Cái Nước

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Huyện Cái Nước
Huyện
Ban+do+hanh+chinh+Cai+Nuoc.jpg
Bản đồ hành chính huyện Cái Nước.
Địa lý
Diện tích 417.09 km
Dân số (2009)  
 Tổng cộng 137.396 người
Dân tộc Kinh,...
Hành chính
Quốc gia Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Việt Nam
Vùng Đồng bằng sông Cửu Long
Tỉnh Cà Mau
Huyện lỵ Thị trấn Cái Nước
Thành lập 1978
Website Trang chính thức

Huyện Cái Nước nằm ở vị trí trung tâm của tỉnh Cà Mau, kết nối thành phố Cà Mau với các huyện phía Nam, thuộc vùng kinh tế nội địa của tỉnh (là huyện không tiếp giáp với bờ biển).

Diện tích tự nhiên của huyện 41.709 ha, bằng 7,83% diện tích tự nhiên của tỉnh Cà Mau, dân số thời điểm 1/4/2009 là 137.396 người (số liệu tổng điều tra dân số, nhà ở), chiếm 11,35% dân số của tỉnh. Cái Nước có vườn chim Chà Là nổi tiếng, khu di tích căn cứ tỉnh ủy Lung Lá Nhà Thể, đặc biệt là đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh tại thị trấn Cái Nước được công nhận là di tích cấp tỉnh của Cà Mau. Cũng giống như các địa phương khác trên bán đảo Cà Mau, địa hình của huyện là vùng đồng bằng, do đó kinh tế chủ yếu là nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là nuôi tôm sútôm càng xanh, bên cạnh đó rất nhiều hộ dân nuôi cá chính và cá bống tượng cũng đạt hiệu quả kinh tế cao.

Vị trí địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Chợ Cái Nước

Huyện Cái Nước giáp các huyện Đầm DơiNăm Căn về phía Đông và phía Nam (được chia ranh giới với hai huyện này bằng sông Bảy Háp, giáp thành phố Cà Mau về phía Đông Bắc, giáp huyện Trần Văn Thời về phía Tây Bắc và giáp huyện Phú Tân về phía Tây.

Lợi thế về vị trí địa lý kinh tế nổi bật của huyện Cái Nước là huyện có vị trí trung tâm, nằm trên 2 trục giao thông chính của tỉnh Cà Mau (tuyến quốc lộ 1A Cà Mau – Năm Căn dài nhất tỉnh, tuyến đường liên huyện Vàm Đình – Cái Nước – Đầm Dơi). Vì vậy có điều kiện phát triển nhanh, nhất là về dịch vụ. Trong đó, trục giao thông Bắc – Nam là tuyến Quốc lộ 1A chạy từ Thành phố Cà Mau đến thị trấn Năm Căn (1 đoạn của tuyến đường Hồ Chí Minh và đây cũng là tuyến đường Hành lang ven biển phía Nam của Tiểu vùng kinh tế MêKông mở rộng (Hà Tiên – Cà Mau – Năm Căn). Các cầu trên tuyến đường này đã được đầu tư xây dựng (cầu Đầm Cùng cũng sẽ hoàn thành vào năm 2011). Đây là tuyến liên kết phát triển các trung tâm kinh tế đô thị Cà Mau, Năm Căn (đang chủ trương xây dựng thành khu kinh tế Năm Căn).

Trục giao thông Đông – Tây là tuyến đường Cái Đôi Vàm – Vàm Đình – Cái Nước – Đầm Dơi, ngoài ra từ huyện còn có tuyến đường Rau Dừa – Rạch Ráng (huyện Trần Văn Thời).

Như vậy huyện Cái Nước được kết nối với các huyện tiếp giáp bằng các tuyến đường quốc lộ, tuyến đường tỉnh là một thuận lợi cơ bản để giao lưu kinh tế xã hội, lan tỏa phát triển.

Các xã phía bắc của huyện, tiếp giáp với thành phố Cà Mau nên sẽ là vùng tiếp nhận sự lan tỏa các yếu tố phát triển từ thành phố Cà Mau khá nhanh, nhất là dọc theo tuyến Quốc lộ 1A từ cầu Lương Thế Trân đến Rau Dừa. Tuy nhiên, cũng cần chú ý đến những vấn đề phát sinh của những vùng ven đô, đây là những vùng có thể chịu tác động mạnh do sự phát triển tự phát nếu không được quản lý chặt chẽ về quy hoạch phát triển.

Theo quy hoạch phát triển các khu công nghiệp của tỉnh Cà Mau được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, ở phía bắc của huyện Cái Nước có Khu công nghiệp Hòa Trung (nằm ở địa bàn xã Lương Thế Trân huyện Cái Nước và xã Lý Văn Lâm của thành phố Cà Mau) đã được thành lập và cho triển khai đầu tư giai đoạn I (quy mô toàn khu là 352 ha, giai đoạn I là 130,67 ha, trong đó thuộc địa bàn huyện Cái Nước là 136 ha, giai đoạn I là 58 ha). Đây là khu công nghiệp chế biến thủy sản tập trung, có sức thu hút đầu tư mạnh vì thuận lợi cả giao thông thủy và giao thông đường bộ), là điều kiện rất quan trọng để tăng trưởng và chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế trên địa bàn huyện.

Điều kiện tự nhiên[sửa | sửa mã nguồn]

Khí hậu thủy văn:[sửa | sửa mã nguồn]

Khí hậu thời tiết huyện Cái Nước cũng như của toàn tỉnh Cà Mau, mang đặc trưng khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, có nhiệt độ cao quanh năm, nhiệt độ trung bình 26,90C. Nhiệt độ trung bình cao nhất trong năm là vào tháng 4, khoảng 27,60C, nhiệt độ trung bình thấp nhất vào tháng Giêng, khoảng 250C.

Trong năm, thời tiết phân làm 2 mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau.

Đặc điểm thời tiết phân chia theo mùa có tác động nhiều đến sản xuất và đời sống: Mùa khô thuận tiện cho nuôi tôm nước lợ, xây dựng giao thông và các công trình dân dụng, các hoạt động thể thao, văn hóa thông tin thuận lợi. Mùa mưa, lượng mưa cao, thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp (đặc biệt là trồng một vụ lúa luân canh trên đất nuôi tôm). Sau khi chuyển đổi cơ cấu sản xuất ngư nông nghiệp, chế độ mưa càng trở thành yếu tố chi phối đối với sản xuất nông nghiệp. Trong mùa mưa vẫn có những đợt hạn, đây là yếu tố tác động mạnh nhất đối với diện tích lúa trên đất nuôi tôm, nhất là trong điều kiện chưa khép kín được thủy lợi giữ ngọt trong thời vụ trồng lúa, không có nước ngọt tưới bổ sung.

Về thủy văn, mặc dù không tiếp giáp với bờ biển, nhưng địa bàn huyện Cái Nước chịu tác động của cả chế độ thủy triều biển Đông và Vịnh Thái Lan. Trong đó triều biển Đông truyền vào qua sông Gành Hào, sông Bảy Háp, kênh Tắc Năm Căn… triều vịnh Thái Lan truyền vào theo cửa sông Bảy Háp, cửa Mỹ Bình… Biên độ triều các sông chịu ảnh hưởng triều biển Đông lớn hơn biên độ triều Vịnh Thái Lan, vì vậy biên độ triều trên các sông có xu hướng giảm dần từ Tây sang Đông. Do chịu sự tác động của cả hai chế độ triều biển nên chế độ dòng chảy của các sông, kênh rạch ở huyện Cái Nước khá phức tạp, hình thành nhiều khu vực giao hội nước (hay còn gọi là những “giáp nước”) ở các sông lớn và các khu vực nội đồng, ảnh hưởng đến khả năng cấp thoát nước ở một số vùng, ở các khu vực này thường là nơi tồn đọng rác, chất thải có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường.

Độ mặn nước sông biến đổi theo mùa, mùa khô nước các sông có độ mặn cao hơn, trong mùa khô độ mặn nước sông từ 22%o đến 32%o. Sang mùa mưa độ mặn nước sông giảm đi, nhưng do không có hệ thống cống ngăn mặn giữ ngọt nên ngay trong mùa mưa, sau những ngày không có mưa thì nước sông, kênh rạch đều có độ mặn cao (trên dưới 10%o). Như vậy chế độ mưa, chế độ thủy văn (độ mặn nước sông) là yếu tố chi phối nhiều đến quá trình thực hiện chuyển đổi sản xuất ở huyện Cái Nước.

Trong tình trạng biến đổi khí hậu toàn cầu, thời tiết diễn biến ngày càng phức tạp, tình trạng nắng hạn, dông, lốc xoáy, áp thấp nhiệt đới xảy ra nhiều hơn đã ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống. Mặc dù không tiếp giáp với bờ biển, nhưng huyện Cái Nước cũng chịu tác động do nước biển dâng, các đợt triều cường ở các sông thường gây ra tràn mặn vào diện tích sản xuất nông nghiệp (vụ lúa).

Theo kịch bản Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố về biến đổi khí hậu, nước biển dâng ở nước ta là một trong những thách thức phát triển rất lớn, có tác động nghiêm trọng đến sản xuất, đời sống và môi trường, gây ngập lụt, gây nhiễm mặn nguồn nước, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp, gây rủi ro lớn đối với công nghiệp và các hệ thống kinh tế - xã hội trong tương lai. Theo đánh giá trong 50 năm qua, nhiệt độ trung bình năm đã tăng khoảng 0,5-0,7 0C, mực nước biển đã dâng khoảng 20 cm (khoảng 3mm/năm), thiên tai, bão lũ, hạn hán ngày càng ác liệt, diễn biến khác thường hơn.

