Thực dưỡng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Chế độ ăn kiêng thực dưỡng
Thuốc thay thế
Tuyên bốTác dụng lên sức khỏe từ chế độ ăn uống tránh thực phẩm tinh chế và hầu hết các sản phẩm từ động vật.
Lĩnh vực liên quanĂn kiêng
Người khởi xướngSagen Ishizuka
Người kế thừaGeorge Ohsawa
Michio Kushi
William Dufty
Edward Esko
Gạo lứt cùng với muối , một trong những nền tảng quan trọng của phương pháp thực dưỡng

Chế độ ăn kiêng Thực dưỡng (tiếng Anh: macrobiotic, xuất phát từ tiếng Hi Lạp μακρός "lớn" và βίος "đời sống") là một chế độ ăn kiêng pescetaria (tức là ăn hải sản, rau củ, trứng sữa, và đôi khi ăn chay hoặc thuần chay) một cách cố định dựa trên các ý tưởng về các loại thực phẩm được rút ra từ Thiền tông.[1] Chế độ ăn uống này cố gắng cân bằng các yếu tố âm dương của thực phẩm và dụng cụ nấu nướng. Nguyên tắc chính của chế độ ăn uống thực dưỡng là giảm các sản phẩm từ động vật, ăn thực phẩm được trồng tại địa phương đang trong mùa và tiêu thụ bữa ăn trong chừng mực. Điểm hội tụ của triết lý và thực hành nằm chính yếu ở thực phẩm và sự ăn uống.[1]

Hiện tại, không có một bằng chứng lâm sàng nào có giá trị nghiên cứu cao cho thấy chế độ ăn uống thực dưỡng là hữu ích cho những người mắc bệnh ung thư hoặc các bệnh khác, và nó có thể gây hại.[2][1] Cả Hiệp hội Ung thư Hoa KỳTổ chức Nghiên cứu Ung thư Vương quốc Anh đều khuyên không nên áp dụng chế độ ăn kiêng này.[3][4]

Theo Ohsawa, nếu chúng ta được nuôi dưỡng bằng thực phẩm phù hợp, dựa trên nền tảng quy luật của vũ trụ, các cơ quan trong cơ thể sẽ hoạt động điều hòa, không những sức khỏe được phục hồi và khang kiện trở lại, mà còn khiến cho trí phán đoán của con người trở nên sáng suốt và có khả năng nhận thức được chân lý, có nghĩa là, thể tính trật tự của vũ trụ và nhân sinh.[cần dẫn nguồn] Tên gọi này vẫn còn được nhiều người sử dụng cho đến ngày nay.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Nguồn gốc[sửa | sửa mã nguồn]

Thời Hi Lạp Cổ đại, người ta đã sử dụng thuật ngữ "Đời sống lớn" (macrobiotic) để chỉ một phép dưỡng sinh tự nhiên và kéo dài tuổi xuân. Năm 1796, bác sĩ người Đức mang tên Christoph Wilhelm Hufeland đã ngợi ca một cuộc sống lành mạnh và một chế độ ăn uống thích hợp, được gọi là Makrobiotik. Georges Ohsawa đã mượn tên này để "tây phương hóa" nghệ thuật Tân Dưỡng Sinh mà ông truyền bá.

Ở Phương Đông, từ lâu các dân tộc nơi đây đã thiết lập được mối quan hệ giữa thực phẩm, vạn vật,năng lượng tâm linh và sức khỏe qua một hệ thống triết lý sâu sắc từ Kinh Dịch. Nền y khoa của phương Đông chú trọng sử dụng các loại thảo dược, cùng phương pháp ăn uống thích hợp để điều tiết sức khỏe. Trong thiền tông Nhật Bản, người ta đã áp dụng một chế độ ăn gọi là "nấu ăn shōjin" (精進料理, shōjin ryōri), là một chế độ ăn giúp tăng cường trí phán đoán.

