Baby One More Time

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
...Baby One More Time
Album phòng thu của Britney Spears
Phát hành Flag of the United States.svg 12 tháng 1 năm 1999
Cờ của Canada 8 tháng 3, 1999
Cờ của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland 6 tháng 3, 1999
Thu âm Tháng 8/1997 - Tháng 11/1998
Thể loại Pop
Thời lượng 42:20 (Hoa Kỳ)
Hãng đĩa Jive
Sản xuất Max Martin, Denniz Pop, Rami, Eric Foster White, Kristian Lundin, Jorgen Elofsson, P. Magnusson, D. Kreuger, Jay Orpin
Đánh giá chuyên môn
Thứ tự album của Britney Spears
...Baby One More Time
(1999)
Oops!... I Did It Again
(2000)
Bìa thay thế
International Cover
Đĩa đơn từ ...Baby One More Time
  1. "...Baby One More Time"
    Phát hành: 23 tháng 10 năm 1998
  2. "Sometimes"
    Phát hành: 30 tháng 4 năm 1999
  3. "(You Drive Me) Crazy"
    Phát hành: 23 tháng 8 năm 1999
  4. "Born to Make You Happy"
    Phát hành: 27 tháng 11 năm 1999
  5. "From the Bottom of My Broken Heart"
    Phát hành: 15 tháng 12 năm 1999

Baby One More Time (được trình bày như ...Baby One More Time) là album phòng thu đầu tay của ca sĩ nhạc Pop người Mỹ Britney Spears, phát hành vào ngày 12 tháng 1 năm 1999, bởi hãng đĩa Jive Records. Album đã nhanh chóng thành công trên toàn thế giới khi mà lọt vào top 5 của hầu hết các bảng xếp hạng của các nước trên thế giới, đặc biệt là đứng đầu bảng xếp hạng album của 15 nước trong đó có Billboard 200 của Mỹ. Album và các đĩa đơn của nó đã giúp Britney trở nên nổi tiếng toàn cầu khi mà cô mới chỉ có 17 tuổi.

Ca từ cũng như các video trong album tiêu biểu cho sự trỗi dậy của teen pop vào cuối những năm 90 của thế kỷ trước cũng như là hình ảnh ngây thơ, trong sáng của Britney cho đến tận bây giờ. Album đã được chứng nhận Bạch Kim tới 14 lần cũng như là đĩa Kim Cương tại Mỹ. Trên toàn thế giới, album đã bán được tới hơn 25 triệu bản và là một trong những album bán chạy nhất mọi thời đại cũng như trong sự nghiệp của Britney. Album này cũng là album của nghệ sĩ tuổi teen bán chạy nhất mọi thời đại và đưa Britney trở thành nghệ sĩ tuổi teen hot nhất lúc bấy giờ. Album cũng giúp Britney giành 2 đề cử tại giải Grammy năm 2000 cho hạng mục "Trình diễn giọng pop nữ xuất sắc nhất" cho đĩa đơn cùng tên với albumgiải nghệ sĩ mới xuất sắc nhất.

Năm bài hát từ album đã được chọn làm đĩa đơn, trong đó thành công nhất là đĩa đơn ...Baby One More Time đã đưa Britney đã trở thành hiện tượng của làng nhạc Pop thế giới, đĩa đơn bán được hơn 9 triệu bản và là một trong những đĩa đơn bán chạy nhất mọi thời đại. Ca khúc đã đứng đầu tại nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là đứng đầu tại Billboard Hot 100, một thành tích mà Britey không thể lặp lại trong gần 10 năm cho đến khi đĩa đơn Womanizer của cô lặp lại được điều này. Tất cả các đĩa đơn phát hành tại Anh trong album này đều đạt top 5 và thậm chí là top 3 tại bảng xếp hạng Châu Âu.

Quá trình sản xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi trở lại Kentwood sau khi mà Câu lạc bộ The New Mickey Mouse Club tan rã, luật sư của Britney là Larry Rudolph đã sắp xếp một buổi thử giọng cho Britney và khách mời là phó chủ tịch hãng đĩa Jive, Jeff Fenster. Chính ông này sau khi nghe giọng hát của Britney đã phải thốt lên rằng "Thật là khiếm khi tôi được nghe thấy một giọng hát truyền cảm ở một cô bé mới chỉ bé như thế này!". Sau buổi thử giọng, Britney được đưa ngay vào nhóm nhạc Innosense nhưng sau đó cô đã rút lui. Sau đó hãng Jive tiếp tục để Britney làm việc với nhà sản xuất Eric Foster White. Lúc này Britney thực sự cảm thấy tràn đầy thực sự hứng khởi với chất liệu thu âm đầu tay nên đã bắt đầu thu âm ngay album này bắt đầu từ cuối năm 1997. Hơn một nửa album được thu âm ở Cheiron Studios (Thuỵ Điển từ tháng 3 đến tháng 4 năm 1998, tại đây cô được làm việc với các nhà sản xuất lớn lúc đó là Max Martin, Denniz PoPRami. Quá trình thu âm được kết thúc vào tháng 11 năm đó với bản cover ca khúc The Beat Goes On của Cher.