Theo các kịch bản, dự báo đến năm 2020 - 2030 nhiệt độ trung bình năm ở các tỉnh phía Nam sẽ tăng 0,4 – 0,60C (dự báo cuối thế kỷ 21 nhiệt độ ở nước ta có thể tăng 2,30C); lượng mưa tăng 0,3 - 0,4% (cuối thế kỷ 21 lượng mưa tăng khoảng 5%); vào giữa thế kỷ 21 mực nước biển có thể dâng thêm khoảng 30 cm và đến cuối thế kỷ 21 mực nước biển dâng thêm khoảng 75 cm so với thời kỳ 1980-1999. Vùng đồng bằng sông Cửu Long (trong đó có huyện Cái Nước) là vùng chịu ảnh hưởng nặng nhất. Theo kịch bản này, khi mực nước biển dâng 65 cm thì 12,8% diện tích vùng đồng bằng sông Cửu Long sẽ bị ngập (5.133 km2), nếu mực nước biển dâng 75 cm thì diện tích bị ngập chiếm tới 19% diện tích toàn vùng (7.580 km2); nếu mực nước biển dâng 100 cm thì diện tích bị ngập chiếm 37,8% toàn vùng đồng bằng sông Cửu  Long.

Đây là những thách thức rất lớn về điều kiện tự nhiên đối với khả năng ứng phó và phát triển của quốc gia, mỗi địa phương. So với các huyện khác của tỉnh Cà Mau, mặc dù không nằm tiếp giáp với bờ biển, nhưng tác động của quá trình biến đổi khí hậu, nước biển dâng cũng sẽ có tác động lớn đến huyện Cái Nước. Trong quy hoạch phát triển của huyện cũng phải quan tâm đến những thách thức này, nhất là đối với các công trình hạ tầng, hệ thống đê sông.

Nguồn nước[sửa | sửa mã nguồn]

Đánh giá nguồn và khả năng sử dụng một số nguồn nước chủ yếu của huyện Cái Nước như sau:

  • Nước mưa: là nguồn nước chủ yếu cung cấp cho cây trồng và một phần cho sinh hoạt. Để sản xuất được một vụ lúa trên đất nuôi tôm ở huyện Cái Nước (và cũng như các nơi khác trong tỉnh Cà Mau) thì nguồn nước mưa vẫn là nguồn nước duy nhất, phải có biện pháp thủy lợi ngăn mặn, giữ ngọt tại chỗ trong mùa mưa một cách phù hợp.
  • Nước sông rạch (nguồn nước mặt): trong mùa mưa độ mặn nước sông giảm nhanh, nhưng sau khi chuyển đổi sản xuất không còn các cống ngăn mặn nên những ngày không có mưa độ mặn nước sông lại tăng cao rất nhanh.

Khi chuyển đổi sang nuôi tôm và nuôi tôm kết hợp trồng lúa, nguồn nước mặn là nguồn nước phục vụ cho nuôi tôm, nhưng mâu thuẫn với yêu cầu sản xuất luân canh một vụ lúa, vì vậy nếu không tổ chức quản lý tốt mùa vụ (nuôi tôm – trồng lúa) và không có hệ thống thủy lợi khép kín các tiểu vùng thì sản xuất lúa – tôm không đạt hiệu quả.

  • Nước ngầm: nước ngầm ở tỉnh Cà Mau cũng như ở khu vực huyện Cái Nước có chất lượng tốt, cơ bản không bị nhiễm mặn, thuộc nhóm nước mềm, có hàm lượng kim loại nặng thấp và chưa bị ô nhiễm (theo tiêu chuẩn VN 1995), trừ một số giếng bị nhiễm mặn do thâm nhập từ đường ống bị hở, song phần lớn ở các giếng nước có mùi bùn, một số mẫu nước bị ô nhiễm nhẹ khoáng hóa (độ khoáng hóa 1g/l), hàm lượng sắt trong nước cao (0,5 mg/l) nên nước có tính chất phèn, tuy nhiên mức bị ô nhiễm sắt thấp (theo tiêu chuẩn là 0,33 mg/l).

Nước ngầm là tài nguyên quý hiếm, vì vậy quá trình khai thác sử dụng phải được quản lý chặt chẽ, tránh các hiện tượng gây ô nhiễm và lãng phí nguồn nước ngầm. Dự báo đến năm 2020 nhu cầu khai thác sử dụng nước ngầm tăng cao, vì vậy đối với các khu đô thị, dân cư tập trung cần khai thác tổng hợp 2 – 3 tầng nước nhằm hạn chế sự thay đổi các tầng nước ngầm.

Đất đai[sửa | sửa mã nguồn]

Địa hình của huyện Cái Nước bằng phẳng, có xu hướng thấp dần từ phía Bắc xuống phía Nam, cao trình trung bình 0,5 – 0,7m so với mặt nước biển, trừ những liếp vườn trồng dừa, trồng cây ăn trái có độ cao từ 1,2 –1,5m. Mặc dù không phải là huyện ven biển, nhưng địa hình của huyện Cái Nước cũng bị chia cắt rất nhiều bởi hệ thống sông, kênh rạch.

Về địa chất: đất đai của huyện hình thành từ trầm tích đầm lầy ven biển, vì vậy nhìn chung nền đất yếu, nhất là tầng đất mặt, đây là yếu tố dẫn đến suất đầu tư cao do chi phí xử lý nền móng công trình.

Về thổ nhưỡng, theo chú giải bản đồ đất tỷ lệ 1/25.000 của huyện Cái Nước (cũ) do Phân viện Quy hoạch và thiết kế nông nghiệp Miền Nam điều tra xây dựng năm 1988 và kết quả điều tra bổ sung năm 2000 của Phân viện Địa lý miền Nam, năm 2001 của Trường Đại học Cần Thơ thì toàn bộ đất đai của huyện Cái Nước bị nhiễm mặn và mặn phèn với các mức độ khác nhau. Kết quả điều tra cũng đã phân vùng địa lý thổ nhưỡng huyện Cái Nước thành 2 vùng khác biệt, đó là:

  • Vùng đất phù sa không được bồi, nằm ở phía bắc của huyện, ranh giới từ phía bắc kênh Mười Phải và rạch Quảng Phước (gồm các xã Thạnh Phú, Lương Thế Trân, Phú Hưng, Hưng Mỹ, Hòa Mỹ, Tân Hưng). Diện tích vùng này chiếm khoảng 21.000 ha.  Đây là vùng đất có địa hình cao, hệ thống kênh rạch thưa hơn, một số diện tích đất bị phèn, dễ bị hạn hán. Đối với sản xuất nông nghiệp, đây là vùng đất tốt, trong điều kiện giữ được nước ngọt tại chỗ có thể phát triển sản xuất lúa 2 vụ, lúa cao sản, trồng dừa. Hiện nay, đây cũng là vùng có thể phát triển sản xuất 1 vụ lúa luân canh trên đất nuôi tôm.
  • Vùng phía nam của huyện, diện tích khoảng 18.500 ha. Là vùng đất mặn, phèn tiềm tàng và phèn hoạt động, địa hình thấp hơn, hệ thống sông kênh rạch nhiều hơn, mức độ mặn nặng hơn. Đối với nông nghiệp có thể làm lúa mùa (giữ ngọt) trồng dừa. Hiện nay đã chuyển sang nuôi tôm, nuôi tôm kết hợp trồng lúa, nhưng việc trồng lúa khó khăn hơn vùng phía bắc của huyện do mức độ xâm nhập mặn nhanh hơn.

Về lý tính của đất, nhìn chung ở cả hai vùng của huyện, đất đều có thành phần cơ giới nặng, tỷ lệ sét trong đất cao.

Mặc dù có các yếu tố hạn chế, nhưng cơ bản đất đai huyện Cái nước vẫn phù hợp để phát triển sản xuất nông ngư nghiệp.

Hiện trạng sử dụng đất năm 2009 của huyện Cái Nước

Đơn vị: Ha.

STT Loại đất Toàn huyện
Tổng diện tích tự nhiên 41.709,37
I Đất nông nghiệp 38.581,29
1 Đất sản xuất nông nghiệp 8.217,73
1.1 Đất trồng cây hàng năm 0,23
a Đất trồng lúa
b Đất trồng cây hàng năm khác 0,23
1.2 Đất trồng cây lâu năm 8.217,5
2 Đất lâm nghiệp 15,48
Đất rừng tự nhiên 15,48
3 Đất nuôi trồng thủy sản 30.343,28
4 Đất nông nghiệp khác 4,8
II Đất phi nông nghiệp 3.128,08
1 Đất ở 590,64
2 Đất chuyên dùng 1.379,33
3 Đất tôn giáo, tín ngưỡng 11,58
4 Đất nghĩa trang, nghĩa địa 8,54
5 Đất sông suối và mặt nước chuyên dùng 1.137,99
III Đất chưa sử dụng 0

    Số liệu Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Cà Mau

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện Cái Nước có 11 đơn vị hành chính trực thuộc gồm 1 thị trấn huyện lị Cái Nước và 10 xã: Đông Hưng, Đông Thới, Hòa Mỹ, Hưng Mỹ, Lương Thế Trân, Phú Hưng, Tân Hưng Đông, Tân Hưng, Thạnh Phú, Trần Thới.

Dân cư lao động[sửa | sửa mã nguồn]

Dân số thời điểm 1/4/2009 của huyện Cái Nước là 137.396 người, bằng 11,3% dân số toàn tỉnh, đứng thứ 4/9 huyện, thành phố (sau thành phố Cà Mau, huyện Trần Văn Thời, huyện Đầm Dơi), mật độ dân số trung bình 328 người/km2, cao hơn so với mật độ bình quân của tỉnh (227 người/km2).

Nhìn chung huyện Cái Nước là huyện có mật độ dân cư phân bố tương  đối đồng đều giữa các xã (vì không có khu vực rừng), cụ thể như sau:

STT Đơn vị hành chính Diện tích tự nhiên (Ha) Dân số (người) Mật độ dân số (người/km2)
Toàn huyện 41.709 137.396 328
1 Thị trấn Cái Nước 2.549 13.911 546
2 Xã Lương Thế Trân 3.106 10.458 337
3 Xã Thạnh Phú 3.345 13.892 415
4 Xã Hòa Mỹ 3.463 8.820 255
5 Xã Hưng Mỹ 3.539 11.440 323
6 Xã Đông Hưng 3.430 10.153 296
7 Xã Đông Thới 2.847 8.263 290
8 Xã Phú Hưng 4.353 14.233 327
9 Xã Trần Thới 4.213 12.931 307
10 Xã Tân Hưng 5.610 16.593 296
11 Xã Tân Hưng Đông 5.254 16.031 305

Dự báo dân số của huyện Cái Nước đến năm 2015, năm 2020: tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của huyện Cái Nước (và tỉnh Cà Mau) năm 2009 ở mức 1,28%, kế hoạch năm 2010 là 1,24%. Trên cơ sở tiếp tục thực hiện Chương trình dân số, kế hoạch hóa gia đình, thực hiện giảm tỷ lệ sinh và quy mô gia đình ít con, dự kiến tỷ lệ tăng dân số tự nhiên năm 2015 của huyện xuống dưới 1,2%, năm 2020 giảm xuống khoảng dưới 1,1%. Hiện nay, khu công nghiệp Hòa Trung (phía Nam) đã và đang thu hút khá nhiều dự án công nghiệp (chủ yếu là chế biến thủy hải sản), và khả năng phát triển sẽ nhanh (cả nhà máy chế biến thủy sản Nam Long) nên ngoài tăng dân số tự nhiên còn có tỷ lệ tăng dân số cơ học đáng kể vì số lượng lao động làm việc trong khu công nghiệp này (dự kiến số công nhân của khu công nghiệp Hòa Trung năm 2015 khoảng trên 10.000 người).