Giáo sư Sagen Ijizuka (1850 - 1909) người Nhật, được xem là người đi tiên phong trong việc ghi lại các hiểu biết trong truyền thống sang ngôn ngữ khoa học. Trước ông, có nhiều người đã nghiên cứu con đường này, nhất là Ekiken Kaibara (1630-1716), trong đó tất cả các ghi chép của ông được tập hợp lại trong cuốn sách tên là Yojokun (Lời khuyên để Trường sinh)

Ohsawa[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Georges Ohsawa
G.Ohsawa

Một trong những mục đích của Georges Ohsawa là thống nhất các quan niệm duy vật của phương Tây và siêu hình học của Phương Đông, qua đó giải quyết các xung đột của nhân loại. Ông dành trọn cả cuộc đời để chứng minh tính đúng đắn và cần thiết của lý thuyết của mình bằng bất cứ giá nào. Nó nhấn mạnh sự cần thiết phải thông đạt về lý thuyết Âm-Dương, cùng với sự thực hành của bản thân để kiểm chứng. Với ông, mục đích trước hết là khai mở trí phán đoán, để con người có khả năng đọc hiểu một cách tổng thể tất cả các tình huống và những vấn đề hóc búa, qua đó quyết định có nên làm hay không, tự do trong sự biết rõ nguyên nhân và kết quả của chúng.

Hậu Ohsawa[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Ohsawa mất, Thực dưỡng được truyền bá đi khắp thế giới bởi các môn đệ của ông, với tư cách là một phương pháp với mục đích để có được sức khỏe. Vào giữa những năm 70, nó được phổ biến bởi Michio Kushi (1926), một đệ tử của Ohsawa, tại Boston, Hoa Kỳ. Kushi đã phát triển phương pháp này một cách có hệ thống, có sự hợp tác và đồng thuận với các cơ quan chức trách (Bộ Y tế Hoa Kỳ, các hiệp hội Y-Bác sĩ...), nhấn mạnh đến mặt dưỡng sinh và trị bệnh của phương pháp này. Nó cũng được điều chỉnh đề phụ hợp hơn với chế độ ăn của người Mỹ để họ dễ dàng thực hiện hơn (được gọi là Thực dưỡng hiện đại) kết hợp với các phương pháp khác như bấm huyệt, xoa bóp, châm cứu, và các học thuyết Đông Y khác như Ngũ hành...

Ở Pháp, trong những năm 1980, sự việc của Roger Ikor (nhà văn Pháp, có con trai thực hiện phương pháp Thực dưỡng đã tự tử), phương pháp này bị liệt vào một trong những phong trào nguy hiểm. Ngày nay, tại đây nó vẫn giữ được hình ảnh của mình, với các luận cứ về dinh dưỡng vững chắc được các phương tiện truyền thống ca ngợi. Thực dưỡng, với tư cách là một chế độ dinh dưỡng vì sức khỏe, đã được các nước Anglo-Saxon và các nước Tây Bắc Âu (Hà Lan, Pháp, Đức) đón nhận nồng nhiệt. Trong vài năm gần đây, nó trở thành mốt tại Mỹ, nhờ vào số lượng người đông đảo thực hành, đặc biệt là các ngôi sao nổi tiếng. Trong những năm 1990, nó đã được phổ biến mạnh mẽ tại Đông Âu.

Một số các nhà thực dưỡng nổi tiếng:

Nền tảng[sửa | sửa mã nguồn]

Chế độ ăn uống thực dưỡng dựa trên khái niệm cân bằng Âm dương.[5]

Chế độ ăn uống thực dưỡng gắn liền với Thiền tông và dựa trên ý tưởng cân bằng âm dương.[6] Chế độ ăn uống này đề xuất ra 10 kế hoạch ăn uống khác nhau được thực hiện để đạt tỷ lệ âm : dương là 5:1.[5] Chế độ ăn thực dưỡng được phổ biến bởi George Ohsawa vào những năm 1930 và sau đó được đệ tử của ông là Michio Kushi nối tiếp.[4] Nhà lịch sử y học Barbara Clow viết rằng, cũng giống như nhiều loại phương pháp chữa bệnh bừa bãi khác, thực dưỡng chứa các quan điểm về bệnh tật và liệu pháp mâu thuẫn với y học chính thống.[7]

