Alex Oxlade-Chamberlain

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Alex Oxlade-Chamberlain
Alex Oxlade-Chamberlain 2012-01-29.JPG
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Alexander Mark David Oxlade-Chamberlain
Ngày sinh 15 tháng 8, 1993 (20 tuổi)
Nơi sinh Portsmouth, Anh
Chiều cao 1,80 m (5 ft 11 in)
Vị trí Tiền vệ Tiền đạo cánh
Thông tin về CLB
CLB hiện nay Arsenal
Số áo 15
CLB trẻ
2000–2010 Southampton
CLB chuyên nghiệp*
Năm CLB ST (BT)
2010– Southampton 36 (10)
Arsenal 6 (3)
Đội tuyển quốc gia
2010 U18 Anh 1 (0)
2011 U19 Anh 3 (0)
2011– U21 Anh 1 (0)
* Chỉ tính số trận và số bàn thắng được ghi ở giải Vô địch quốc gia cập nhật lúc 14 tháng 11, 2010 (UTC).

† Số trận khoác áo (số bàn thắng).

‡ Thống kê về thành tích tại ĐTQG được cập nhật lúc 16 tháng 11, 2010 (UTC)

Alexander Mark David "Alex" Oxlade-Chamberlain (sinh ngày 15 tháng 8 năm 1993), thường được gọi là Alex Oxlade-Chamberlain, là một cầu thủ bóng đá người Anh hiện đang chơi ở vị trí tiền vệ cho câu lạc bộ Arsenal tại Giải ngoại hạng Anh. Anh có thể thi đấu ở vị trí tiền vệ cánh hoặc tiền vệ trung tâm. Sau màn trình diễn nổi bật với Southampton ở mùa 2010-2011, anh gia nhập Arsenal vào tháng 8 năm 2011. Ghi 2 bàn trong 3 trận đầu tiên cho CLB mới, Oxlade-Chamberlain trở thành cầu thủ người Anh trẻ nhất ghi bàn trong lịch sử Champion League và cũng có một vị trí thường xuyên ở Đội tuyển U21 Anh.

Sự nghiệp câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Southampton[sửa | sửa mã nguồn]

Chamberlain được sinh ra tại Portsmouth,Hampshire.Chamberlain gia nhập học viện Southampton và có trận đấu chuyên nghiệp đầu tiên của mình vào năm 2010.

Vào ngày 2 tháng 3 năm 2010, anh thi đấu trận đầu tiên cho Southampton lúc 16 tuổi 199 ngày,trong chiến thắng 5 -0 trước Huddersfield Town và là cầu thủ trẻ thứ hai trong lịch sử thi đấu chuyên nghiệp cho Southampton sau Theo Walcott. Vào ngày 8 tháng 5 năm 2010, Chamberlain được vào sân ở phút 82 thay cho Jason Puncheon trong trận đấu cuối cùng của mùa giải gặp Southend United.

Vào ngày 20 tháng 8 năm 2010, hai ngày sau sinh nhật lần thứ 17, Oxlade-Chamberlain đã ký hợp đồng chuyên nghiệp đầu tiên có thời hạn trong vòng 3 năm.[1] Trận ra mắt của anh ở giải đấu là trận thua 2–0 tại sân nhà trước Rochdale vào ngày 4 tháng 9 năm 2010. Bàn thắng đầu tiên của anh tại giải đấu là trong trận thắng 2–1 trước Oldham ngày 23 tháng 10 năm 2010, anh ghi thêm hai bàn thắng nữa và có một pha kiến tạo trong chiến thắng 4-0 trước Dagenham & Redbridge vào ngày 2 tháng 11 năm 2010, anh được bình chọn là cầu thủ xuất sắc nhất trận đấu lần đầu tiên.[2]

Oxlade-Chamberlain kết thúc mùa giải với 10 bàn thắng và có tên trong Đội hình tiêu biểu của năm của giải hạng Nhất mùa bóng 2010-2011.[3] Anh trở thành mục tiêu chuyển nhượng của nhiều đội bóng và vào tháng Sáu bố của anh, ông Mark Chamberlain, tuyên bố sẵn sàng cho con trai mình gia nhập Arsenal "càng sớm càng tốt" để "tiếp tục cho sự phát triển của anh".[3]