Dự báo dân số năm 2015 của huyện đạt khoảng 150.000 người, năm 2020 khoảng 160.000 người (kể cả tăng cơ học).

- Lao động của huyện Cái Nước chủ yếu là lao động trẻ, số người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động chiếm 47,2% dân số của huyện (64.515 người so với dân số 136.725 người).

Số lao động tham gia trực tiếp lao động trong nền kinh tế đến cuối năm 2009 là 61.250 người; trong đó lao động trong khu vực ngư nông nghiệp chiếm 54,5% (33.400 người), khu vực công nghiệp, xây dựng chiếm 19,8% (12.100 người), khu vực dịch vụ chiếm 25,7% (15.750 người). Với cơ cấu lao động như trên, cho thấy quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động của huyện có bước chuyển biến nhanh hơn so với các địa phương khác trong tỉnh (đến cuối năm 2009 tỷ lệ lao động trong khu vực nông nghiệp của tỉnh còn trên 60%).

Do tập quán lâu đời, dân cư của huyện Cái Nước và của tỉnh Cà Mau định cư rất phân tán (thường không tập trung thành cụm điểm mà phân tán theo ven sông, rạch), đây là trở ngại trong việc quy hoạch, đầu tư hệ thống kết cấu hạ tầng, gây tốn kém chi phí và sự hưởng thụ thành quả đầu tư xây dựng hạ tầng nông thôn (đường giao thông, hệ thống điện, trường học, trạm y tế, trung tâm văn hóa, thể thao…).

Tỷ lệ lao động qua đào tạo năm 2009 đạt 31%, dự kiến đến cuối năm 2010 đạt 33%, cao hơn bình quân toàn tỉnh (phấn đấu đạt 30% vào cuối năm 2010). Đây là lợi thế của huyện để thu hút đầu tư và tạo bước tăng trưởng cao.

Văn hóa, xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Giáo dục và đào tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Mạng lưới trường học các ấp của huyện tương đối hoàn chỉnh và phân bố khá hợp lý, đến cuối năm học 2009- 2010 gồm có:

  • Khối mầm non có 10 trường mầm non với 154 lớp, tổng số trẻ là 3.624 cháu, trong đó mẫu giáo là 2.528 cháu; tăng 3 trường so với năm 2005; hiện nay còn 2 xã chưa có trường mầm non là xã Đông Thới và xã Đông Hưng (đang được tỉnh Cà Mau đầu tư xây dựng trong năm 2010 theo chủ trương xóa xã trắng trường mầm non).
  • Khối tiểu học có 32 trường với 676 lớp, tăng 1 trường và 52 lớp so với năm 2005;
  • Khối trung học cơ sở có 11 trường với 186 lớp; giảm 18 lớp so với năm 2005;
  • Khối trung học phổ thông có 3 trường là THPT Cái Nước, THPT Nguyễn Mai và THPT Phú Hưng.

Như vậy, mạng lưới trường học các cấp của huyện Cái Nước được phân bố khá hợp lý, đồng thời do giao thông nông thôn đã phát triển khá nên mật độ trường như vậy là đảm bảo về khoảng cách đến trường của học sinh. Số trường khối trung học phổ thông đạt tỷ lệ 3,5 đơn vị cấp xã/trường (bình quân các huyện của tỉnh Cà Mau là 5 - 6 đơn vị cấp xã/trường).

Quy mô học sinh: Tổng số học sinh cuối năm học 2009-2010 là 25.068 em, giảm 1.812 em so với năm 2005, trong đó học sinh mầm non 3.624 em, tăng 680 em; học sinh tiểu học 13.525 em, giảm 545 em so với năm 2005; học sinh trung học cơ sở 5.324 em, giảm 1.233 em, số học sinh THPT 2.595 em. Về nguyên nhân giảm số lượng học sinh tiểu học và học sinh trung học cơ sở là do không còn số học sinh quá độ tuổi, đây là kết quả tiến bộ và là tình hình chung của tỉnh Cà Mau.

Giáo viên và cán bộ quản lý các cấp được bố trí đủ về số lượng và đạt chuẩn, đảm bảo yêu cầu giảng dạy, quản lý giáo dục. Năm học 2009-2010, toàn huyện Cái Nước có 1.979 cán bộ giáo viên các cấp (tăng 182 người so với năm 2005), trong đó có 125 cán bộ quản lý và nhân viên phục vụ. Bao gồm: giáo viên mầm non 169 người (tăng 51 người so với năm 2005), giáo viên tiểu học 1.064 người (tăng 32 người), giáo viên trung học cơ sở 509 người (tăng 34 người)  và giáo viên trung học phổ thông là 237 người, tăng 65 người.

Cơ sở vật chất và thiết bị trường học được quan tâm đầu tư, đặc biệt là nguồn vốn trái phiếu Chính phủ thực hiện chương trình kiên cố hóa trường lớp học. Cuối năm học 2009-2010, toàn huyện có 813 phòng học các cấp (mẫu giáo 126 phòng, tiểu học 458 phòng, THCS 152 phòng, THPT 77 phòng). Các phòng học đều được xây dựng kiên cố và bán kiên cố, không còn phòng học tạm và phòng học 3 ca; các trường đều đã được đầu tư hệ thống nước sạch và nhà vệ sinh; có phòng chức năng và thiết bị giảng dạy. Nhưng do nhiều trường không đủ diện tích sân chơi, sân thể thao… nên số trường đạt chuẩn quốc gia còn rất thấp; đến cuối giữa năm 2010 có 5 trường đạt chuẩn quốc gia (3 trường THCS và 2 trường tiểu học), bằng 9% tổng số trường trong toàn huyện.

Chất lượng giáo dục có nhiều tiến bộ, các trường đều chú trọng cả về văn, thể, mỹ; thực hiện phong trào xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực. Ngành giáo dục của huyện đã thực hiện khá tốt chủ trương “nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục”. Huyện đã được công nhận hoàn thành mục tiêu phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi; được công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở vào thời điểm tháng 12/2008. Tỷ lệ học sinh bỏ học giảm hơn trước nhưng vẫn còn khá cao, năm học 2009-2010 tỷ lệ học sinh bỏ học ở các cấp học như sau: tiểu học 2,6% (toàn tỉnh Cà Mau 2,19%), trung học cơ sở bỏ học 9,04% (toàn tỉnh 6,52%), trung học phổ thông bỏ học 7,26% (toàn tỉnh 5,97%).

Chủ trương thực hiện xã hội hoá sự nghiệp giáo dục được nhân dân hưởng ứng, nhiều hộ dân đã hiến đất xây dựng trường học, vai trò của hội đồng giáo dục địa phương và hội cha mẹ học sinh đã được phát huy, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục của huyện. Tỷ lệ tốt nghiệp THPT năm học 2009-2010 trường PTTH Phú Hưng đạt 98,8% (xếp hạng 5 toàn tỉnh), trường PTTH Cái Nước đạt 88,96% (xếp hạng 19/27), trường PTTH Nguyễn Mai đạt 77,43% (xếp hạng 25/27).

Trung tâm giáo dục thường xuyên của huyện có 15 cán bộ nhân viên, giáo viên, năm 2009 tổ chức 12 lớp bậc Trung học phổ thông cho 298 học viên và một số lớp về tin học, ngoại ngữ.

Giáo dục chuyên nghiệp của huyện còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực. Trung tâm dạy nghề huyện mới đào tạo ngắn hạn trình độ sơ cấp nghề, các nghề đơn giản như cắt may, sửa chữa xe máy, tin học với quy mô hàng năm khoảng trên 500 lượt người tham dự. Ngoài ra huyện còn có các trung tâm học tập cộng đồng tổ chức các lớp học, truyền đạt về thời sự, pháp luật, văn hóa thể thao với 76 lớp, có 2.311 học viên tham gia.

Y tế[sửa | sửa mã nguồn]

Hệ thống y tế của huyện bao gồm: bệnh viện đa khoa khu vực huyện Cái Nước có quy mô 350 giường, là bệnh viện quy mô phục vụ liên huyện các huyện phía nam của tỉnh Cà Mau. Bệnh viện này đang được đầu tư xây dựng theo chương trình nâng cấp bệnh viện đa khoa tuyến huyện, nhưng tiến độ triển khai còn chậm. Mạng lưới y tế tuyến xã được tăng cường, 10/11 xã đã đạt chuẩn quốc gia về y tế  xã (còn lại xã Lương Thế Trân do mới chia tách đang được đầu tư xây dựng).

Toàn huyện hiện có 331 cán bộ y tế và 34 cán bộ dược, trong đó số bác sĩ là 75 người, dược sĩ cao cấp 1 người, bình quân có 5,5 bác sĩ/1 vạn dân, tương đương với bình quân của toàn tỉnh Cà Mau. Các trạm y tế xã đều có bác sĩ phục vụ. Các cơ sở khám chữa bệnh, quầy thuốc tư nhân được quản lý đúng quy định.

Nhìn chung, ngành  Y tế huyện đã cơ bản bảo đảm yêu cầu chăm sóc sức khỏe cho nhân dân; công tác y học dự phòng, các chương trình y tế quốc gia, phòng chống các bệnh xã hội, công tác truyền thông dân số và kế hoạch hoá gia đình được coi trọng đã xử lý kịp thời các ổ dịch, không để bùng phát diện rộng, góp phần giảm tỷ lệ tăng dân số tự nhiên, tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi được tiêm chủng đạt 96%; tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi giảm còn 17,45%. 