Thực dưỡng nhấn mạnh các ngũ cốc nguyên hạt được trồng tại địa phương, đậu, rau củ, các loại rong biển ăn được, các sản phẩm từ đậu nành lên men và trái cây kết hợp thành các bữa ăn theo nguyên tắc cân bằng của Trung Quốc cổ đại được gọi là âm dương.[8] Ngũ cốc nguyên hạt và các sản phẩm của ngũ cốc nguyên hạt như gạo lứt (gạo đỏ hoặc gạo nâu) và sợi mì kiều mạch của Nhật Bản (soba), nhiều loại rau củ nấu chín và rau sống, đậu và các sản phẩm từ đậu, gia vị tự nhiên nhẹ, cá, các loại quả cứng và hạt, đồ uống nhẹ (không chứa chất kích thích) như trà bancha, và trái cây được khuyến khích dùng.[9]

Một số người đề xướng thực dưỡng nhấn mạnh rằng âm dương là những tính chất tương đối và chỉ có thể xác định được thông qua một so sánh. Tất cả các thực phẩm đều được coi là có cả hai tính chất của âm và dương nhưng với một tỉ lệ nào đó. Các thực phẩm có được gọi là dương thì được cho là cứng chắc, đậm đặc, nặng và nóng, trong khi những thực phẩm có tính chất âm được coi là có tính giản nỡ, nhẹ, lạnh và tính khuếch tán.[10] Tuy nhiên, các điều này là tương đối; "Dương" hay "Âm" chỉ được nói đến liên quan đến các thực phẩm khác.[11]

Gạo lứt và các loại ngũ cốc nguyên hạt khác như lúa mạch, , yến mạch, quinoa, lúa mì, lúa mạch đen, và teff được thực dưỡng coi là các thực phẩm cân bằng âm dương. Do đó, trong các danh sách liệt kê các loại thực phẩm thực dưỡng, chúng thường được xác định là âm hay dương bằng cách so sánh với các loại ngũ cốc nguyên hạt.[12]

Các loài rau củ trong họ cà bao gồm cà chua, ớt, khoai tâycà tím cùng với rau bina, củ cải đường đều không được khuyến khích sử dụng hoặc chỉ được dùng một cách rất hạn chế trong nấu ăn theo phương pháp thực dưỡng, vì chúng được coi là mang tính cực kỳ âm.[13] Một số người hành nghề thực dưỡng cũng không khuyến khích việc sử dụng thuốc ngủ vì chất solanine kiềm được cho là ảnh hưởng đến sự cân bằng canxi.[14] Một số người ủng hộ theo chế độ thực dưỡng tin rằng rau củ bạch anh có thể gây viêm trong cơ thể và loãng xương.[15]

Ung thư[sửa | sửa mã nguồn]

Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ khuyến cáo "chế độ ăn ít chất béo, chất xơ bao gồm chủ yếu là các sản phẩm thực vật"; tuy nhiên, họ kêu gọi những người mắc bệnh ung thư không nên dựa vào chương trình ăn kiêng như một phương pháp điều trị duy nhất hoặc chính.[4] Nghiên cứu Ung thư Vương quốc Anh tuyên bố: "Không có bằng chứng khoa học nào chứng minh rằng chế độ ăn uống thực dưỡng có thể điều trị hoặc chữa khỏi bệnh ung thư hoặc bất kỳ bệnh nào khác".[3]

Dinh dưỡng[sửa | sửa mã nguồn]

Một số nguyên liệu cơ bản thực dưỡng

Hầu hết chế độ ăn uống thực dưỡng không phải là cung cấp dinh dưỡng.[16]

cung cấp vitamin B12 trong chế độ ăn thực dưỡng,[17] vì các chất tương tự vitamin B12 chưa được tìm thấy trong bất kỳ thực phẩm tự nhiên nào, bao gồm các loại rong biển, đậu nành, các sản phẩm lên men và tảo.[18] Mặc dù thực phẩm có nguồn gốc từ thực vật không chứa vitamin B12 một cách tự nhiên, nhưng một số thực phẩm được tăng cường thêm B12 và các chất dinh dưỡng khác trong quá trình chế biến.[19] Vitamin A có sẵn trong thực vật như cà rốt và rau bina.[20] Protein đầy đủ có sẵn trong các loại ngũ cốc, hạt, đậu và các sản phẩm từ đậu. Nguồn axit béo Omega-3 được thảo luận trong bài viết liên quan, và có chứa các sản phẩm đậu nành, quả óc chó, hạt lanh, hạt bí ngô, hạt cây gai dầu và cá béo. Riboflavin cùng với hầu hết các vitamin B khác có nhiều trong ngũ cốc nguyên hạt. Sắt ở dạng không heme trong đậu, các loại rau biển và rau xanh là đủ cho sức khỏe tốt; thông tin chi tiết có trong cơ sở dữ liệu của USDA.[21]