Arsenal[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 8 tháng 8 năm 2011 Oxlade-Chamberlain ký hợp đồng với CLB Arsenal.[4] Mặc dù CLB không tiết lộ phí chuyển nhượng nhưng theo các nguồn tin báo chí cho biết phí chuyển nhượng vào khoảng 12 triệu bảng ban đầu và có thể lên đến 15 triệu bảng dựa vào đóng góp của anh.[5][6]

Anh có trận ra mắt cho CLB vào ngày 28 tháng 8 năm 2011, trong thất bại 8–2 trước Manchester United, vào sân ở phút 62 để thay cho Francis Coquelin, qua đó trở thành cầu thủ thứ 150 chơi cho Arsenal tại Primier League.[7] Ngày 20 tháng 9 năm 2011, Oxlade-Chamberlain có bàn thắng đầu tiên cho Arsenal ở phút thứ 58 trong trận đấu với Shrewsbury TownLeague Cup với một cú sút từ khoảng cách 25 mét.[8]

Ngày 28 tháng 9 năm 2011, Oxlade-Chamberlain ghi bàn thắng mở tỷ số trong trận đấu đầu tiên của anh ở Champions League trước Olympiacos ở phút thứ 8 sau khi băng vào nhận bóng từ đường chuyền dài của Alex Song, vượt qua vài hậu vệ trước khi kết thúc vào góc lưới. Với việc ghi được bàn thắng này, anh trở thành cầu thủ người Anh trẻ nhất ghi bàn ở Champions League, vượt qua kỷ lục của người đồng đội Theo Walcott.[9]

Sự nghiệp đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Alex Oxlade-Chamberlain đã được huấn luyện viên Roy Hodgson triệu tập vào đội tuyển trẻ Anh.

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Thống kê sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ Mùa bóng Giải ngoại hạng Cúp FA League Cup Cúp Châu Âu Tổng cộng
Số trận Bàn thắng Kiến thiết Số trận Bàn thắng Kiến thiết Số trận Bàn thắng Kiến thiết Số trận Bàn thắng Kiến thiết Số trận Bàn thắng Kiến thiết
Southampton 2009–10 2 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 2 0 0
2010–11 34 9 8 4 0 0 2 1 0 0 0 0 1 0 0 41 10 8
Tổng cộng 36 9 8 4 0 0 2 1 0 0 0 0 1 0 0 43 10 8
Arsenal 2011–12 1 0 0 0 0 0 3 1 0 1 1 0 0 0 0 5 2 0
Tổng cộng sự nghiệp 37 9 8 4 0 0 5 2 0 1 1 0 1 0 0 48 12 8

Cập nhật: 29 tháng 11, 2011[10]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Alex Signs”. Southampton FC. 20 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2010. 
  2. ^ “Alex Chamberlain stars as Saints beat Dagenham & Redbridge”. Southern Daily Echo. 2 tháng 11 năm 2010. 
  3. ^ a ă “Dad offers Chamberlain advice”. Sky Sports. 1 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2011. 
  4. ^ “Oxlade-Chamberlain seals move to Arsenal”. Arsenal FC. 8 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2011. 
  5. ^ Wilson, Jeremy (7 tháng 8 năm 2011). “Arsenal to complete £12 million signing of Alex Oxlade-Chamberlain from Southampton”. Daily Telegraph. UK. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2011. 
  6. ^ “Gunners Land Next Great Star in Alex Oxlade-Chamberlain”. bleacherreport.com. 8 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2011. 
  7. ^ “Behind the Numbers: Premier League players”. Arsenal FC. 30 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2011. 
  8. ^ “Arsenal 3 - 1 Shrewsbury”. BBC Sport. 20 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2011. 
  9. ^ Rostance, Tom (28 tháng 9 năm 2011). “Arsenal 2 - 1 Olympiakos”. BBC Sport. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2011. 
  10. ^ “Joshua McEachran - Thống kê”. ESPN Soccernet. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2010. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]