Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội
Phù hiệu trường
Tên gọi khác University of Languages and International Studies (ULIS)
Thành lập 1955
Loại hình Trường Đại học
Hiệu trưởng TS. Đỗ Tuấn Minh
Địa chỉ Số 1 Phạm Văn Đồng, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam
Điện thoại +84-(4) 7547269 - 7547988
Website http://ulis.vnu.edu.vn/

Trường Đại học Ngoại ngữ (tên giao dịch tiếng Anh: University of LanguagesInternational Studies và viết tắt là ULIS)[1] là một trường thành viên của Đại học Quốc gia Hà Nội. Trường là một trong những trung tâm đào tạo giáo viên và cán bộ ngoại ngữ lớn của Việt Nam. Trụ sở chính của trường đặt tại đường Phạm Văn Đồng, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội[2].

Lịch sử hình thành[sửa | sửa mã nguồn]

  • Năm 1955, Trường được thành lập với tên "Trường Ngoại ngữ" do Thứ trưởng Bộ Giáo dục Nguyễn Khánh Toàn trực tiếp làm Hiệu trưởng. Trường khai giảng khoá học đầu tiên ngày 5/9/1955 tại Khu Việt Nam học xá – Bạch Mai – Hà Nội.
  • Năm 1958, Trường được sáp nhập vào Trường Đại học Sư phạm Hà Nội và trở thành Khoa Ngoại ngữ, sau đó phát triển thành 4 khoa ngoại ngữ (Nga văn, Trung văn, Anh văn và Pháp văn).
  • Ngày 14/8/1967, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 128/CP thành lập Trường Đại học Sư phạm Ngoại ngữ Hà Nội trên cơ sở 4 khoa ngoại ngữ này.
  • Ngày 10/12/1993, Chính phủ ban hành Nghị định số 97/CP thành lập Đại học Quốc gia Hà Nội trên cơ sở sáp nhập ba trường đại học: Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội và Trường Đại học Sư phạm Ngoại ngữ Hà Nội. Trường Đại học Sư phạm Ngoại ngữ Hà Nội chính thức mang tên “Trường Đại học Ngoại ngữ – Đại học Quốc gia Hà Nội” cho đến ngày nay.[3]

Cơ sở vật chất[sửa | sửa mã nguồn]

Giảng đường[sửa | sửa mã nguồn]

  • Giảng đường A2 : 8 tầng. Từ tầng 1 đến tầng 4 là phòng học tiếng cơ bản. Từ tầng 5 đến tầng 8 là các phòng học Nghe – Nói, được trang bị đa phương tiện với máy chiếu, máy tính, vô tuyến... .
  • Giảng đường B2 : 5 tầng. 13 hội trường với sức chứa 150 sinh viên nằm chủ yếu ở tầng 1 và tầng 4. Các phòng học tiếng cơ bản đặt ở tầng 2 và tầng 3.
  • Giảng đường C1 (khoa tiếng Pháp) : 4 tầng được dành riêng cho sinh viên học tiếng Pháp và sinh viên quốc tế.
  • Giảng đường B3 : 4 tầng. Phòng máy vi tính, phòng học Nghe - Nói do chính phủ Nhật Bản hỗ trợ. Ngoài ra tầng 1 nhà B3 là Trung tâm học liệu với 3 phòng tự học.

Ngoài ra, nhà C2 với khu phòng học với điều kiện tốt nhất dành cho sinh viên hệ Chất lượng cao của trường.

Thư viện[sửa | sửa mã nguồn]

Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia mang đến cho sinh viên một hệ thống thư viện lớn với nhiều đầu sách và tra cứu :

  • Trung tâm Thông tin – Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội.
  • Thư viện tầng 2 nhà C3 - Khu công trình khoa tiếng Pháp.[4]
  • Thư viện tầng 1 nhà B3.[4]

Ngoài ra sinh viên cũng có thể sử dụng thư viện của các trường trong khối Đại học Quốc gia như Thư viện Nhân văn, Thư viện Tự nhiên, Thư viện khoa Hóa, Thư viện Ký túc xá Mễ Trì… .

