Bình đẳng giới

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Bình đẳng nam nữ)
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Biểu tượng của bình đẳng giới: mũi tên hướng lên là biểu tượng cho nam giới, dấu cộng hướng xuống là biểu tượng cho nữ giới, dấu bằng là biểu tượng cho sự bình đẳng

Giới là khái niệm để chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong các mối quan hệ xã hội. Khái niệm bình đẳng giới ngụ ý rằng nam giớinữ giới cần nhận được những đối xử công bằng trong tất cả các khía cạnh của đời sống kinh tế - xã hội và quyền con người như: giáo dục, y tế, văn hóa, hôn nhân, gia đình, việc làm, các chính sách phúc lợi... Đây là một chiến lược được Liên Hiệp quốc theo đuổi trong việc xây dựng, thực hiện, giám sát và đánh giá các chính sách để đạt mục tiêu cuối cùng là nữ giới và nam giới được bình đẳng với nhau về pháp lý[1].

Khái niệm này dựa trên Tuyên bố Liên Hiệp Quốc về Nhân quyền, với mục tiêu cơ bản là nhằm cung cấp sự bình đẳng về mặt luật pháp cũng như bình đẳng trong vị thế xã hội, quyền bình đẳng trước pháp luật, đặc biệt là trong hoạt động bầu cử và bảo đảm trả lương công bằng giữa nam giới và nữ giới. Một ví dụ điển hình là Tu chính án Quyền Bình đẳng ở Hoa Kỳ ghi nhận quyền bình đẳng giữa công dân nam và công dân nữ.

Điều 26 Hiến pháp Việt Nam năm 2013 quy định "Công dân nam, nữ bình đẳng về mọi mặt. Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới". Căn cứ theo Hiến pháp, Điều 5 Luật Bình đẳng giới tại Việt Nam quy định "Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó", và Điều 6 quy định "1. Nam, nữ bình đẳng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình; 2. Nam, nữ không bị phân biệt đối xử về giới".

Ở loài người chỉ tồn tại 2 kiểu giới tính: Nam giớinữ giới, ngoài ra không tồn tại giới tính nào khác. Một số báo chí còn dùng khái niệm "giới tính thứ ba" để chỉ người đồng tính hoặc chuyển giới, một số ý kiến còn đề nghị đưa kiểu "giới tính thứ ba" này vào luật (bên cạnh nam giới và nữ giới), nhưng thực ra ý kiến này là sai về bản chất khoa họcpháp lý. Người đồng tính hoặc chuyển giới thực ra vẫn là Nam giới hoặc Nữ giới chứ không phải là 1 giới tính riêng (họ khác người thường do vấn đề về tâm lý chứ không phải về thể chất giới tính), theo đó giới tính trên giấy tờ tùy thân của họ cũng ghi là "Nam giới" hoặc "Nữ giới" như những người khác. Do đó, vấn đề bình đẳng giới cũng chính là "bình đẳng nam - nữ" và luật pháp không cần bổ sung kiểu giới tính nào khác về vấn đề này (còn "giới tính thứ ba" thì chỉ là cách gọi cho dễ hiểu trên báo chí, chứ về mặt khoa học và pháp luật thì không hề tồn tại kiểu "giới tính thứ ba" này).

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ United Nations. Report of the Economic and Social Council for 1997. A/52/3.ngày 18 tháng 9 năm 1997, at 28: "Mainstreaming a gender perspective is the process of assessing the implications for women and men of any planned action, including legislation, policies or programmes, in all areas and at all levels. It is a strategy for making women's as well as men's concerns and experiences an integral dimension of the design, implementation, monitoring and evaluation of policies and programmes in all political, economic and societal spheres so that women and men benefit equally and inequality is not perpetuated. The ultimate goal is to achieve gender equality."

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]