Jeon Boram

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Boram)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đây là một tên người Triều Tiên, họ là Jeon.
Jeon Boram
전보람
150110 Boram in Vietnamese.jpg
Boram biểu diễn vào ngày 10 tháng 1 năm 2015 tại mini-show ở Việt Nam
Thông tin nghệ sĩ
Tên khai sinh Jeon Boram (전보람)
Nghệ danh Boram (보람)
Sinh 22 tháng 3, 1986 (30 tuổi)
Seoul,  Hàn Quốc
Nghề nghiệp
Thể loại
Nhạc cụ Hát
Năm hoạt động 2009 (2009)–nay
Hãng đĩa MBK Entertainment
Hợp tác với T-ara, QBS
Website mbk-ent.com/main_tara
Jeon Boram
Hangul 전보람
Hanja 全寶藍
Romaja quốc ngữ Jeon Bo-ram
McCune–Reischauer Chŏn Po-ram
Hán-Việt Toàn Bảo Lam
Hangugeo-Chosonmal.png
Bài viết này có chứa các ký tự tiếng Hàn. Nếu không được hỗ trợ hiển thị đúng, bạn có thể sẽ nhìn thấy các ký hiệu chấm hỏi, ô vuông, hoặc ký hiệu lạ khác thay vì các ký tự Chosŏn'gŭl hay Hanja.

Jeon Boram (tiếng Hàn: 전보람; tiếng Nhật: チョン・ボラム; tiếng Trung: 全寶藍; sinh ngày 22 tháng 3 năm 1986) thường được biết đến với nghệ danh Boram, là một nữ ca sĩ, diễn viên người Hàn Quốc. Cô là thành viên của nhóm nhạc nữ Hàn Quốc T-ara và cũng là chị cả của nhóm.[1]

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Boram sinh ra tại Seoul, Hàn Quốc. Cha cô là Jeon Young Rok, một ca sĩ nổi tiếng ở Hàn Quốc trong những năm 70 và 80.[2] Còn mẹ là nữ diễn viên gạo cội Lee Mi Young. Boram là nghệ sĩ thế hệ thứ 3 trong gia đình tại Hàn Quốc như ông nội Hwang Hae và bà ngoại Baek Sul Hee của cô, cả hai đều là ca sĩ nổi tiếng.[3][4] Boram có một em gái là Wooram, hiện là thành viên của nhóm nhạc D-Unit.[5][6][7]

Boram tốt nghiệp Đại học Myungji, ngành Nghiên cứu Nghệ thuật cùng với thành viên Qri.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

2002ㅡ2009: Bắt đầu sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Boram ra mắt lần đầu trong bộ phim Người tình tổng thống với vai trò khách mời vào năm 2002.

Boram phát hành một album với hai đĩa đơn đầu tay của cô trước khi vào T-ara. "From Memory"[8] được phát hành vào tháng 11 năm 2008 và "Lucifer Project Vol 1 爱" được phát hành vào tháng 4 năm 2008.[9]

2009ㅡnay: T-ara[sửa | sửa mã nguồn]

Boram tại So Crazy Comeback Showcase, 3 tháng 8 năm 2015

Boram là thành viên đầu tiên được thêm vào sau khi hai cựu thành viên T-ara Jiae và Jiwon rời nhóm vào giữa năm 2009.[10] T-ara là nhóm nhạc có nhiều vũ đạo sáng tạo, độc đáo và được biết đến qua các hit như "Bo Peep Bo Peep", "Roly Poly", "Cry Cry", "Lovey Dovey", "Day By Day", "Sexy Love", "Number 9", "Sugar Free", "Little Apple".[11][12][13][14][15][16][17][18] T-ara được xem là nhóm nhạc nữ K-pop nổi tiếng nhất tại Trung Quốc.[19][20] Giám đốc điều hành của Core Contents Media đã liên lạc với Boram sau khi xem một video clip cô nhảy My Name.

Vào ngày 15 tháng 7 năm 2010, Core Contents Media thông báo Boram đảm nhận vị trí là trưởng nhóm thứ hai thay cho Eunjung trong lần ra mắt đĩa mở rộng Temptastic, sau việc bổ sung thành viên mới Hwayoung.[21][22] Boram thông qua để thành viên Hyomin đảm nhiệm vị trí trưởng nhóm trong tháng 7 năm 2011.[23]

2013ㅡnay: QBS[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 3 năm 2013, Boram thể hiện ca khúc solo tiếng Nhật "Maybe Maybe" và "Soap Bubbles" (song ca cùng Qri) - hai phiên bản của "Bunny Style!". Tháng 6 năm 2013, Boram cùng Qri và So-yeon cho ra mắt nhóm nhỏ QBS với đĩa đơn đầu tay "Like The Wind".[24][25]

2009ㅡnay: Diễn xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2009, Boram vào vai Shin So Yi trong bộ phim Sould của kênh MBC.