Cán bộ Nhà trường[sửa | sửa mã nguồn]

Ban Giám hiệu Nhà trường[sửa | sửa mã nguồn]

Hiệu trưởng Nhà trường là TS. Đỗ Tuấn Minh. Các Phó Hiệu trưởng:[5]

  1. TS. Phạm Văn Ngọc
  2. PGS. TS. Ngô Minh Thủy
  3. TS. Nguyễn Xuân Long

Các Hiệu trưởng qua các nhiệm kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

  • GS.TSKH. Trương Đông San  (1982 - 1990)
  • NGƯT-ThS. Nguyễn Văn Lợi (1997 - 5/2008)
  • NGƯT, NGND-GS-TS. Nguyễn Hòa (5/2008 - 5/2015)
  • TS. Đỗ Tuấn Minh (5/2015 - 2020)

Các khoa và bộ môn đào tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Trường Đại học Ngoại ngữ gồm có 8 khoa đào tạo, 2 khoa trực thuộc, 2 bộ môn, 3 trung tâm nghiên cứu và 1 trường trung học phổ thông trực thuộc.[6]

Các Khoa và Bộ môn trực thuộc[6][sửa | sửa mã nguồn]

  • Trưởng Khoa Sư phạm Tiếng Anh: TS. Vũ Hải Hà
  • Trưởng Khoa Ngôn ngữ và Văn hóa các nước nói tiếng Anh: TS. Đỗ Thị Thanh Hà
  • Trưởng Khoa Tiếng Anh: TS. Vũ Thị Thanh Nhã
  • Trưởng Khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Nga: TS. Đinh Thị Thu Huyền
  • Trưởng Khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Trung Quốc: TS. Phạm Minh Tiến
  • Trưởng Khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Pháp: TS. Đinh Hồng Vân
  • Trưởng Khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Nhật Bản: TS. Đào Thị Nga My
  • Trưởng Khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Hàn Quốc: TS. Trần Thị Hường
  • Trưởng Khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Đức: TS. Lê Hoài Ân
  • Trưởng Khoa Sau đại học: TS. Huỳnh Anh Tuấn
  • Trưởng Khoa Đào tạo và Bồi dưỡng Ngoại ngữ: TS. Hoa Ngọc Sơn
  • Trưởng Bộ môn Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam: TS. Chử Thị Bích
  • Trưởng Bộ môn Tâm lý - Giáo dục: TS. Nguyễn Thị Thắng
  • Bộ môn Ngôn ngữ và Văn hóa Ả Rập

Các Trung tâm và Cơ sở trực thuộc [6][sửa | sửa mã nguồn]

  • Trung tâm Công nghệ thông tin - Truyền thông và Học liệu
  • Trung tâm Nghiên cứu Giáo dục Ngoại ngữ và kiểm định chất lượng
  • Trung tâm Khảo thí
  • Trung tâm Trung tâm Ngôn ngữ & Quốc tế học
  • Trung tâm Bồi dưỡng giáo viên 
  • Trung tâm tiếng Anh
  • Trung tâm Sejong
  • Trung tâm nghiên cứu Pháp ngữ
  • Trung tâm nghiên cứu và dạy học tiếng Hán
  • Trung tâm hợp tác và phát triển Việt – Nhật 
  • Trung tâm Phát triển Nguồn lực
  • Trung tâm Hỗ trợ sinh viên
  • Trường Trung học phổ thông Chuyên Ngoại ngữ

Các ngành đào tạo, các hệ đào tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Trường Đại học Ngoại ngữ đào tạo cử nhân 14 ngành về Ngoại ngữ trong đó có 5 ngành học Chất lượng cao và 12 ngành học ngành kép Liên kết với Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn[7], đào tạo thạc sĩ với 6 ngành (10 chuyên ngành), đào tạo tiến sĩ với 4 ngành (8 chuyên ngành) [8].

Đào tạo Cử nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Chương trình đào tạo chuẩn: [7]

Nhà C2 - Khu phòng học dành cho hệ Chất lượng cao

Trường tổ chức tuyển sinh các chương trình chất lượng cao sau khi sinh viên nhập học. Sinh viên hệ chất lượng cao được học đội ngũ giảng viên hàng đầu với nhiều đổi mới trong phương pháp giảng dạy, kiểm tra đánh giá, được hỗ trợ kinh phí đào tạo và nghiên cứu khoa học, được hỗ trợ kinh phí học tiếng Anh để tối thiểu đạt trình độ Bậc 4 (B2) theo khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam và được nhận bằng cử nhân chất lượng cao khi tốt nghiệp.[7]

Chương trình đào tạo thứ hai:[7]

Sinh viên học hết năm học thứ nhất nếu có nguyện vọng và đủ điều kiện về học lực được đăng ký học thêm một CTĐT thứ hai trong 12 ngành đào tạo tại 4 đơn vị sau:

Tên trường Tên các ngành đào tạo
Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội Tài chính ngân hàng

