944
Số phận: Hoàn trả cho Anh để tháo dỡ, 23 tháng 6, 1949
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu khu trục Wickes
Trọng tải choán nước: 1.154 tấn Anh (1.173 t) (thông thường),
1.247 tấn Anh (1.267 t) (đầy tải)
Độ dài: 314,4 ft (95,83 m)
Sườn ngang: 31 ft (9,45 m)
Mớn nước: 9 ft (2,74 m)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hơi nước hộp số Parsons;[1]
4 × nồi hơi 300 psi (2.100 kPa);[1]
2 × trục;
công suất 24.610 hp (18.350 kW)
Tốc độ: 35,3 kn (65,4 km/h)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
133 sĩ quan và thủy thủ
Vũ trang: 4 × pháo 4 in (100 mm)/50 caliber;[1]
1 × pháo 3 in (76 mm)/23 caliber;[1]
12 × ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm) (4×3)[1]

USS Crowninshield (DD–134) là một tàu khu trục thuộc lớp Wickes được Hải quân Hoa Kỳ chế tạo trong giai đoạn Chiến tranh Thế giới thứ nhất. Nó được chuyển cho Hải quân Hoàng Gia Anh Quốc theo Thỏa thuận đổi tàu khu trục lấy căn cứ vào năm 1940 và đổi tên thành HMS Chelsea (I35); được chuyển trong một thời gian cho Hải quân Hoàng gia Canada; rồi chuyển cho Hải quân Liên Xô và đổi tên thành Derzkiy (tiếng Nga: Дерзкий); được Liên Xô hoàn trả cho Anh và tháo dỡ vào năm 1949. Nó là chiếc tàu chiến duy nhất của Hải quân Hoa Kỳ được đặt tên theo Benjamin Williams Crowninshield (1772–1851), Bộ trưởng Hải quân Hoa Kỳ.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Crowninshield được đặt lườn vào ngày 5 tháng 11, 1918 tại xưởng tàu của hãng Bath Iron WorksBath, Maine. Nó được hạ thủy vào ngày 24 tháng 7, 1919, được đỡ đầu bởi cô Emily Crowninshield Davis cháu năm đời của B. W. Crowninshield, và được đưa ra hoạt động vào ngày 6 tháng 8, 1919 dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Thiếu tá Hải quân R. E. Sampson.[2]

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Trình diện để phục vụ cùng Hạm đội Đại Tây Dương, Crowninshield hoạt động dọc theo bờ biển Đại Tây Dương và vùng biển Caribe, tham gia cuộc tập trung hạm đội để tập trận vào năm 1921 tại vùng kênh đào Panama và vùng biển Cuba. Trong cuộc tập trận, nó đã đưa Bộ trưởng Hải quân Hoa Kỳ Josephus Daniels từ Key West, Florida đến vịnh Guantánamo để thị sát cuộc cơ động. Từ ngày 14 tháng 11, 1921, Crowninshield hoạt động với 50% biên chế cho đến khi được cho xuất biên chế và đưa về lực lượng dự bị tại Philadelphia vào ngày 7 tháng 7, 1922.[2]

Được cho nhập biên chế trở lại vào ngày 12 tháng 5, 1930, Crowninshield đi đến San Diego vào ngày 4 tháng 4, 1931 để gia nhập Lực lượng Chiến trận. Nó tham gia các cuộc tập trận hạm đội và thực hành dọc theo bờ Tây Hoa Kỳ, vùng biển Hawaiibiển Caribe; thực hiện các chuyến đi thực tập đến các cảng CanadaAlaska cho nhân sự của Hải quân Dự bị Hoa Kỳ; và trải qua giai đoạn từ ngày 15 tháng 7 đến ngày 17 tháng 12, 1934 trong lực lượng Dự bị Luân phiên. Nó đã có mặt tại San Diego từ ngày 30 tháng 10 đến ngày 2 tháng 11, 1935, nhân dịp Duyệt binh Tổng thống Hạm đội, cùng tham gia lễ khánh thành cầu qua vịnh Oakland - San Francisco vào tháng 11, 1936. Crowninshield lại được cho xuất biên chế tại San Diego vào ngày 8 tháng 4, 1937.[2]