Năm 2010, Boram được chọn vào vai một thiếu nữ đáng yêu ở tuổi 19 cùng nữ diễn viên Jeon Hye-bin và nam diễn viên Jung Sung Hwa trong bộ phim một tập của KBS là Purple Heeled Grim Reaper is Coming.[26] Sau đó, cô xuất hiện với vai trò khách mời cùng với các thành viên khác của T-ara trên bộ phim truyền hình Cao thủ học đường năm 2010 do Jiyeon thủ vai chính.[27]

Tháng 12 năm 2010, cô đã tham gia vào một vở nhạc kịch mang tên I Really Really Like You với cha cô, trong đó thành viên Hyomin giữ vai trò sản xuất âm nhạc.[28]

Năm 2012, Boram cùng Soyeon tham gia bộ phim có tên Crown Princess Project của đài KBS.

Năm 2014, Boram được chọn là nữ diễn viên chính trong The Lost Garden cùng với nam chính Kim Tae Woo. Vở nhạc kịch sẽ được công chiếu vào ngày 17 tháng 1, Boram cũng được góp giọng vào hai ca khúc là "Wondrous Dream" và "The Lost Garden".[29]

Năm 2015, Boram trở lại màn ảnh diễn xuất qua Sweet Temptation Episode 5: Recipe Of Love trong vai Youn Hee.[30] Nhạc phim cho web-drama này là ca khúc "Moment" của Davichi.[31]

Phim[sửa | sửa mã nguồn]

Phim truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Kênh Phim Vai trò
2009 MBC Soul Shin So Yi
2010 KBS2 Cao thủ học đường Khách mời
KBS Purple Heeled Grim Reaper Is Coming Ami
2012 KBS Crown Princess Project

Phim điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Phim Vai trò
2002 Người tình tổng thống Khách mời
2010 Death Bell 2: Bloody Camp Khách mời
2011 Gisaeng Ghost Khách mời
2015 Recipe Of Love Wed drama

Đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Album Ca khúc Ghi chú
2008 "Lucifer Project Vol 1" Hát đơn
"From Memory" Hát đơn
2009 Absolute First Album "TTL Listen 2" Cả T-araSupernova
2013 "Bunny Style!" "Maybe Maybe" Hát đơn
"Soap Bubbles" Cùng Qri
"Like The Wind" (QBS) Cùng QriSoyeon

Ca khúc hợp tác[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Ca khúc Ghi chú
2007 "Feeling You" Cùng Kebee
2010 "Tik Tok Cass Bess CF" Cùng 2PM
2015 "Moment" Cùng Davichi

Sân khấu ca nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tiêu đề Ghi chú
2014 The Lost Garden Musical Cùng Mercy

Chương trình tham gia[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Show Kênh
2009 Radio Star MBC
Star King SBS
2010 Star Golden Bell KBS
Taxi tvN
You Hee-yeol's Sketchbook KBS
Dream Girls Mnet
Hello Baby KBS
Bouquet MBC
2011 Star King SBS
Win Win KBS2
Challenge 1000 Songs
1 vs 100 KBS
2012 Weekly Idol MBC
Naughty Boys JTBC
2013 SimSimTaPa MBC
Hello Counselor
2014 Moon Hee-Jun Pure 15+ Mnet
2015 A Song For You 4 KBS2
Idol Star Athletic Championship 2015 MBC