Băng cát-xe được phát hành với bìa album giống với cái được nêu trong cuốn sách nhỏ ...Baby One More Time. Phiên bản phát hành toàn thế giới có ảnh bìa khác: hình ảnh Britney đang chắp tay như cầu nguyện đứng trước nền trắng. Bìa album này cũng làm ta gợi đến hình ảnh của Björk trong Debut.

Các ca khúc trong album[sửa | sửa mã nguồn]

Lúc đầu, Britney không nghĩ là mình sẽ thực hiện một album nhạc pop, cô ấy chỉ đơn giản là muốn được hát, nhưng khi bắt đầu thu âm thì Brit lại cảm thấy vui nếu như mình theo đuổi nhạc pop đến cùng "Thật sự là có nhiều cảm xúc hơn nếu như theo đuổi nhạc Pop bởi tôi có thể nhảy theo nó - đó chính là tôi." Album này được xây dựng trên nền nhạc sàn châu Âu, cái mà có thể giúp người nghe liên tưởng đến những ban nhạc nổi tiếng đương đại như Backstreet Boys hay 'N Sync. ...Baby One More Time chỉ đơn giản là nhạc pop, chính xác hơn là bubblegum pop hay teen pop. Như những album teen pop khác vào cùng thời điểm đó, album của Britney cũng tập trung vào những chủ đề của tuổi teen như tình yêu đầu lòng, sự chia tay, niềm khao khát hay niềm vui cuộc sống.

"...Baby One More Time", ca khúc đầu tiên và cũng là đĩa đơn đầu tay của Britney trở thành hit lớn nhất trong sự nghiệp của cô và đứng đầu bảng xếp hạng ở tất cả các nước mà nó được xếp hạng. Video của ca khúc với hình ảnh Brit trong bộ đồng phục nữ sinh Thiên Chúa giáo nhưng hở hang đã gây tranh cãi trong dư luận lúc bấy giờ. "(You Drive Me) Crazy" là ca khúc thứ 2 và là đĩa đơn thứ 3. Tương tự như "...Baby", ca khúc cũng thành hit trên toàn thế giới. Phần remix ca khúc với tên gọi "The Stop! Remix" được sử dụng để quảng bá bộ phim Drive Me Crazy. "Sometimes" là ca khúc thứ 3 và là đĩa đơn thứ 2. Mặc dù không thành công như 2 đĩa đơn kể trên nhưng ca khúc đã đi vào lòng bạn trẻ yêu âm nhạc với hình ảnh một Britney thật trong sáng và giọng hát tràn đầy cảm xúc của cô bé mới lớn về tình yêu. "Soda Pop" là ca khúc thứ 4, được các chuyên gia nhận xét tích cực và coi là bản "bubblegum pop" chính hiệu! "Born to Make You Happy" là ca khúc thứ 5 và là đĩa đơn thứ 4 của album. Đây là đĩa đơn đầu tiên của Britney chỉ phát hành ở châu Âu, không phát hành ở Mĩ. Phần lời của ca khúc này trước đó quá sexy nhưng đã được Britney yêu cầu viết lại vì lúc đó cô mới chỉ có 16 tuổi - chưa thích hợp để hát những bài hát có liên quan đến giới tính."From the Bottom of My Broken Heart" là ca khúc thứ 6 và là đĩa đơn thứ 4 của album đối với thị trường Mĩ, Úc và Niu-di-lân. Bằng giai điệu nhẹ nhàng kể về tình yêu đã tan vỡ, ca khúc đã rất thành công ở Mĩ khi đứng thứ #14 và còn được chứng nhận cả "Bạch Kim".

"I Will Be There" là ca khúc thứ 7 kể về tình yêu và tình bạn. Ca khúc thứ 8 "I Will Still Love You" là bản song ca ngọt ngào của Brit với Don Phillip về một tình yêu bất diệt. Ca khúc thứ 9 và 10 lần lượt là "Thinkin' About You" và "E-mail My Heart" mặc dù nhận nhiều ý kiến trái chiều song vẫn là những ca khúc thu hút của album. Ca khúc cuối cùng "The Beat Goes On" là bản cover của Sonny & Cher trong "In Case You’re in Love" (1967).