Được cho nhập biên chế trở lại vào ngày 30 tháng 9, 1939, Crowninshield khởi hành từ Xưởng hải quân Mare Island vào ngày 25 tháng 11, và đi đến vịnh Guantánamo, Cuba vào ngày 10 tháng 12 để làm nhiệm vụ Tuần tra Trung lập tại vùng biển Caribe và vịnh Mexico. Vào ngày 9 tháng 9, 1940, nó được cho xuất biên chế tại Halifax, Nova Scotia và được chuyển giao cho Anh Quốc theo Thỏa thận đổi tàu khu trục lấy căn cứ. Nó nhập biên chế cùng Hải quân Hoàng gia Anh như là chiếc HMS Chelsea cùng ngày hôm đó.[2]

Chelsea đi đến Devonport, Anh, vào ngày 28 tháng 9, 1940; rồi được phân về Đội hộ tống 6 thuộc Bộ chỉ huy Tiếp cận phía Tây đặt căn cứ tại Liverpool, làm nhiệm vụ hộ tống các đoàn tàu vận tải vượt Đại Tây Dương chống các cuộc tấn công của tàu ngầm U-boat Đức cũng như các cuộc không kích. Vào ngày 6 tháng 4, 1941, nó vớt 29 người sống sót từ chiếc SS Olga S. vốn bị đánh chìm bởi không kích của đối phương.[2] Chelsea được cải biến tối ưu cho nhiệm vụ hộ tống tàu buôn bằng cách tháo dỡ ba trong số các khẩu pháo 4 in (100 mm)/50 caliber và một trong số các dàn ống phóng ngư lôi ba nòng để giảm bớt trọng lượng bên trên, lấy chỗ chứa thêm mìn sâu và trang bị một dàn hedgehog (súng cối chống tàu ngầm).[3]

Chelsea tham gia cùng chiếc tàu corvette Arbutus vào ngày 5 tháng 2, 1942 trong việc săn đuổi một tàu ngầm đối phương bị đoàn tàu vận tải phát hiện. Hai giờ sau, Arbutus trúng phải ngư lôi phóng từ tàu ngầm U-136. Chelsea đã nổ súng nhắm vào tàu ngầm nổi trên mặt nước, rồi thực hiện ba lượt tấn công bằng mìn sâu sau khi đối thủ lặn xuống, nhưng bị mất dấu đối phương, nên nó quay trở lại để vớt những người sống sót của chiếc Arbutus.[2]

Đến tháng 11, 1942, Chelsea được chuyển cho Hải quân Hoàng gia Canada mượn, và cho đến cuối năm 1943 đã hoạt động tại khu vực Trung tâm và Tây Đại Tây Dương, hộ tống các đoàn tàu vận tải đi và đến từ Anh Quốc. Nó quay trở lại Derry, Bắc Ireland vào ngày 26 tháng 12, 1943, và đến đầu năm 1944 được đưa về lực lượng dự bị tại Tyne. Vào ngày 16 tháng 7, 1944, nó được chuyển cho Liên Xô và đổi tên thành Derzkiy[2] (tiếng Nga: Дерзкий).

Derzkiy được hoàn trả cho Anh vào ngày 23 tháng 6, 1949, và được tháo dỡ sau đó.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c Thomas, Donald I., CAPT USN "Recommissioning Destroyers, 1939 Style" United States Naval Institute Proceedings September 1979 tr. 71
  2. ^ a ă â b c d đ United States Naval Historical Center. Dictionary of American Naval Fighting Ships. Crowninshield.
  3. ^ Lenton 1968, tr. 90

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]