Hình ảnh khác[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Kata, Redaksi Lingua. K10; The Best 10 Korean Boy Band & Girl Band. Lingua Kata. Truy cập 15 tháng 5 năm 2016. 
  2. ^ 전영록 딸 전보람, 티아라 새 멤버 합류! ‘가수 3대 집안’ (T-ara gets a new member) (bằng tiếng Hàn). Newsen. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2009.
  3. ^ “원로가수 백설희 별세”. Daum 뉴스. Truy cập 15 tháng 8 năm 2016. 
  4. ^ “‘별세’ 故백설희, 원로배우 故황해 아내..원조 스타부부 5년간격 ‘운명’”. Daum 연예. Truy cập 15 tháng 8 năm 2016. 
  5. ^ Lee, Hyo-won (ngày 5 tháng 5 năm 2010). “Veteran singer Baek Seol-hee dies”. The Korea Times. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2015. 
  6. ^ “Lee Mi Young and Boram, "Let everyone all be happy and follow their dreams". Daily K Pop News. Ngày 20 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2015. 
  7. ^ Elliefilet (2 tháng 5 năm 2016). “Sisters T-ara's Boram and D-Unit's Ram to star on family reality show” (bằng tiếng Anh). Allkpop. Truy cập 1 tháng 6 năm 2016. 
  8. ^ “Music: From Memory (CD) by Jeon BoRam”. Tower.com. Truy cập 15 tháng 8 năm 2016. 
  9. ^ “Jeon BoRam”. Truy cập 15 tháng 8 năm 2016. 
  10. ^ “Behind-the-stories of K-pop girl bands” (bằng tiếng Anh). The Korea Times. 23 tháng 2 năm 2016. Truy cập 16 tháng 5 năm 2016. 
  11. ^ Mark, Russell. K-Pop Now!: The Korean Music Revolution. Tuttle. Truy cập 15 tháng 5 năm 2016. 
  12. ^ jbarky (17 tháng 7 năm 2012). “T-ara to Do a Pantomime Robot Dance for “Sexy Love”” (bằng tiếng Anh). Soompi. Truy cập 25 tháng 3 năm 2016. 
  13. ^ Phương Thảo (31 tháng 10 năm 2013). “Các MV đậm chất kinh dị xứ Hàn”. Zing News. Truy cập 25 tháng 3 năm 2016. 
  14. ^ Thu Trang (2 tháng 8 năm 2012). “5 bản hit làm nên tên tuổi T-ara”. VnExpress. Truy cập 23 tháng 3 năm 2016. 
  15. ^ An Bình (3 tháng 1 năm 2012). “T-ara tung hàng khủng Lovey Dovey đầy ám ảnh”. VnExpress. Truy cập 18 tháng 5 năm 2016. 
  16. ^ Hong, Grace Danbi (ngày 11 tháng 9 năm 2014). “T-ara Hits the Clubs for ‘Sugar Free’ with Two MVs”. CJ E&M enewsWorld (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2015. 
  17. ^ Lee Sung-eun (11 tháng 9 năm 2014). “T-ara unveils ‘Sugar Free’ vid” (bằng tiếng Anh). Korea JoongAng Daily. Truy cập 21 tháng 5 năm 2016. 
  18. ^ Phúc Chi (24 tháng 11 năm 2014). “T-ara làm mới ca khúc Hoa ngữ đình đám”. Zing News. Truy cập 22 tháng 5 năm 2016. 
  19. ^ “T-ara's China debut becoming a hot issue” (bằng tiếng Hàn). Korea Economic Daily (The Star News). Truy cập 6 tháng 6 năm 2016. 
  20. ^ “A detailed analysis of T-ara's immense popularity in China” (bằng tiếng Hàn). JoongAng Ilbo. 17 tháng 8 năm 2015. Truy cập 6 tháng 6 năm 2016. 
  21. ^ '7인조' 티아라 리더, 은정에서 보람으로 (bằng tiếng Hàn). Starnews. ngày 16 tháng 7 năm 2010.
  22. ^ “T-ara then began their promotions alongside with their new member, Hwayoung and the new leader Boram” (bằng tiếng Anh). Kpop Music. 23 tháng 1 năm 2016. Truy cập 23 tháng 1 năm 2016. 
  23. ^ Kwon, Su Bin 보람→효민 리더교체 "모든 멤버에게 기회줄 것 (bằng tiếng Hàn). Nate. Truy cập 16 tháng 5 năm 2016
  24. ^ “ナタリー - T-ARA内新ユニット「QBS」にキュリ、ボラム、ソヨン”. Natalie (bằng tiếng Nhật). Natasha, Inc. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2013. 
  25. ^ “T-ARA内新ユニット「QBS」にキュリ、ボラム、ソヨン” [T-ara new sub unit, QBS with Qri, Boram and Soyeon.]. Natalie (bằng tiếng Nhật). Ngày 17 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2013. 
  26. ^ “T-ara: Những cô nàng đa-zi-năng nhất nhì làng giải trí Hàn”. Tiin. 20 tháng 3 năm 2013. Truy cập 16 tháng 5 năm 2016. 
  27. ^ “티아라 불량소녀 변신 ‘공부의 신’ 특별 출연” (bằng tiếng Hàn). Newsen. 10 tháng 1 năm 2010. Truy cập 7 tháng 6 năm 2016. 
  28. ^ Na, Jiyeon '티아라' 보람, 뮤지컬 데뷔..."아버지 전영록과 동반 출연" (bằng tiếng Hàn). Sports Seoul. Truy cập 1 tháng 6 năm 2016
  29. ^ “T-ara's Boram to play lead role in The Lost Garden” (bằng tiếng Anh). Daily K-pop News. Truy cập 16 tháng 5 năm 2016. 
  30. ^ “T-ara 出席港電視啟動儀式” (bằng tiếng Trung). KPOPN. 8 tháng 6 năm 2015. Truy cập 21 tháng 3 năm 2015. 
  31. ^ thewesterngirl (4 tháng 11 năm 2015). “Davichi are all about this 'Moment' in new MV starring T-ara's Boram” (bằng tiếng Anh). Allkpop. Truy cập 16 tháng 5 năm 2016. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]