Văn hóa, thể dục thể thao[sửa | sửa mã nguồn]

Hoạt động văn hóa thông tin, thể dục thể thao có nhiều chuyển biến tích cực, công tác quản lý nhà nước được tăng cường; nội dung, hình thức hoạt động trong lĩnh vực văn hóa thông tin ngày càng thiết thực, hiệu quả, cơ bản đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ chính trị của huyện và nhu cầu hưởng thụ văn hóa của nhân dân. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” được đẩy mạnh; tỷ lệ gia đình, cơ quan, đơn vị, khu dân cư, khóm ấp và xã văn hóa tiếp tục tăng lên. Đến cuối năm 2009 có 88,31% gia đình; 82% khóm, ấp; 27,27% xã, thị trấn đạt chuẩn văn hóa; năm 2010 ước đạt 90% hộ gia đình; 85% số khóm ấp và 30% số xã (so với năm 2005 tỷ lệ lần lượt là 79,05% gia đình; 54,83% khóm, ấp; 9,09% xã, thị trấn đạt chuẩn văn hóa).

Công tác tuyên truyền cổ động ngày càng tiến độ, nội dung tuyên truyền ngày càng có chất lượng, kịp thời tuyên truyền các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và cổ động các phong trào xây dựng đời sống văn hóa mới, lành mạnh, các mô hình sản xuất mới gắn với nhu cầu thiết thực của người dân. Trong năm 2009 đã thực hiện 1.860 buổi tuyên truyền cổ động với trên 465.000 lượt người nghe (năm 2005 thực hiện 1.386 buổi tuyên truyền cổ động với trên 145.000 lượt người nghe). 

Cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại” được các tầng lớp nhân dân tích cực hưởng ứng, thu hút nhiều đối tượng tham gia. Phong trào thể dục thể thao trong các trường học, cơ quan, đơn vị được duy trì, số người tham gia tập luyện thể dục thể thao trong huyện ngày càng tăng, đến nay tỷ lệ dân số tập luyện thể dục thể thao thường xuyên khoảng 25%, tỷ lệ hộ gia đình đạt chuẩn thể thao chiếm khoảng 21%.

Hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ hoạt động văn hóa thông tin, thể dục thể thao được tỉnh, huyện quan tâm đầu tư, đang triển khai xây dựng Trung tâm Văn hóa Thể thao huyện Cái Nước với tổng vốn đầu tư trên 23 tỷ đồng và xây dựng các Trung tâm Văn hóa – Thể thao xã, thị trấn, nhằm đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa, tinh thần ngày càng cao của nhân dân trong huyện. Đến cuối năm 2010 có khoảng 36% số xã, thị trấn trong huyện hình thành được trung tâm sinh hoạt văn hoá thể thao.

Giải quyết các vấn đề xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Công tác bảo vệ bà mẹ, trẻ em và dân số, kế hoạch hóa gia đình có chuyển biến tích cực, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên năm 2009 giảm còn 1,28%, kế hoạch năm 2010 giảm còn 1,2%; mức giảm tỷ lệ sinh cao hơn bình quân của toàn tỉnh, đạt 0,07% (so với bình quân toàn tỉnh là 0,04%).

Đào tạo nghề và giải quyết việc làm đạt kết quả khá, bình quân mỗi năm đào tạo, bồi dưỡng, truyền nghề cho trên 1.600 lao động, năm 2009 tạo việc làm cho 4.600 người, năm 2010 khoảng 5.300 người; ước đến cuối năm 2010 tỷ lệ lao động qua đào tạo của huyện đạt 33% (cao hơn mức phấn đấu của tỉnh là 30%). Tỷ lệ hộ  nghèo giảm nhanh, cuối năm 2008 tỷ lệ hộ nghèo của huyện còn 7,14% và 5,65% số hộ cận nghèo; đến cuối năm 2009 tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 7,03%, hộ cận nghèo giảm còn 3,86%. Cuối năm 2010 tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 6,3%. Toàn huyện Cái Nước không có xã thuộc diện tỷ lệ hộ nghèo cao tỉnh phải chỉ đạo hỗ trợ như các huyện khác.

Các đối tượng chính sách được chăm lo tốt hơn, từng bước thực hiện có hiệu quả chủ trương xã hội hóa công tác đền ơn đáp nghĩa, 5 năm qua toàn huyện đã vận động Quỹ đền ơn đáp nghĩa đạt hơn 8 tỷ đồng; xây dựng và trao tặng 334 căn nhà tình nghĩa.

Công tác tài nguyên môi trường[sửa | sửa mã nguồn]

Công tác bảo vệ tài nguyên và môi trường được quan tâm, đã tăng cường công tác tuyên truyền về pháp luật, trách nhiệm bảo vệ môi trường để phát triển bền vững. Tổ chức quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường từ huyện đến cơ sở được thành lập và hoạt động phát huy được hiệu quả; ý thức của cán bộ và nhân dân về bảo vệ môi trường được nâng lên, tình trạng ô nhiễm môi trường ở khu vực chợ và khu vực từng bước được khắc phục, có 98% dân cư được sử dụng nước hợp vệ sinh; chất thải rắn được thu gom và xử lý đạt 65%.

Tuy vậy, việc kiểm tra xử lý chấp hành bảo vệ môi trường các cơ sở sản xuất chế biến thủy sản chưa thật chặt chẽ, một số cơ sở chế biến đầu vỏ tôm sản xuất Chitin, Dglusamin ở khu vực Hòa Trung gây ô nhiễm (mùi và nước thải), gây bức xúc trong nhân dân; khu công nghiệp Hòa Trung hiện có 7 nhà máy chế biến thủy hải sản hoạt động nhưng chưa xây dựng hệ thống xử lý nước thải, là nguy cơ ô nhiễm nguồn nước sông và môi trường rất lớn. 

Công tác quản lý đất đai được chặt chẽ, có 95,13% đất nông thôn, 65,4% đất nội ô thị trấn Cái Nước được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; các nguồn tài nguyên được khai thác, sử dụng hợp lý và quản lý chặt chẽ hơn.

Quốc phòng an ninh[sửa | sửa mã nguồn]

Lực lượng quân sự, công an đã phối hợp, bảo đảm giữ vững quốc phòng an ninh và trật tự an toàn xã hội; thường xuyên thực hiện tốt chế độ tập luyện, trực sẵn sàng chiến đấu, diễn tập theo kế hoạch của cấp trên.  Công tác quản lý, tổ chức huấn luyện lực lượng dự bị động viên, huấn luyện dân quân tự vệ đạt kế hoạch, huấn luyện phổ cập kiến thức quân sự cho học sinh được quan tâm thực hiện.

Tình hình an ninh chính trị ổn định, phong trào quần chúng bảo vệ an ninh tổ quốc được phát huy. Hội đồng an ninh trật tự ở cơ sở hoạt động có hiệu quả, các tổ nhân dân tự quản an ninh trật tự ở cơ sở được thành lập đã góp phần bài trừ tệ nạn xã hội, bảo vệ trật tự trị an và an toàn xã hội

Kinh tế xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Quy mô, tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Tăng trưởng và quy mô kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Tổng giá trị tăng thêm (giá so sánh 1994) của huyện năm 2005 đạt 930 tỷ đồng, bằng 12% GDP của tỉnh (7.739 tỷ đồng); năm 2009 đạt khoảng 1.532 tỷ đồng, ước thực hiện năm 2010 là 1.731 tỷ đồng, tăng bình quân hàng năm giai đoạn 2006-2010 là 13,3%.

Tổng giá trị tăng thêm trên địa bàn huyện theo giá thực tế năm 2010 ước khoảng 2.890 tỷ đồng, bình quân đầu người tính chung trên địa bàn huyện đạt khoảng 21 triệu đồng, tương đương khoảng 1.090 USD (gần bằng bình quân toàn tỉnh Cà Mau). Giá trị tăng thêm bình quân đầu người này bao gồm cả phần giá trị khá lớn từ các doanh nghiệp của Khu công nghiệp Hòa Trung. Vì vậy ước tính mức thu nhập bình quân đầu người của nhân dân huyện Cái Nước (không tính khu công nghiệp Hòa Trung) đạt khoảng 14,7 triệu đồng/người, tương đương khoảng 800 USD).

Như vậy, kể từ sau khi chia tách huyện (năm 2004), kinh tế huyện Cái Nước có tốc độ phát triển nhanh, tương đương với tốc độ tăng bình quân toàn tỉnh Cà Mau (kinh tế tỉnh tăng nhanh nhờ có cụm công nghiệp khí điện đạm Cà Mau), so với mục tiêu quy hoạch của huyện được duyệt là 11%. Tốc độ tăng trưởng kinh tế của huyện đạt mức cao là có sự gia tăng nhanh về sản xuất công nghiệp, xây dựng, đặc biệt là các dự án khởi động tại cụm công nghiệp Hòa Trung nam (nay là khu công nghiệp Hòa Trung). Cụ thể:

- Các ngành nông ngư nghiệp tăng 8,2%;

- Công nghiệp – xây dựng tăng 16,1% (riêng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tăng khoảng 15%);

- Các ngành dịch vụ tăng 17,2%.

Về quy mô kinh tế: quy mô kinh tế của huyện còn nhỏ, nhưng so sánh trong nền kinh tế của tỉnh Cà Mau thì kinh tế của huyện đã có vị trí quan trọng, tổng giá trị tăng thêm hàng năm của huyện liên tục 6 năm liền luôn chiếm tỷ trọng 12% GDP toàn tỉnh Cà Mau (trong khi diện tích tự nhiên của huyện chỉ chiếm 7,83% diện tích toàn tỉnh và mặc dù kinh tế tỉnh Cà Mau từ năm 2006 đến nay đã có sự đóng góp rất lớn của cụm công nghiệp khí điện đạm). Điều đó phản ánh sự phát triển nhanh về kinh tế trên địa bàn huyện Cái Nước.