An toàn[sửa | sửa mã nguồn]

Các biến chứng[sửa | sửa mã nguồn]

Một trong những phiên bản sớm hơn của chế độ ăn thực dưỡng có liên quan đến việc chỉ ăn gạo lức và uống nước đã được liên hệ đến sự thiếu hụt dinh dưỡng nghiêm trọng và thậm chí tử vong. Chế độ ăn kiêng thực dưỡng nghiêm ngặt trong đó không ăn sản phẩm từ động vật có thể dẫn đến thiếu hụt dinh dưỡng trừ khi chúng được lên kế hoạch một cách cẩn thận trước. Nguy hiểm có thể tồi tệ hơn đối với những người mắc bệnh ung thư, những người có thể phải đối mặt với việc sụt cân không mong muốn và thường có nhu cầu dinh dưỡng và calo tăng lên. Dựa vào thực dưỡng để điều trị bệnh như là phương pháp duy nhất và né tránh hoặc trì hoãn chăm sóc y tế thông thường theo bác sĩ cho bệnh nhân ung thư có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng về sức khỏe.[4]

Trẻ em[sửa | sửa mã nguồn]

Trẻ em cũng có thể bị thiếu hụt dinh dưỡng do chế độ ăn uống thực dưỡng.[4]

Phụ nữ mang thai[sửa | sửa mã nguồn]

Chế độ ăn thực dưỡng chưa được kiểm nghiệm hay thử nghiệm ở phụ nữ đang mang thai hoặc cho con bú, và các dự đoán tệ nhất là không đủ các chất dinh dưỡng cần thiết cho sự phát triển bình thường của thai nhi.[4]

Lý giải[sửa | sửa mã nguồn]

Bệnh tật[sửa | sửa mã nguồn]

Theo lý thuyết Thực dưỡng, chỉ có một căn bệnh duy nhất, đó là sự kiêu ngạo, luôn cho mình là trung tâm; tất cả các văn bệnh khác chỉ là sự phản ứng trước lối sống này. Thuyết trung tâm kéo theo sự thiếu cái nhìn tổng thể: người ta thấy mình tách biệt với những thứ xung quanh. Cái nhìn nhị nguyên này cũng kéo theo mỗi quyết định trong cuộc sống, trên tất cả các lĩnh vực, đều bị chia rẽ bởi các tính chất được gán cho, do người ta không nhìn nhận ra bề mặt và bề trái của mỗi vấn đề. Điều này khiến cho mọi mặt trong cuộc sống bị đảo lộn, trước hết hậu quả là sự suy thoái về thể chất và trí phán đoán.

Những gì người ta gọi là "bệnh tật", theo cái nhìn của Thực dưỡng, chỉ là sự phản ứng tự nhiên của cơ thể để tự tái lập quân bình. Suốt quá trình này, chúng thải ra những chất độc thừa thãi trong cơ thể; cái người ta gọi là "triệu chứng lâm sàng". Thực dưỡng không phải là phương pháp đối chứng trị liệu, chú trọng đến triệu chứng, mà trị tận gốc căn bệnh. Thêm vào đó, Thực dưỡng cần lòng tin tối đa vào nó để quá trình "thải độc" được diễn ra hiệu quả. Phương pháp yêu cầu một chế độ ăn chặt chẽ, theo quân bình âm dương, mục đích là không để nuôi dưỡng bệnh tật mà để tẩy độc một cách tự nhiên cho cơ thể.