Quản trị kinh doanh

Kinh tế quốc tế

Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Báo chí

Khoa học quản lý

Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành

Quốc tế học

Khoa Luật Luật học
Đại học Ngoại ngữ Ngôn ngữ Anh

Ngôn ngữ Nhật

Ngôn ngữ Hàn Quốc

Ngôn ngữ Trung Quốc

Thời gian đào tạo chương trình thứ hai nằm trong tổng thời gian đào tạo chương trình thứ nhất (6 năm học). Sinh viên hoàn thành chương trình đào tạo của cả hai ngành sẽ được nhận hai bằng cử nhân chính quy.[7]

Chương trình đào tạo chính quy - liên kết quốc tế:

Trường Đại học Ngoại ngữ tổ chức các chương trình liên kết đào tạo quốc tế hợp tác với các trường đại học uy tín trên thế giới, do trường đối tác nước ngoài cấp bằng.[7]

TT Tên ngành Trường cấp bằng Ghi chú
1 Kinh tế - Tài chính Southern New Hampshire (Mỹ) Học hoàn toàn tại Việt Nam
2 Kinh tế - Quản lý Picardie Jules Verne (Pháp) Học hoàn toàn tại Việt Nam
3 Khóa học tiếng Hàn 1 năm ĐH Kookmin (Hàn Quốc) Tự chọn một trong 22 chuyên ngành tại Hàn Quốc
4 Khóa học tiếng Trung 1 năm ĐH Chaoyang (Đài Loan) Tự chọn một trong 22 chuyên ngành tại Đài Loan

Hệ Cử tuyển:

Đào tạo Thạc sĩ[8][sửa | sửa mã nguồn]

  • Tiếng Anh
    • Chuyên ngành: Ngôn ngữ Anh
    • Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Tiếng Anh
  • Tiếng Nga
    • Chuyên ngành: Ngôn ngữ Nga
    • Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Tiếng Nga
  • Tiếng Pháp
    • Chuyên ngành: Ngôn ngữ Pháp
    • Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Tiếng Pháp
  • Tiếng Trung
    • Chuyên ngành: Ngôn ngữ Trung Quốc
    • Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Tiếng Trung Quốc
  • Tiếng Nhật: Chuyên ngành: Ngôn ngữ Nhật Bản
  • Tiếng Đức: Chuyên ngành: Ngôn ngữ Đức

Đào tạo Tiến sĩ[8][sửa | sửa mã nguồn]

  • Tiếng Anh
    • Chuyên ngành: Ngôn ngữ Anh
    • Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Tiếng Anh.
  • Tiếng Nga
    • Chuyên ngành: Ngôn ngữ Nga
    • Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Tiếng Nga
  • Tiếng Pháp
    • Chuyên ngành: Ngôn ngữ Pháp
    • Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Tiếng Pháp
  • Tiếng Trung
    • Chuyên ngành: Ngôn ngữ Trung Quốc
    • Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Tiếng Trung Quốc

Cơ hội học bổng - học chuyển tiếp[sửa | sửa mã nguồn]

Các học bổng do Trường khai thác và quản lý[sửa | sửa mã nguồn]

  • Học bổng Shinwon (Hàn Quốc)
  • Học bổng Parwon-Hong (Nhật Bản)
  • Học bổng ĐH Nữ sinh Nara (Nhật Bản)
  • Học bổng phụ nữ Seoul (Hàn Quốc)
  • Học bổng O. Kong (Hàn Quốc)
  • Học bổng Ngân hàng Công Thương (Trung Quốc)

Ngoài học bổng cho sinh viên khá giỏi theo quy định của nhà nước, trường còn có học bổng "Ước mơ xanh" dành cho sinh viên có hoàn cảnh khó khăn, học bổng "Vừ A Dính" cho sinh viên dân tộc ít người. Bên cạnh đó sinh viên còn có thể nhận học bổng từ các tổ chức, doanh nghiệp trong và ngoài nước như: Học bổng KT, Học bổng của Quỹ ngân hàng tài chính Nhật Bản, Học bổng Lotte – Sochun Hàn Quốc... .

Cơ hội học chuyển tiếp tại các trường đại học quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Ngành tiếng Pháp

Sinh viên hoàn thành chương trình năm thứ 2 khoa tiếng Pháp ở các trường đại học hoặc người có bằng tiếng Pháp đạt trình độ B2 trở lên được xét để học lấy bằng Cử nhân Quản trị doanh nghiệp do Trường đại học Picardie Jules Verne cấp. Sinh viên sau khi có bằng Cử nhân Kinh tế - Quản l. và Quản trị doanh nghiệp được xét tuyển chuyển tiếp học 1 năm tại Đại học Picardie Jules Verne để lấy bằng Thạc sĩ do Pháp cấp.