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Cơ cấu kinh tế của huyện Cái Nước trong giai đoạn 2005 – 2010 chuyển dịch nhanh, đúng hướng, theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tỷ trọng của khu vực ngư, nông nghiệp giảm dần từ 45,21% năm 2005 xuống còn 37,7% vào năm 2009 và ước thực hiện năm 2010 là 36,1%; khu vực công nghiệp, xây dựng tăng từ 26,5% tăng lên 29,5% năm 2009 và dự kiến đạt 30,1% trong năm 2010;  khu vực dịch vụ tăng từ 28,29% tăng lên 32,8% năm 2009 và 33,8% trong năm 2010.

So với cơ cấu kinh tế bình quân của tỉnh thì cơ cấu kinh tế của huyện Cái Nước có sự chuyển dịch nhanh hơn (nếu không tính đóng góp của cụm Khí Điện Đạm trong GDP của tỉnh) quá trình chuyển dịch từ khu vực ngư, nông nghiệp sang khu vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ nhanh hơn.

Biểu cơ cấu kinh tế huyện giai đoạn 2005-2010 (%):

2005 2007 2008 2009 2010
Nông nghiệp 45.2 42.4 40.9 37,7 36,1
Công nghiệp, xây dựng 26.5 27.6 28.1 29,5 30,1
Dịch vụ 28.3 30 31 32.8 33,8

Mặc dù cơ cấu kinh tế của huyện có tốc độ chuyển dịch nhanh nhưng trong cơ cấu từng khu vực kinh tế chuyển dịch còn chậm.

- Trong khu vực I (ngư, nông nghiệp): thủy sản vẫn là ngành sản xuất chính, chiếm tỷ trọng gần như tuyệt đối (khoảng trên 80% giá trị sản xuất nông nghiệp), sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng thấp.

- Sản xuất công nghiệp chủ yếu là chế biến thủy hải sản xuất khẩu.

- Trong khu vực III (dịch vụ): các ngành dịch vụ truyền thống là các ngành chiếm tỷ trọng cao như: thương nghiệp, bưu chính, viễn thông, sửa chữa, các dịch vụ cơ bản phục vụ nhu cầu của người dân; các ngành dịch vụ như: ngân hàng, bảo hiểm, du lịch… còn rất thấp.    

Thực trạng phát triển các ngành, lĩnh vực[sửa | sửa mã nguồn]

Ngư, nông nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Sản xuất ngư – nông nghiệp tiếp tục phát triển, từng bước khắc phục tình trạng độc canh con tôm sau lúc chuyển đổi sản xuất. Nhiều mô hình sản xuất và đối tượng cây trồng, con nuôi có giá trị kinh tế cao đã và đang phát triển nhiều nơi trong huyện.

Sản xuất thủy sản: diện tích mặt nước nuôi thủy sản năm 2005 của huyện (chủ yếu là nuôi tôm) là 31.626 ha, chiếm 11,3% diện tích nuôi toàn tỉnh, diện tích này được ổn định liên tục hàng năm cho đến nay. Năng suất, sản lượng nuôi trồng hàng năm tăng lên, năm 2005 đạt 15.207 tấn (có 10.748 tấn tôm), đạt bình quân gần 500 kg/ha (riêng tôm đạt bình quân 331 kg/ha); năm 2009 đạt 21.500 tấn, có 12.720 tấn tôm; năm 2010 ước đạt 25.000 tấn (có 13.800 tấn tôm), tăng bình quân hàng năm 10,93%.

Tôm nuôi của huyện chủ yếu là nuôi quảng canh cải tiến, diện tích nuôi tôm công nghiệp còn ít, năm 2010 khoảng 120 ha, diện tích nuôi phân tán ở tất cả các xã (mỗi xã chỉ có một số hộ có điều kiện về vốn mới thả nuôi), năng suất bình quân 4 tấn/ha, nuôi tôm công nghiệp phát triển chậm vì nhu cầu vốn đầu tư lớn (ít hộ có khả năng đầu tư) và tỷ lệ rủi ro còn cao. Diện tích nuôi tôm quảng canh cải tiến cho năng suất cao đạt khoảng 800 ha; phần lớn diện tích nuôi các hộ đều thả nuôi tôm kết hợp với nuôi cua, cá. Mô hình sản xuất nuôi tôm luân canh trồng lúa ở một số xã mang lại hiệu quả cao, bền vững, nhưng do hệ thống thủy lợi chưa được khép kín đồng bộ nên diện tích nuôi tôm luân canh với sản xuất một vụ lúa chưa nhiều, những nơi chưa khép vùng thuỷ lợi hay bị tràn mặn, bị hạn nên hiệu quả không cao. Phong trào nuôi cá ao đìa nước ngọt, nước lợ (ao trong đất vườn nhà), nhất là các loài cá có giá trị cao như cá chình, cá bống tượng, toàn huyện đã có khoảng 180 ha nuôi cá tập trung ở các xã ven quốc lộ 1A (Thạnh Phú, Hưng Mỹ, Phú Hưng).

Về sản xuất nông nghiệp: từ sau chuyển đổi cơ cấu sản xuất sang nuôi tôm, diện tích trồng lúa của huyện còn rất ít, năm 2001 còn khoảng gần 1.500 ha, năm 2005 còn 1.118 ha, năm 2006 là 783 ha. Những năm gần đây do lúa có giá và nông dân đã nhận thức được tầm quan trọng của mô hình sản xuất bền vững nên đã tích cực trồng luân canh lúa trên đất nuôi tôm, năm 2009 gieo cấy trên 4.435 ha, nhưng do bị tràn mặn và nắng hạn bị thiệt hại 735 ha, diện tích cho thu hoạch khoảng trên 3.500 ha, sản lượng lúa 12.250 tấn; ước thực hiện năm 2010 gieo cấy 4.500 ha lúa trên đất nuôi tôm, sản lượng lúa dự kiến đạt 15.750 tấn. Diện tích lúa chủ yếu tập trung ở các xã Phú Hưng, Thạnh Phú, Hòa Mỹ, Hưng Mỹ và một phần ở xã Lương Thế Trân, Tân Hưng, Tân Hưng Đông.

Việc sản xuất các cây trái khác cũng từng bước hồi phục, diện tích bắp khoảng 18 ha, diện tích rau đậu khoảng 200 ha, cây dừa khoảng 1.800 ha (diện tích dừa cho thu hoạch khoảng 1.500 ha).

Quy mô đàn gia súc, gia cầm cũng giảm nhiều so với trước khi chuyển sang nuôi tôm, do sản lượng lương thực thấp và do ảnh hưởng của dịch bệnh. Đàn heo năm 2008 -2009 đạt 14.000 con, năm 2010 ước đạt 25.000 con, đàn gia cầm năm 2009 đạt 68 nghìn con, năm 2010 ước đạt khoảng 90 nghìn con.

Hiện trạng sản xuất ngư nông nghiệp của huyện Cái Nước

phân theo địa bàn xã, thị trấn:

Đơn vị Diện tích Trong đó (ha) SL lúa SLTS TĐ:SL Đàn heo
nuôi TS Lúa tôm Chuyên tôm Tôm CN (tấn) (tấn) Tôm (tấn) (con)
Toàn huyện 31626 4500 24406 120 15750 25000 13800 25000
TT Cái Nước 1946 1831 5 1540 820 1500
Xã Tân Hưng Đông 4496 300 3931 15 1050 3550 1910 2000
Xã Đông Thới 2318 2073 5 1830 970 2100
Xã Đông Hưng 2500 2305 5 1980 1030 2100
Xã Trần Thới 3030 2795 5 2400 1250 2700
Xã Hòa Mỹ 2600 800 1663 17 2800 2050 1210 2300
Xã Hưng Mỹ 2310 800 1375 5 2800 1830 1040 2300
Xã Tân Hưng 4251 300 3491 20 1050 3360 1840 2600
Xã Phú Hưng 3102 1000 1884 8 3500 2450 1390 2500
Xã Thạnh Phú 2573 1100 1128 5 3850 2030 1160 2600
Xã Lương Thế Trân 2500 200 1930 30 700 1980 1180 2300

Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Công nghiệp chế biến thủy sản được tăng cường đầu tư, từng bước đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Khu công nghiệp Hòa Trung đã thu hút được 10 dự án công nghiệp, trong đó có 7 dự án nhà máy chế biến thủy sản đã đầu tư đi vào hoạt động, làm tăng nhanh giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn huyện. Tổng giá trị sản xuất công nghiệp năm 2005 đạt 145,72 tỷ đồng (giá cố định 1994), năm 2008 đạt 216 tỷ đồng, năm 2009 đạt 260 tỷ đồng, năm 2010 dự kiến đạt 300 tỷ đồng, tăng bình quân hàng năm giai đoạn 2006 – 2010 khoảng 15%.

Hiện nay, trên địa bàn huyện có 8 nhà máy chế biến thủy sản với công suất trên 20.000 tấn/năm, bao gồm: Công ty cổ phần thực phẩm thủy sản xuất khẩu (Fine food), Công ty cổ phần chế biến thủy sản xuất nhập khẩu Hòa Trung; Công ty Đại Dương, Công ty CBXK thủy sản Việt Hải, Công ty XNK Huỳnh Hương, Công ty TNHH chế biến XNK thủy sản Minh Châu, nhà máy CBTS XK Nam Long (Cadovimex). Ngoài ra còn có một số Công ty sản xuất chế biến Chitin, D- Glutamine Hydrochride từ đầu vỏ tôm như: Công ty TNHH Kim Hồng, Công ty Đại Phát, Công ty TNHH kỹ nghệ sinh hóa Quốc Thanh - Việt Trung đã đầu tư và đang hoạt động trong Khu công nghiệp Hòa Trung (cụm phía Nam thuộc địa bàn huyện Cái Nước).

Sản lượng thủy hải sản chế biến năm 2009 đạt 14.800 tấn, chiếm gần 20% sản lượng chế biến thủy hải sản của tỉnh Cà Mau. Sản lượng Chitin, Dglucosamin đạt khoảng 1.000 tấn.

Sản xuất tiểu thủ công nghiệp và ngành nghề nông thôn được duy trì và phát triển, thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.

Các ngành dịch vụ[sửa | sửa mã nguồn]

Các ngành dịch vụ đã đóng vai trò quan trọng trong kinh tế huyện, năm 2010 chiếm tỷ trọng 33,8% tổng giá trị tăng thêm của huyện, đáp ứng được yêu cầu phục vụ sản xuất và đời sống của nhân dân.