Sức khỏe[sửa | sửa mã nguồn]

Liên quan đến sức khỏe, quan niệm của Thực dưỡng cũng khác so với các nền y học khác. Theo đó, nếu bệnh tật là do sự kiêu ngạo, sức khỏe, trái lại, chính là sự khiêm tốn (không chỉ là biểu hiện bên ngoài, mà ở sâu bên trong). Trong tác phẩm Phương pháp trường sinh và đạo thiền, Ohsawa đã đưa ra bảy điều kiện sức khỏe để người thực hành phương pháp tự đánh giá, trong đó điều kiện số 7 quan trọng hơn 6 điều kiện trước đó hợp lại[cần dẫn nguồn]

  1. Không biết mệt mỏi
  2. Ăn ngon miệng
  3. Ngủ sâu giấc
  4. Kí ức tốt
  5. Tính hài hước
  6. Thông tuệ trong tư duy và hành động
  7. Có niềm tin tuyệt đối vào công bằng (trật tự Vũ Trụ)

Phương pháp thực dưỡng nhằm đưa cơ thể con người trở về quân bình âm - dương. Dưới quan điểm của thực dưỡng, mọi bệnh tật đều xuất phát từ sai lầm của con người, trước tiên là việc tiêu thụ thực phẩm đi ngược lại với quy luật của vũ trụ khiến cơ thể bị mất quân bình âm dương. Điều này gần với y học cổ truyền.

Nhưng khác với các nền y khoa khác, sử dụng dược phẩm để đối chứng trị liệu, thực dưỡng sử dụng những thực phẩm ăn uống truyền thống và quân bình âm dương nhằm tạo một môi trường thích hợp để cơ thể tự tái thiết, mà nền tảng chính là gạo lứt và các loại ngũ cốc nguyên cám khác. Chúng là những thức ăn hằng ngày của các dân tộc trên thế giới: các dân tộc Châu Á sử dụng lúa gạo; châu Âu với lúa mìlúa mạch; châu Mĩ với ngôquinoa...bên cạnh đó, căn cứ vào tình trạng âm - dương, thực dưỡng có các món ăn hay phương pháp được gọi là trợ phương giúp hỗ trợ quá trình phục hồi của cơ thể

Ohsawa đã đưa ra 10 số ăn nhằm đạt được sức khỏe và hạnh phúc như sau:[cần dẫn nguồn]

7) 100% gạo lứt

6) 90% gạo lứt 10% rau củ xào,hấp

5) 80% gạo lứt 20% rau củ xào,hấp

4) 70% gạo lứt 20% rau củ xào,hấp 10% canh súp

3) 60% gạo lứt 30% rau củ xào,hấp 10% canh súp

2) 50% gạo lứt 30% rau củ xào,hấp 10% canh súp 10% thịt

1) 40% gạo lứt 30% rau củ xào,hấp 10% canh súp 20% thịt

-1) 30% gạo lứt 30% rau củ xào,hấp 10% canh súp 20% thịt 10% rau sống, trái cây

-2) 20% gạo lứt 30% rau củ xào,hấp 10% canh súp 25% thịt 10% rau sống, trái cây 5% tráng miệng (món ngọt)

-3) 10% gạo lứt 30% rau củ xào,hấp 10% canh súp 30% thịt 15% rau sống, trái cây 5% tráng miệng (món ngọt)

Nước uống: càng ít càng tốt, vừa đủ giải khát.

Các số ăn càng cao thì hiệu quả trị bệnh càng nhanh. Số 7 (hay được gọi nôm na là "Gạo lứt muối mè") là phương pháp nhanh nhất để chữa lành mọi bệnh tật, đạt được quân bình về cả thể xác lẫn tinh thần, giúp khai mở trí phán đoán vốn có của con người. Tuy nhiên, đòi hỏi ý chí rất cao của người thực hiện.

Mục đích của thực dưỡng không chỉ là để chữa bệnh cho con người, nó còn hướng tới giúp con người đạt được sự hài hòa về thể xác, lẫn tinh thần, hòa nhập cùng cuộc sống của vũ trụ. Sự thay đổi của máu huyết trong quá trình ăn thực dưỡng sẽ giúp thay đổi cuộc sống xung quanh của họ.