Ngành tiếng Trung Quốc

Sinh viên học hết năm thứ 2 có thể đăng ký học chuyển tiếp tại một số trường đại học của Trung Quốc có quan hệ hợp tác với Nhà trường. Các môn học tại Trung Quốc được chuyển điểm vào khóa học của sinh viên.

Ngành tiếng Nhật Bản

Khóa học nghiên cứu văn hóa tại Nhật Bản

Hàng năm, Đại sứ quán Nhật Bản tại Việt Nam kết hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam tổ chức kì thi chọn những sinh viên ưu tú nhất (từ 16 đến 20 sinh viên) đi học tại Nhật Bản theo học bổng của chính phủ Nhật Bản. Các ứng viên tham gia kì thi này được chọn từ những sinh viên có kết quả học tập xuất sắc nhất trong khối tiếng Nhật của tất cả các trường đại học trên cả nước, trong đó số ứng viên của trường Đại học Ngoại ngữ là khoảng 6 đến 8 sinh viên. Tỷ lệ đỗ của sinh viên trường tương đối cao (từ 60~80%).

Sinh viên trúng tuyển sẽ được hưởng 100% học bổng của chính phủ Nhật và sẽ học tại một trường đại học tại Nhật Bản (đăng ký nguyện vọng trong hồ sơ) trong một năm, nghiên cứu về ngôn ngữ và văn hóa Nhật Bản. Sinh viên theo học tại Nhật Bản ngoài các môn học về tiếng Nhật (tiếng Nhật tổng hợp, kỹ năng đọc hiểu, kỹ năng thuyết trình, kỹ năng viết luận văn…) còn được tham gia các lớp về văn hóa (trà đạo, thư pháp, nấu ăn, kimono, làm giấy truyền thống Washi, cắm hoa Ikebana, làm đồ gốm, đồ sơn mài, mạ vàng…) và được đi rất nhiều nơi để giao lưu và trải nghiệm văn hóa.

Khóa học trao đổi với Trường Đại học Kumamoto Gakuen

Hàng năm sinh viên được xét đi học tại Nhật Bản theo chương trình trao đổi với trường ĐH Kumamoto Gakuen.

Kumamoto Gakuen là trường kết nghĩa với Đại học Ngoại ngữ nên sinh viên theo học tại đây có nhiều thuận lợi để học tập và nghiên cứu ngôn ngữ và văn hóa Nhật Bản. Học bổng 100%, cơ sở vật chất tiên tiến, con người thân thiện, khí hậu có nhiều nét tương đồng với Việt Nam tạo ra môi trường học tập lý tưởng đối với sinh viên theo học.

Ngoài các môn học tiếng Nhật bắt buộc, sinh viên có thể đăng ký các ngành học mình thích như kinh tế, văn học…

Trường cũng có chương trÌnh homestay cho sinh viên chia làm 2 đợt (tháng 4 và tháng 8) giúp sinh viên trải nghiệm cuộc sống trong một gia đình Nhật Bản. Ngoài ra sinh viên có thể tham gia các chuyến đi chơi do trường tổ chức, tham gia cuộc thi hùng biện tiếng Nhật cho người nước ngoài.

Ngành tiếng Hàn Quốc

Sinh viên tiếng Hàn ngoài cơ hội được nhận học bổng trong ngân sách nhà nước, còn có nhiều cơ hội nhận học bổng từ các tổ chức, doanh nghiệp Hàn Quốc. Hàng năm có rất nhiều học bổng bằng tiền mặt hoặc học bổng đi thực tế tại Hàn Quốc (từ 5~10 ngày). Đây có thể coi là sự động viên quý báu cũng như sự hỗ trợ hiệu quả từ phía Hàn Quốc đến sinh viên chuyên ngành tiếng Hàn.

Nganh tiếng Nga

Olympic tiếng Nga

Vào tháng 3 và tháng 4 hàng năm Trung tâm Khoa học và Văn hóa Nga tại Hà Nội tổ chức các cuộc thi Olympic tiếng Nga toàn quốc dành cho sinh viên năm thứ nhất các trường đại học chuyên ngữ. Phần thưởng cao nhất dành cho các sinh viên đoạt giải là các suất học bổng toàn phần du học tại LB Nga. Tất cả sinh viên năm thứ nhất đều có quyền tham dự cuộc thi này. Kể từ khi cuộc thi bắt đầu được tổ chức, khoa NN&VH Nga năm nào cũng là một trong các trường có số lượng cao nhất sinh viên đoạt giải và được đi học dài hạn tại Nga.