Mạng lưới bán lẻ được phân bố rộng khắp, đáp ứng tốt cung cấp hàng hóa ở tận vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Hiện nay trên địa bàn huyện có 7 chợ với tổng số 1.600 điểm kinh doanh và 1.800 hộ kinh doanh. Trong đó chợ thị trấn Cái Nước có quy mô chợ loại 2 (500 điểm kinh doanh), là trung tâm thương mại có quy mô trung bình, vừa đáp ứng nhiệm vụ bán lẻ, vừa bán buôn. Các chợ ở xã có quy mô chợ loại 3 gồm các chợ: chợ Rau Dừa xã Hưng Mỹ, chợ Đầm Cùng xã Trần Thới, chợ Cái Rắn xã Phú Hưng, chợ Nhà Phấn xã Thạnh Phú, chợ xã Tân Hưng. Theo số liệu điều tra năm 2007 của Cục Thống kê Cà Mau, trên địa bàn huyện Cái Nước có 4.638 cơ sở cá thể kinh doanh thương mại, dịch vụ. Tuy nhiên, nhìn chung dịch vụ thương mại ở nông thôn huyện phát triển còn hạn chế, chưa giải quyết được nhiều lao động.

Dịch vụ vận tải hành khách và hàng hóa tăng nhanh, đáp ứng được nhu cầu sản xuất kinh doanh và đi lại của nhân dân. Toàn huyện có 750 hộ kinh doanh dịch vụ vận tải, kho bãi tập trung ở thị trấn Cái Nước, xã Đông Hưng, Hòa Mỹ, Tân Hưng. Dịch vụ vận tải phát triển nhanh do giao thông đường bộ phát triển, tuyến xe buýt Tắc Vân – Đầm Cùng (chạy qua địa bàn huyện) với 6 xe hoạt động hiệu quả, lượng khách đông. Tuyến xe buýt thị trấn Cái Nước – thị trấn Cái Đôi Vàm với cự ly 25 km cũng mới được quy hoạch và đi vào hoạt động. 

Các dịch vụ bưu chính, viễn thông phát triển nhanh, bảo đảm thông tin liên lạc với chất lượng ngày càng cao và tiện lợi. Đến cuối năm 2009 toàn huyện Cái Nước có 126.031 thuê bao điện thoại (trong đó có 18.383 máy điện thoại cố định, 727 máy di động thuê bao trả sau và 106.921 máy di động trả trước); bình quân đạt 89,31 máy/100 người dân (điện thoại cố định đạt bình quân 13,03 máy/100 người dân). Dịch vụ Internet cũng bước đầu phát triển đến các xã trong huyện.

Về thu – chi ngân sách[sửa | sửa mã nguồn]

Thu ngân sách[sửa | sửa mã nguồn]

Cùng với sự tăng trưởng nhanh của nền kinh tế, thu ngân sách trên địa bàn huyện Cái Nước cũng tăng nhanh, tổng thu ngân sách trên địa bàn huyện trong 5 năm (2005-2009) bao gồm cả Văn phòng Cục thuế tỉnh thu trên địa bàn huyện đạt khoảng 180,3 tỷ đồng, dự toán năm 2010 thu 50 tỷ đồng. Các nguồn thu chủ yếu gồm thuế công thương nghiệp, thuế chuyển quyền sử dụng đất, phí và lệ phí…

Kết quả thu ngân sách hàng năm đều đạt và vượt chỉ tiêu trên giao, phần tăng thu sắp xếp theo thứ tự ưu tiên để tăng chi ngân sách nhất là tăng chi cho đầu tư phát triển, tăng chi đảm bảo xã hội và tăng chi sự nghiệp… Công tác thanh tra, kiểm tra chống thất thu thuế được tiến hành thường xuyên, kiên quyết xử lý các trường hợp nợ đọng thuế.

Biểu kết quả thu ngân sách hàng năm trên địa bàn huyện (triệu đồng):

Tổng thu NS Trong đó: huyện thu
1 Năm 2005 24902 24460
2 Năm 2006 26575 26441
3 Năm 2007 34468 34096
4 Năm 2008 43167 42408
5 Năm 2009 51220 49908
6 Năm 2010 52000 50000
Chi ngân sách[sửa | sửa mã nguồn]

Chi ngân sách năm 2005 đạt 82,8 tỷ đồng, năm 2010 dự kiến đạt 129 tỷ đồng, tăng 56% trong 5 năm, bình quân tăng 9,27%/năm; đảm bảo được các nhiệm vụ chi ngân sách chủ yếu.

Như vậy, mặc dù mức thu ngân sách hàng năm đều tăng, sau 5 năm số thu ngân sách đã tăng gấp 2 lần nhưng vẫn không cân đối được thu – chi ngân sách, mức bù chi của ngân sách tỉnh cho huyện vẫn còn lớn (số bù chi gấp 1,5 lần số thu của huyện). Mức huy động tổng giá trị tăng thêm các hoạt động kinh tế vào ngân sách đạt thấp, chỉ đạt tỷ lệ gần 3% (so với bình quân toàn tỉnh Cà Mau là 8,7%).

Kết cấu hạ tầng, giao thông[sửa | sửa mã nguồn]

Những năm qua, kết cấu hạ tầng của huyện Cái Nước đã được cải thiện vượt bậc, nhờ vào sự đầu tư các dự án do Trung ương, tỉnh đầu tư trên địa bàn và đặc biệt là sự quan tâm, chỉ đạo của chính quyền huyện và sự đồng lòng, ủng hộ cao của nhân dân đã tạo khí thế cao trong xây dựng giao thông nông thôn. Trong những năm gần đây, huyện Cái Nước là điểm sáng của tỉnh, là địa phương đi đầu trong việc phát triển mạng lưới đường giao thông nông thôn, nhờ vậy đời sống của người dân trong huyện đã được cải thiện đáng kể. Cụ thể hạ tầng kỹ thuật một số lĩnh vực như sau:

Giao thông[sửa | sửa mã nguồn]

- Tuyến quốc lộ 1A được nâng cấp, mở rộng với quy mô đường cấp IV đồng bằng, đi qua địa bàn huyện 38 km (từ cầu Lương Thế Trân đến bến phà Đầm Cùng). Tuyến quốc lộ này tạo điều kiện phát triển, nhất là các địa phương ven Quốc lộ.

- Tuyến đường liên huyện Phú Tân – Cái Nước – Đầm Dơi là tuyến giao thông trục ngang của tỉnh Cà Mau, đi qua địa bàn huyện. Tuyến đường có quy mô đường cấp VI đồng bằng, riêng đoạn Cái Nước - Vàm Đình đang được nâng cấp lên đường cấp V đồng bằng từ nguồn vốn của Ngân hàng thế giới.

- Đường ô tô đến trung tâm xã: huyện Cái Nước (cùng với huyện Thới Bình) là 2 huyện của tỉnh Cà Mau có thể hoàn thành mục tiêu có 100% xã có đường ô tô đến trung tâm vào cuối năm 2010 vì phần lớn trụ sở các xã nằm gần trục đường quốc lộ, đường liên huyện, quy mô các tuyến đường ngắn hơn các huyện khác. Đến nay có 9/10 xã trong huyện có đường ô tô đến trung tâm xã (còn tuyến đường đến xã Tân Hưng đang thi công).

- Đường giao thông nông thôn: đến nay giao thông nông thôn của huyện Cái Nước đang được đầu tư phát triển nhanh. Phong trào xây dựng giao thông nông thôn (lộ bêtông xi măng và cầu) phát triển mạnh do được tỉnh hỗ trợ vốn và huy động nhân dân đóng góp (theo chương trình xây dựng đường lộ và 1.588 cây cầu nông thôn của tỉnh). Mỗi năm huyện xây dựng được hàng chục km đường nông thôn các loại. Tổng chiều dài đường bộ trong toàn huyện có đến cuối năm 2009 là 483 km, trong đó đường nhựa 75 km, đường bêtông 418 km.

Riêng trong 5 năm (2006 – 2010), toàn huyện xây dựng hơn 360 km đường lộ, hàng trăm cây cầu bê tông và 4 tuyến đường về trung tâm xã.

Nhìn chung hạ tầng giao thông trên địa bàn huyện Cái Nước thời gian qua đã làm được rất nhiều, nhưng chất lượng và cấp công trình chưa đảm bảo, tính bền vững không cao, chỉ phục vụ cho xe 2 bánh là chính. Nhiều tuyến đường chưa được công bố cắm mốc quy hoạch, tình trạng các hộ dân cất nhà, xây dựng công trình lấn chiếm hành lang an toàn giao thông khá nhiều; đồng thời khi xây dựng các công trình hạ tầng khác dọc tuyến như cáp quang, lưới điện… chưa gắn với quy hoạch phát triển mở rộng các tuyến đường nên gây khó khăn tốn kém chi phí giải tỏa khi đầu tư nâng cấp mở rộng. Công tác duy tu bảo dưỡng ít được quan tâm.

Thủy lợi[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện Cái Nước là vùng có chế độ thủy văn khá phức tạp, chế độ dòng chảy các sông rạch không đồng nhất nên hệ thống thủy lợi được phân chia thành nhiều tiểu vùng khác nhau, thuộc 7/18 tiểu vùng thủy lợi Nam Cà Mau (gồm các tiểu vùng 2, 3, 9, 10, 12, 13, 14). Do khó khăn về vốn nên sau 10 năm chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông ngư nghiệp, nhưng chưa có một tiểu vùng thủy lợi nào được đầu tư khép kín đồng bộ (kênh, cống, đê bao) theo quy hoạch. Những năm qua, chủ yếu đầu tư nạo vét một số kênh thủy lợi bức xúc phục vụ lấy nước nuôi tôm, đầu tư khép kín một số ô thủy lợi nhỏ phục vụ sản xuất luân canh lúa tôm. Về cơ bản thủy lợi chưa đáp ứng yêu cầu sản xuất nông ngư nghiệp.