Nguyên tắc[sửa | sửa mã nguồn]

Ăn toàn phần[sửa | sửa mã nguồn]

Bánh mì ngũ cốc nguyên cám

Thực phẩm toàn phần là thực phẩm chưa qua hoặc qua ít công đoạn chế biến nhất. Ví dụ như ngũ cốc nguyên cám, rau củ sạch nguyên vỏ, đậu hạt, đường đen, động vật (ăn cả con và cả xương)... Theo Thực dưỡng, ăn toàn phần chính là tôn trọng trật tự của vũ trụ, vì mọi thực phẩm toàn phần đều có xu hướng quân bình âm dương thông qua việc hấp thu những năng lượng của vũ trụ để nhằm mục đích nuôi sống con người. Khi tiêu thụ thực phẩm toàn phần, cơ thể con người dễ dàng tái lập lại quân bình âm dương, từ đó bệnh tật được đẩy lùi, sức khỏe được khang kiện. Ohsawa cho rằng bệnh tật chính là sự đi ngược lại quy luật này.[cần dẫn nguồn]

Thực tế khoa học đã chứng minh mối liên hệ giữa những thực phẩm tinh chế (bột mì trắng, gạo trắng, đường trắng...) với các bệnh như tiểu đường, ung thư, tim mạch...những thực phẩm tinh chế đều đánh mất đi rất nhiều chất dinh dưỡng như các vitamin, và muối khoáng dẫn đến việc quá thiếu hụt các chất cần thiết và thừa thãi những chất không cần thiết. Ngày càng nhiều các khám phá về tác dụng tuyệt vời của ngũ cốc thô trong việc chữa trị các căn bệnh thời đại hiện nay mà khoa học cho là nan y. Ví dụ như bệnh tiểu đường, khi ăn gạo xát trắng sẽ khiến cho lượng đường huyết trong máu tăng cao một cách ồ ạt, làm các cơ quan trong cơ thể như tuyến tụy, gan, tuyến thượng thận phải làm việc mệt mỏi để điều tiết.[cần dẫn nguồn]

Trái lại, khi ăn gạo lứt, lượng đường được bổ sung một cách chậm rãi và từ từ, khiến đường không bị bùng phát mạnh, đồng thời nhiều khoáng chất thiếu hụt được bổ sung từ vỏ cám. Từ đó, nhờ vào khả năng tự tái lập quân bình của cơ thể mà các cơ quan tụy tạng phục hồi và hoạt động bình thường trở lại. Hay sự tiêu thụ quá nhiều thực phẩm gây axit trong máu như đạm động vật, hay đường tinh chế, khiến cho cân bằng pH trong máu bị phá vỡ, buộc chúng phải rút bớt lượng khoáng chất trong xương ra để tái lập lại cân bằng này, gây nên sỏi thậnloãng xương.[cần dẫn nguồn]

Từ thiên nhiên[sửa | sửa mã nguồn]

Các sản phẩm chay từ thiên nhiên

Thực phẩm thiên nhiên ở đây bao gồm các thực phẩm đúng mùa và trồng tại địa phương. Theo thuyết Thân thổ bất nhị[nào?] trong triết học Trung Hoa (Shin (身 thân) Do (土Thổ) Fu (不Bất) Ji (二 Nhị)), con người và thiên nhiên vốn gắn bó mật thiết với nhau, như hai mà một, như một mà hai. Con người ăn thực phẩm từ thiên nhiên, vì thế máu, nội tạng, khí lực cũng chính là từ thiên nhiên. Thực phẩm thiên nhiên sinh ra là để nuôi sống con người.

Vì vậy, con người sẽ khỏe khoắn và mạnh mẽ nếu như họ tiêu thụ thực phẩm đúng mùa, trồng tại địa phương họ sinh sống (theo thực dưỡng, không ăn các loại thực phẩm cách nơi mình ở trên 50km là tốt nhất), giúp họ thích nghi được với các điều kiện khách quan bên ngoài. Đây là sự tuân theo trật tự của vũ trụ. Thực phẩm thiên nhiên còn là thực phẩm không hóa chất và không biến đổi về cấu trúc gen. Thực phẩm biến đổi gen, nhiễm hóa chất sẽ làm xáo trộn hoạt động của cơ thể, gây nên bệnh tật cho con người.[cần dẫn nguồn]

Quân bình[sửa | sửa mã nguồn]

Ăn uống quân bình âm-dương là nguyên tắc vô cùng quan trọng của thực dưỡng. Căn cứ vào các tiêu chí phân định âm dương như hình dáng, thành phần hóa học, hoạt tính, địa phương, thời tiết, cách trồng trọt, chế biến...mà quan trọng nhất là tỉ số K/Na mà người ta có thể phân định được tính âm/dương của thực phẩm đối với cơ thể con người. Cũng theo đó, cơ thể con người bị bệnh là do mất quân bình quá lớn giữa 2 yếu tố âm và dương. Vì vậy, thực dưỡng phân chia làm hai loại bệnh âm và bệnh dương, do tiêu thụ những thực phẩm quá thiên về âm, hay thiên về dương và khuyến khích tiêu thụ những thực phẩm gần quân bình.