Học chuyển tiếp 10 tháng ở Viện Pushkin

Hàng năm có khoảng 4-5 sinh viên năm thứ hai của Khoa được xét tuyển đi học chuyển tiếp tại Viện tiếng Nga mang tên A.X.Pushkin ở thành phố Moscow, LB Nga. Để xét tuyển sinh viên đi học chuyển tiếp, Nhà trường căn cứ vào điểm trung bình chung học kỳ I năm thứ hai của sinh viên để xếp hạng thứ tự cho đến hết chỉ tiêu.

Ngành tiếng Đức

  • Học bổng hàng năm của WUS (Tổ chức hỗ trợ đại học thế giới) Cộng hòa Liên bang Đức
  • Học bổng của DAAD (Cơ quan trao đổi hàn lâm Đức) tham gia một khoá học hè tại một trường đại học ở Đức vào cuối năm thứ 4.
  • Học bổng bồi dưỡng tại Đức dành cho các nhà sư phạm.
  • Sử dụng hệ thống phòng học liệu đa dạng và cập nhật do các tổ chức của Đức và Áo tặng.

Ngành tiếng Ả Rập

Sau khi hoàn thành chương trình năm nhất, sinh viên ngành tiếng Ả-rập có cơ hội nhận học bổng và học chuyển tiếp tại đại học Cairo (Cairo University – Ai Cập), Qatar, Kuwait.

Sinh viên Nhiệm vụ Chiến lược[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2010 Đại học Quốc gia Hà Nội đã thực hiện chương trình nhiệm vụ chiến lược.[9] Theo đó sinh viên học các ngành theo chuẩn quốc tế ở các trường trong khối Đại học Quốc gia sẽ được chuyển đến Đại học Ngoại ngữ để học tiếng Anh trong năm học đầu tiên. Các ngành chuẩn quốc tế gồm có:

  • Đại học Khoa học Tự nhiên - ĐHQGHN:
    • Toán học
    • Vật lý
    • Hoá học
    • Sinh học
    • Địa chất
    • Khoa học Môi trường
  • Đại học Công nghệ - ĐHQGHN:
    • Khoa học máy tính
    • Công nghệ Điện tử - Viễn thông
  • Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - ĐHQGHN:
    • Ngôn ngữ học
  • Đại học Kinh tế - ĐHQGHN:
    • Quản trị Kinh doanh

Các lớp Nhiệm vụ Chiến lược tại Đại học Ngoại ngữ có tên gọi là QT (hoặc ISP).

Trích dẫn về trường[sửa | sửa mã nguồn]

"Trải qua dòng chảy hơn sáu mươi năm lịch sử hình thành và phát triển, Trường Đại học Ngoại ngữ – Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN) đã trở thành một trung tâm đào tạo và nghiên cứu có uy tín về ngôn ngữ, quốc tế học và các ngành liên quan. Trường đã có đóng góp quan trọng vào sự phát triển của đất nước thông qua việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, nghiên cứu khoa học, cung cấp các sản phẩm và dịch vụ đáp ứng yêu cầu của xã hội theo chuẩn quốc tế. Trường coi trọng tính năng động, sáng tạo, trung thực, tinh thần trách nhiệm, khả năng sống và làm việc trong môi trường cạnh tranh đa văn hóa... Sự phát triển của Trường được tạo lập trên ba trụ cột chính là Tính trách nhiệm cao, Khả năng tạo dựng cơ hội và Tính cộng đồng. Triết lý phát triển của Trường được thể hiện qua ba từ tiếng Anh là “Creating Opportunities Together” – Cùng nhau kiến tạo cơ hội.", Hiệu trưởng Đỗ Tuấn Minh.[10]

"Học tập ở ULIS sẽ mang lại cho các bạn nhiều triển vọng, cơ hội nghề nghiệp, học tập, học bổng, thăng tiến v.v. trong tương lai. Đó là bởi triết lý đào tạo của chúng tôi không phải là đào tạo cho một con người rập khuôn theo kiểu sản phẩm sản xuất hàng loạt, mà là con người có kĩ năng phẩm chất đủ để họ có thể tồn tại, có thể vươn lên, khẳng định mình trong cuộc sống. Điều đó có nghĩa là bạn hoàn toàn có thể tự tin rằng: bạn sẽ ra trường không chỉ với một tấm bằng mà còn với một thương hiệu, một văn hóa, trình độ có tên ULIS nữa." Tiến sĩ Vũ Hải Hà.[11]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]