Lưới điện[sửa | sửa mã nguồn]

Về nguồn cung cấp điện: trên địa bàn huyện có Trạm 100 Kv khu vực Cái Nước: 1 x 40MVA vận hành từ tháng 3 năm 2005, cơ bản cung ứng đủ điện ổn định cho sản xuất (chế biến thủy hải sản) và sinh hoạt. Chương trình điện khí hóa nông thôn đầu tư hệ thống lưới điện trên địa bàn huyện đã góp phần cải thiện rất lớn đời sống của nhân dân vùng nông thôn, điện mang lại tiện ích rất lớn cho người dân trong sinh hoạt và sản xuất; người dân đã trang bị các phương tiện sinh hoạt gia đình, góp phần thúc đẩy kinh tế nông thôn chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hóa nông thôn.

Hiện nay, 11/11 xã, thị trấn của huyện có lưới điện quốc gia. Theo số liệu của Sở Công Thương tỉnh Cà Mau, đến cuối tháng 8/2010 toàn huyện Cái Nước có 24.965 hộ sử dụng điện, trong đó số có điện kế chính là 22.262 hộ và 2.703 hộ sử dụng điện kế phụ (điện chia lại từ các hộ khác). Theo Sở Công Thương, tỷ lệ hộ dân sử dụng điện của huyện Cái Nước đạt 81,75% (so với tổng số hộ là 30.538 hộ), nhưng nếu so với tổng số hộ theo số điều tra dân số nhà ở thời điểm 1/4/2009 là 32.077 hộ thì tỷ lệ hộ sử dụng điện của huyện Cái Nước mới chỉ đạt 77,5%. Như vậy tỷ lệ hộ dân sử dụng điện ở huyện Cái Nước thấp hơn so với bình quân toàn tỉnh (93,1%), tỷ lệ này chỉ cao hơn huyện U Minh (75,02%).

Một số xã có tỷ lệ hộ dân sử dụng điện còn thấp (dưới 75%) như: Hòa Mỹ (50,45%), Tân Hưng (63,75%), Đông Hưng (66,85%), Phú Hưng (71,9%), Thạnh Phú (73,5%).

Tỷ lệ hộ sử dụng điện của các xã, thị trấn trên địa bàn huyện Cái Nước

STT Tên xã, thị trấn Tổng số hộ dân Số hộ dân sử dụng điện Tỷ lệ

(%)

Toàn huyện 30.538 24.853 81,75
1 Thị trấn Cái Nước 3.561 3.241 91,35
2 Xã Lương Thế Trân 2.192 2.170 99,00
3 Xã Thạnh Phú 3.025 2.192 73,52
4 Xã Hòa Mỹ 1.998 980 50,45
5 Xã Hưng Mỹ 2.592 2.565 98.96
6 Xã Đông Hưng 2.151 1.410 66,85
7 Xã Đông Thới 2.339 2.234 99,00
8 Xã Phú Hưng 3.552 2.562 71.90
9 Xã Trần Thới 2.692 2.330 87,07
10 Xã Tân Hưng 3.597 2.275 63.75
11 Xã Tân Hưng Đông 3.474 2.823 81,26

Du lịch[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện Cái Nước không phải là địa bàn trọng tâm phát triển du lịch của tỉnh, tuy nhiên cũng có thể khai thác phát triển một số dịch vụ du lịch của vùng ven thành phố Cà Mau, đó là các dịch vụ phục vụ ngày nghỉ cuối tuần bằng các mô hình nhà nghỉ kết hợp ăn uống, vui chơi giải trí. Một số điểm có thể đón khách du lịch tham quan như:

- Sân chim Chà Là: thuộc địa bàn xã Đông Hưng, có diện tích 15,48 ha (diện tích có rừng năm 2009 là 10 ha), là một trong những sân chim có diện tích lớn của tỉnh Cà Mau, với hệ thực vật phong phú (theo tài liệu nghiên cứu có khoảng 80 loài) và tập trung nhiều loài chim khác nhau. Hiện tại sân chim Chà Là đã có tuyến đường giao thông đấu nối nên sẽ thuận lợi cho việc phát triển dịch vụ du lịch.

- Khu căn cứ Tỉnh ủy tại Lung Lá – Nhà Thể (xã Thạnh Phú). Đây là khu di tích lịch sử cách mạng, là công trình văn hóa lịch sử để giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ, kết hợp tham quan du lịch, nhất là các hoạt động về nguồn cho tuổi trẻ. 

- Khu du lịch sinh thái Quốc tế (xã Thạnh Phú), là khu du lịch nhà vườn mô phỏng không gian vùng quê Nam Bộ, có nhiều hoạt động giải trí khá thú vị để đến đây picnic cuối tuần

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Trước thế kỷ XIX, địa bàn huyện Cái Nước ngày nay là vùng đất hoang sơ, rậm rạp thuộc trấn Hà Tiên. Cư dân nơi đây ở từng cụm rải rác, chỉ tập trung nhiều ở thôn Tân Hưng. Thôn này lúc bấy giờ có khoảng 300 người chuyên sống bằng nghề nông, chủ yếu là trồng lúa nước, một số người sống ven sông với nghề bắt tôm, cua, cá. Dần dần vùng đất này trở nên trù phú, thu hút ngày càng đông người dân tứ xứ đến lập nghiệp xây dựng xóm làng.

Năm 1833, trấn Hà Tiên đổi thành tỉnh Hà Tiên, xứ Cái Thủy (Cái Nước ngày nay) thuộc tổng Quảng Xuyên, huyện Long Xuyên, tỉnh Hà Tiên. Thời Tự Đức, triều đình khuyến khích dân khẩn hoang, lập làng ở khắp vùng Nam Kỳ lục tỉnh. Dân cư các nơi đến vùng Cái Nước khẩn hoang sinh sống càng nhiều. Thời Pháp thuộc, xứ Cái Thủy thuộc quận Ngọc Hiển. Năm 1951 chia quận Ngọc Hiển là 2 quận Ngọc Hiển và Trần Văn Thời, xứ Cái Thủy thuộc quận Trần Văn Thời.

Quận Cái Nước được chính quyền Việt Nam Cộng hòa thành lập từ ngày 05 tháng 08 năm 1957, thuộc tỉnh An Xuyên, gồm có 6 xã: Hưng Mỹ, Tân Hưng Tây, Phú Mỹ, Tân Hưng Đông, Tân Hưng, Thuận Hưng. Quận lỵ đặt tại Cái Nước Ngọn. Ngày 19 tháng 05 năm 1958, xã Thuận Hưng được cắt về cho quận Năm Căn. Ngày 07 tháng 12 năm 1965, giao xã Tân Hưng về cho quận Đầm Dơi, đồng thời nhận xã Tân An từ quận Đầm Dơi chuyển qua. Ngày 09 tháng 05 năm 1969, giao hai xã Thuận Hưng, Tân Hưng Đông về cho quận Năm Căn. Ngày 13 tháng 09 năm 1974, giao xã Hưng Mỹ về cho quận Sông Ông Đốc cùng tỉnh.

Sau ngày 30 tháng 04 năm 1975, huyện Cái Nước thuộc tỉnh Minh Hải.

- huyện Cái Nước thành lập ngày 29 tháng 12 năm 1978[1]

  • Quyết định 326-CP[1] ngày 29 tháng 12 năm 1978 của Hội đồng Chính phủ phê chuẩn (về nguyên tắc) việc phân vạch địa giới hành chính huyện Cái Nước thuộc tỉnh Minh Hải, huyện Cái Nước (mới thành lập) có 18 xã, 1 thị trấn huyện lỵ. Tuy nhiên trong văn bản không ghi rõ tên các xã, thực tế chỉ có 8 xã: Đông Thới, Hưng Mỹ, Phú Hưng, Quách Phẩm A, Tân Hưng, Tân Hưng Đông, Trần Phán, Trần Thới.
  1. phía bắc giáp xã Lương Thế Trân (huyện Cà Mau);
  2. phía tây và tây bắc giáp xã Phong Lạc (huyện Trần Thời), xã Phú Mỹ A, xã Việt Khái (huyện Phú Tân);
  3. phía đông giáp xã Tạ An Khương, xã Tân Duyệt (huyện Ngọc Hiển);
  4. phía nam giáp huyện Năm Căn.
  • Quyết định 275-CP[2] ngày 25 tháng 07 năm 1979 của Hội đồng Chính phủ điều chỉnh địa giới một số xã của huyện Cái Nước thuộc tỉnh Minh Hải:
  1. Chia xã Tân Hưng thành bốn xã lấy tên là xã Tân Hưng, xã Thạnh Hưng, xã Phong Hưng và xã Hiệp Hưng.
  2. Chia xã Đông Thới thành hai xã lấy tên là xã Đông Thới và xã Tân Thới.
  3. Chia xã Hưng Mỹ thành ba xã lấy tên là xã Hưng Mỹ, xã Hòa Mỹ và xã Bình Mỹ.
  4. Trần Thới, sau khi cắt 2 phần 5 đất sang huyện Phú Tân, diện tích và số dân còn lại vẫn lấy tên là xã Trần Thới.
  5. Chia xã Phú Hưng thành hai xã lấy tên là xã Phú Hưng và xã Phú Lộc.
  6. Chia xã Tân Hưng Đông thành ba xã lấy tên là xã Tân Hưng Đông, xã Tân Hiệp và xã Cái Nước.
  7. Chia xã Trần Phán thành hai xã lấy tên là xã Tân Trung và xã Trần Phán.
  8. Chia xã Quách Phẩm A thành hai xã lấy tên là xã Quách Phẩm và xã Hòa Điền.
  • Quyết định 94-HĐBT[3] ngày 30 tháng 8 năm 1983 của Hội đồng Bộ trưởng giả thể huyện Cà Mau, tỉnh Minh Hải:
  1. Sáp nhập các xã Lương Thế Trân, Thạnh Trung, Thạnh Phú của huyện Cà Mau vào huyện Cái Nước cùng tỉnh
  2. Sáp nhập 1/3 ấp ông Muộng của xã Lý Văn Lâm (thị xã Cà Mau) vào xã Thạnh Phú của huyện Cái Nước.