Thực phẩm âm giúp con người trở nên điềm tĩnh, mềm mỏng, nhưng cực âm sẽ khiến mọi hoạt động của tế bào bị đình trệ. người ta trở nên nhu nhược, yếu đuối. Thực phẩm dương giúp con người mạnh mẽ và quyết đoán, nhưng cực dương sẽ khiến cho họ trở nên bảo thủ, luôn căng thẳng, bức bối. Chính sự rối loạn hoạt động của các cơ quan trong cơ thể do tiêu thụ quá nhiều các sản phẩm thức ăn cực âm và cực dương mà con người bị bệnh tật. Hạt gạo lứt được coi là thực phẩm quân bình, là nền tảng của sức khỏe.

Tính âm dương của thực phẩm chỉ là tương đối tùy thuộc vào việc nó được đem so sánh với một thực phẩm khác trong cùng hay khác giới: ví dụ củ cà rốt dương nhất trong số các rau củ, nhưng âm nhất trong số các ngũ cốc và động vật. Cá chép âm nhất trong giới động vật nhưng dương hơn rau củ. Đi từ âm đến dương theo các nhóm thực phẩm: (cực Âm)---> Chất gây nghiện tổng hợp - Chất gây nghiện tự nhiên (rượu) - Đường - Dầu ăn - Men - Mật ong - Quả - Nước - Hạt - Rong biển - Rau trồng cạn - Đậu quả - Hạt ngũ cốc - Động vật giáp xác (tôm, cua, hến, ốc,...) - Miso - Cá - Tamari - Muối thô - Thịt gia cầm - Thịt gia súc - Trứng --> Muối tinh (cực Dương)

Lòng tri ân[sửa | sửa mã nguồn]

Khi ăn, người ta cần tỏ lòng tri ân đối với thực phẩm, bởi chúng đã hấp thụ những tinh túy từ trời đất để nuôi sống con người. Đồng thời, phải biết ơn những người đã vất vả làm ra nó. Qua sự tri ân, con người sẽ ngày càng nhận ra mối liên hệ của mình đối với thiên nhiên và vũ trụ là một sự thống nhất.


Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â Lerman RH (7 tháng 12 năm 2010). “The Macrobiotic Diet in Chronic Disease”. Nutrition in Clinical Practice 25 (6): 621–626. doi:10.1177/0884533610385704. 
  2. ^ Hübner J, Marienfeld S, Abbenhardt C, Ulrich CM, Löser C (tháng 11 năm 2012). “[How useful are diets against cancer?]”. Deutsche Medizinische Wochenschrift (Review) (bằng tiếng German) 137 (47): 2417–22. PMID 23152069. doi:10.1055/s-0032-1327276. 
  3. ^ a ă “Macrobiotic diet”. Cancer Research UK]]. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2017. 
  4. ^ a ă â b c d Russell J; Rovere A biên tập (2009). “Macrobiotic Diet”. American Cancer Society Complete Guide to Complementary and Alternative Cancer Therapies (ấn bản 2). American Cancer Society. tr. 638–642. ISBN 9780944235713. 
  5. ^ a ă Roth RA, Wehrle KL (2016). “Chapter 2: Planning a Healthy Diet”. Nutrition & Diet Therapy (ấn bản 12). Cengage Learning. tr. 43. ISBN 978-1-305-94582-1. The macrobiotic diet is a system of 10 diet plans, developed from Zen Buddhism 
  6. ^ Bender DA (2014). diet, macrobiotic. A Dictionary of Food and Nutrition (Oxford University Press). ISBN 9780191752391. 
  7. ^ Clow B (2001). Negotiating Disease: Power and Cancer Care, 1900-1950. McGill-Queen's University Press. tr. 63. Before we explore medical reactions to therapeutic innovations in this era, we must stop to consider the meaning of 'alternative medicine' in this context. Often scholars use the term to denote systems of healing that are philosophically as well as therapeutically distinct from regular medicine: homeopathy, reflexology, rolfing, macrobiotics, and spiritual healing, to name a few, embody interpretations of health, illness, and healing that are not only different from, but also at odds with conventional medical opinion. 
  8. ^ William Dufty with Sakurazawa Nyoiti (1965) You Are All Sanpaku, University Books
  9. ^ William Dufty with Sakurazawa Nyoiti (1965) You Are All Sanpaku, University Books
  10. ^ Porter, pp. 22–25
  11. ^ Porter, pp. 44–49
  12. ^ Porter, pp. 71–78
  13. ^ Kushi and Jack, p. 119.
  14. ^ Stanchich L "All About Nightshades". New Life Journal: Carolina Edition, Apr/May 2003, vol. 4, no. 5, p. 17, 3 pp.
  15. ^ Porter
  16. ^ American Dietetic, Association; Dietitians Of, Canada (2003). “Position of the American Dietetic Association and Dietitians of Canada: Vegetarian diets”. Journal of the American Dietetic Association 103 (6): 748–765. OCLC 1083209. PMID 12778049. doi:10.1053/jada.2003.50142. Vegetarian diets, like all diets, need to be planned appropriately to be nutritionally adequate. 
  17. ^ National Institutes of Health. “Dietary Supplement Fact Sheet: Vitamin B12. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2008. 
  18. ^ USDA National Nutrient Database for Standard Reference, Release 20: Vitamin B-12 (μg) Content of Selected Foods per Common Measure, sorted by nutrient content.
  19. ^ Reed Mangels. “Vitamin B12 in the Vegan Diet”. Vegetarian Resource Group. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2008. 
  20. ^ National Institutes of Health. “Dietary Supplement Fact Sheet: Vitamin A and Carotenoids (Table 2: Selected plant sources of vitamin A from beta-carotene)”. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2008. 
  21. ^ USDA National Nutrient Database for Standard Reference, Release 20: Iron, Fe (mg) Content of Selected Foods per Common Measure, sorted by nutrient content.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Georges Ohsawa, Thực dưỡng và cách hướng dẫn thay đổi số phận, Lê Hà Lộc (soạn dịch), Nhà xuất bản Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2015
  • Georges Ohsawa, Những hiệu quả rõ ràng của phương pháp Ohsawa, biên soạn Huỳnh Văn Ba, Nhà xuât bản Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2016
  • Georges Ohsawa, Phục hồi sức khỏe theo phương pháp Ohsawa, Biên soạn Huỳnh Văn Ba, Nhà xuất bản Thời Đại, Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2015
  • Georges Ohsawa (Sakurazama Nyòichi), Làm thế nào để sống vui, Anh Minh Ngô Thành Nhân & Ngô Ánh Tuyết (dịch), Nhà xuất bản Hồng Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2016
  • Georges Ohsawa (Sakurazama Nyòichi), Âm Dương & Nguyên lý vô song của Triết lýKhoa học Phương Đông, Anh Minh, Dư Tụng, Ngạn Ôn & Ngô Ánh Tuyết (dịch), Nhà xuất bản Thời Đại, Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2015
  • Trần Ngọc Tài, Thường Huệ Nguyên, Cốt tủy thực dưỡng, Nhà xuất bản Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2016
  • Bs.Lê Minh-Ths.Lê Minh Hùng, Hỏi đáp về Thực dưỡng (Ăn uống hợp lý để phòng và trị bệnh), Nhà xuất bản Hồng Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2016
  • Ngô Ánh Tuyết, Kinh nghiệm chữa ung thư của các y bác sĩ theo phương pháp Thực dưỡng Ohsawa Macrobiotics, Nhà xuất bản Hồng Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2016
  • Anh Minh Ngô Thanh Nhân, Ăn gạo lứt muối tăng cường sức khỏe và trị bệnh theo Phương Pháp Thực Dưỡng Ohsawa (Macrobiotics Eating for Health anh Happiness), Nhà xuất bản Hồng Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2016
  • 1 số đầu sách giấy mua tại : sản phẩm dưỡng sinh