- Sáp nhập huyện Phú Tân vào huyện Cái Nước từ ngày 17 tháng 5 năm 1984[4]

  • Quyết định 75-HĐBT[4] ngày 17 tháng 5 năm 1984 của Hội đồng Bộ trưởng:
  1. Cắt 4 xã Quách Phẩm, Trần Phán, Tấn Trung, Hoà Điền của huyện Cái Nước sáp nhập vào huyện Ngọc Hiển.
  2. Sáp nhập huyện Cái Nước và huyện Phú Tân thành một huyện lấy tên là huyện Cái Nước.
  3. Huyện Cái Nước gồm các xã Bình Mỹ, Cái Nước, Đông Thới, Hiệp Hưng, Hoà Mỹ, Hưng Mỹ, Lương Thế Tân, Nguyễn Việt Khái, Phong Hưng, Phú Hiệp, Phú Hoà, Phú Hưng, Phú Lộc, Phú Mỹ A, Phú Thành, Phú Thuận, Tân Hải, Tân Hiệp, Tân Hưng Đông, Tân Hưng Tây, Tân Hưng, Tân Nghiệp, Tân Phong, Tân Thới, Thạch Phúc, Thanh Hưng, Thạnh Trung, Trần Thời, Việt Cường, Việt Dũng, Việt Hùng, Việt Thắng, và thị trấn Phú Tân. Huyện lỵ đóng tại xã Cái Nước.
  1. phía đông giáp huyện Ngọc Hiển;
  2. phía tây giáp Vịnh Thái Lan;
  3. phía nam giáp huyện Năm Căn;
  4. phía bắc giáp thị xã Cà Mau.
  • Quyết định 33B-HĐBT[5] ngày 14 tháng 2 năm 1987 của Hội đồng Bộ trưởng về việc phân vạch, điều chỉnh địa giới hành chính một số xã, thị trấn của huyện Cái Nước, tỉnh Minh Hải:
  1. Sáp nhập xã Thạnh Trung và xã Lương Thế Trân thành một xã lấy tên là xã Lương Thế Trân.
  2. Sáp nhập xã Phú Hưng và xã Phú Lộc thành một xã lấy tên là xã Phú Hưng.
  3. Sáp nhập xã Hoà Mỹ và xã Hưng Mỹ thành một xã lấy tên là xã Hưng Mỹ.
  4. Sáp nhập xã Phú Mỹ và xã Phú Thuận thành một xã lấy tên là xã Phú Mỹ.
  5. Sáp nhập xã Phú Hoà và xã Phú Thành thành một xã lấy tên là xã Phú Hoà.
  6. Sáp nhập xã Việt Khái với xã Việt Dũng thành một xã lấy tên là xã Việt Khái.
  7. Giải thể xã Phong Hưng để sáp nhập vào xã Tân Hưng và xã Hưng Hiệp.
  8. Sáp nhập xã Việt Cường với xã Việt Hùng thành một xã lấy tên là xã Việt Hùng; tách một phần dân số và diện tích của xã Việt Hùng để sáp nhập vào xã Việt Thắng.
  9. Giải thể xã Tân Thới để sáp nhập vào xã Trần Thới và xã Đông Thới.
  10. Sáp nhập xã Tân Phong và xã Tân Nghiệp thành một xã lấy tên là xã Tân Nghiệp; tách một phần dân số và diện tích để sáp nhập vào thị trấn Phú Tân.
  11. Giải thể xã Cái Nước để thành lập thị trấn Cái Nước (thị trấn huyện lỵ huyện Cái Nước).
  • Quyết định 51/QĐ-TCCP[6] ngày 02 tháng 02 năm 1991 của Ban Tổ chức Chính phủ về việc điều chỉnh địa giới phường, xã thuộc thị xã Bạc Liêu và huyện Cái Nước, tỉnh Minh Hải:
  1. Sáp nhập xã Thạnh Phú vào xã Lương Thế Trân.
  2. Sáp nhập xã Thạnh Hưng vào xã Tân Hưng.
  3. Sáp nhập xã Hưng Hiệp vào xã Hưng Thới.
  4. Sáp nhập xã Bình Mỹ vào xã Hưng Mỹ.
  5. Sáp nhập xã Nghĩa Hiệp vào xã Tân Hưng Đông.
  6. Sáp nhập xã Việt Thắng vào xã Trần Thới.
  7. Sáp nhập xã Phú Hòa vào xã Phú Mỹ.
  8. Hợp nhất xã Phú Hiệp, xã Tân Hiệp và thị trấn Phú Tân thành xã Phú Tân.
  9. Hợp nhất xã Việt Hùng và xã Việt Khái thành xã Tân Hưng Tây mới.
  10. Hợp nhất xã Tân Hải với xã Tân Hưng Tây cũ thành xã Nguyễn Việt Khái.
  • Nghị định 109-CP[7] ngày 29 tháng 08 năm 1994 của Chính phủ thành lập thị trấn Cái Đôi Vàm thuộc huyện Cái Nước, tỉnh Minh Hải:
  1. Thành lập thị trấn Cái Đôi Vàm trên cơ sở điều chỉnh một phần diện tích tự nhiên và nhân khẩu của xã Nguyễn Việt Khái.
  • Nghị quyết [8] ngày 06 tháng 11 năm 1996 của Quốc hội, chia tỉnh Minh Hải thành hai tỉnh là tỉnh Bạc Liêu và tỉnh Cà Mau, Khi đó huyện Cái Nước trở thành huyện của tỉnh Cà Mau.
  • Nghị định 42/1999/NĐ-CP[9] ngày 25 tháng 06 năm 1999 của Chính phủ về việc thành lập xã Việt Thắng trên cơ sở có 3.865,27 ha diện tích tự nhiên và 10.300 người của xã Trần Thới, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.
  • Nghị định 41/2003/NĐ-CP[10] ngày 22 tháng 04 năm 2003 của Chính phủ về việc thành lập xã Tân Hải trên cơ sở 4.233,56 ha diện tích tự nhiên và 9.532 người của xã Phú Tân, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.

Đến thời điểm năm 2003, huyện Cái Nước có 13 xã: Đông Thới, Hưng Mỹ, Lương Thế Trân, Nguyễn Việt Khái, Phú Hưng, Phú Mỹ, Phú Tân, Tân Hải, Tân Hưng, Tân Hưng Đông, Tân Hưng Tây, Trần Thới, Việt Thắng và 2 thị trấn: Cái Nước, Cái Đôi Vàm.

- Thành lập huyện Phú Tân trên cơ sở huyện Cái Nước từ ngày 17 tháng 11 năm 2003[11]

  • Nghị định 138/2003/NĐ-CP[11] ngày 17 tháng 11 năm 2003 của Chính phủ về việc thành lập huyện Phú Tân trên cơ sở 44.595 ha diện tích tự nhiên và 109.642 người của huyện Cái Nước.
  1. Huyện Phú Tân có 44.595 ha diện tích tự nhiên và 109.642 người; có 7 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm các xã Phú Mỹ, Phú Tân, Tân Hải, Việt Thắng, Tân Hưng Tây, Nguyễn Việt Khái và thị trấn Cái Đôi Vàm.
  2. Sau khi điều chỉnh địa giới hành chính thành lập huyện Phú Tân, huyện Cái Nước còn lại 39.514 ha diện tích tự nhiên và 136.619 người; có 8 đơn vị hành chính trực thuộc gồm các xã Lương Thế Trân, Phú Hưng, Hưng Mỹ, Tân Hưng, Tân Hưng Đông, Đông Thới, Trần Thới và thị trấn Cái Nước.
  • Nghị định 192/2004/NĐ-CP[12] ngày 23 tháng 11 năm 2004 của Chính phủ về việc thành lập xã thuộc huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau:
  1. Thành lập xã Thạnh Phú huyện Cái Nước trên cơ sở 3.111 ha diện tích tự nhiên và 13.725 người của xã Lương Thế Trân.
  2. Thành lập xã Hoà Mỹ thuộc huyện Cái Nước trên cơ sở 3.860,20 ha diện tích tự nhiên và 9.326 người của xã Hưng Mỹ.
  3. Thành lập xã Đông Hưng thuộc huyện Cái Nước trên cơ sở 3.283,40 ha diện tích tự nhiên và 10.299 người của xã Đông Thới.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Quyết định 326-CP năm 1979 phân vạch địa giới các huyện và thị xã thuộc tỉnh Minh Hải do Hội đồng Chính phủ ban hành
  2. ^ Quyết định 275-CP năm 1979 điều chỉnh địa giới một số xã và thị trấn thuộc tỉnh Minh Hải do Hội đồng Chính phủ ban hành
  3. ^ Quyết định 94-HĐBT năm 1983 phân vạch địa giới thị xã Cà Mau và các huyện Cà Mau, Giá Rai, Thới Bình, Cái Nước thuộc tỉnh Minh Hải do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
  4. ^ a ă Quyết định 75-HĐBT năm 1984 phân vạch địa giới một số huyện, thị xã thuộc tỉnh Minh Hải do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
  5. ^ Quyết định 33B-HĐBT năm 1987 về việc phân vạch, điều chỉnh địa giới hành chính một số xã, phường, thị trấn của các thị xã Bạc Liêu, cà Mau và các huyện Cái Nước, Đầm Dơi, Ngọc Hiển, Vĩnh Lợi, Giá Rai, Hồng Dân, Thới Bình, Trần Văn Thời thuộc tỉnh Minh Hải do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
  6. ^ Quyết định 51/QĐ-TCCP điều chỉnh địa giới phường, xã thuộc thị xã Bạc Liêu và huyện Cái Nước, tỉnh Minh Hải
  7. ^ Nghị định 109-CP thành lập thị trấn Cái Đôi Vàm thuộc huyện Cái Nước, tỉnh Minh Hải
  8. ^ Nghị quyết về việc chia và điều chỉnh địa giới hành chính một số tỉnh
  9. ^ Nghị định 42/1999/NĐ-CP về việc thành lập xã thuộc các huyện Đầm Dơi, Trần Văn Thời, Cái Nước và Ngọc Hiển tỉnh Cà Mau
  10. ^ Nghị định 41/2003/NĐ-CP về việc thành lập xã thuộc các huyện Cái Nước và U Minh, tỉnh Cà Mau
  11. ^ a ă Nghị định 138/2003/NĐ-CP về việc thành lập các huyện Năm Căn và Phú Tân, tỉnh Cà Mau
  12. ^ Nghị định 192/2004/NĐ-CP về việc thành lập xã thuộc các huyện Cái Nước và Phú Tân, tỉnh Cà Mau

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]