Đánh giá của các chuyên gia[sửa | sửa mã nguồn]

...Baby One More Time nhận được nhiều ý kiến trái chiều từ các nhà phê bình âm nhạc. Stephen Thomas Erlewine của All Music đã cho album 4/5 sao và cho rằng "album có sự kết hợp giữa thể loại nhạc dance gây nghiện với giai điệu trữ tình mềm mại một cách khéo léo tương tự như New Kids on the BlockDebbie Gibson đã làm." Erlewine còn thậm chí ca ngợi chất lượng tuyệt vời của các ca khúc "...Baby One More Time", "You Drive Me Crazy", "Soda Pop" hay như "From the Bottom of My Broken Heart". Tạp chí Entertainment Weekly thì đưa ra ý kiến một chút trái ngược rằng "giọng hát của Britney như là các bé gái của Backstreet Boys." Rolling Stone thì chỉ cho album có 2/5 sao và cho rằng album có nhiều âm thanh "như những thứ rác rưởi...như là những spam đến tai người nghe."

Doanh số[sửa | sửa mã nguồn]

...Baby One More Time trong tuần đầu tiên bán được 120,500 bản đã đẩy album Flesh of My Flesh, Blood of My Blood của DMX khỏi vị trí đầu bảng xếp hạng U.S. Billboard 200. Tuần sau, album bị đẩy xuống vị trí á quân và sau 4 tuần đầu, album đã bán được nửa triệu bản. Tuần thứ 5, album quay lại vị trí đầu bảng với 229,300 bản và tăng số lượng bán ra của album lên hơn 800,000 bản. Album củng cố vị trí đầu bảng thêm 2 tuần liên tục sau đó trước khi lại rớt xuống vị trí thứ 2. Mặc dù thế nhưng sau hơn 2 tháng, album đã bán được 1,8 triệu bản. Sau đó gần 1 tháng, album lại tiếp tục thống trị ngôi đầu bảng thêm 2 tuần nữa, giúp tổng số tuần đứng đầu của album lên 6 và đẩy số lượng album bán được lên hơn 3 triệu bản. Album vẫn còn rất hot cho đến tận tháng 11 năm 1999 khi quay lại vị trí thứ 3 và tổng số album bán được lúc này đã lên con số 10 triệu. Đây cũng là lần đầu tiên Britney được trao giải "Album Bạch Kim" bởi Hiệp hội thu âm Mỹ. Như vậy, theo tổng kết của tạp chí Billboard, album đã đứng trong bảng xếp hạng Billboard 200 tới 103 tuần trong đó tới 51 tuần là album nằm trong top 10.

Cho đến cuối năm 1999, Brit đã tiêu thụ được 8.358.619 bản album đầu tay và trở thành album bán chạy thứ 2 trong năm chỉ sau album Millennium của Backstreet Boys với 9.445.732 bản. Album cũng lọt vào top 20 các album bán chạy nhất năm 2000. Theo thống kê của BMG Music Club, album đứng thứ 3 trong top các album bán chạy nhất với 1,6 triệu bản. Không chỉ thế, album còn đứng thứ 29 trong top những album bán chạy nhất thập kỷ 90 cho dù nó mới xuất hiện chi hơn 1 năm. Như vậy đến năm 2010, album đã bán được 12.154.000 bản tại Mỹ và được tặng đĩa Bạch Kim 14 lần.

Tại Canada, album cũng khởi đầu với vị trí quán quân và duy trì thành tích này trong 9 tuần. Đến ngày 12/12/1999, album cũng được trao tặng album "Kim Cương" khi bán được hơn 1 triệu bản. Tại bảng xếp hạng châu Âu, album cũng đạt đến vị trí thứ 2 và bán được 4,6 triệu bản tại đây: trong đó có vị trí thứ 4 tại Anh và Pháp, quán quân tại Đức với số lượng lần lượt là 900,000; 600,000 và 750,000 bản.

Mặc dù phải đến tháng 5 năm 1999, album mới lọt vào bảng xếp hạng của Úc nhưng nó cũng đã vươn tới vị trí thứ 2. ...Baby One More Time là album bán chạy thứ 7 năm 1999 tại thị trường này và tẩu tán được gần 300,000 bản. Album cũng đạt vị trí thứ 3 tại Niu Di-lân và được công nhận Bạch Kim 3 lần với số lượng album bán ra là 45,000.

Trên bảng xếp hạng thế giới, album cũng đứng đầu suốt nhiều tuần liền và bán được tới gần 28 triệu bản trên toàn thế giới tính đến năm 2010. Do đó mà album này trở thành một trong những album bán chạy nhất mọi thời đại và là album bán chạy nhất bởi một nghệ sĩ tuổi teen.

Đĩa đơn[sửa | sửa mã nguồn]

1. "...Baby One More Time" là đĩa đơn đầu tiên của album được phát hành vào cuối năm 1998. Ca khúc đã đứng đầu 70 nước trong đó có Mĩ, tại đây ca khúc đã đứng đầu trong 2 tuần và thậm chí được xếp hạng thứ 5 cho các ca khúc hot nhất năm 1999. Ca khúc cũng lọt vào top 100 ca khúc hot nhất những năm 90 của thế kỉ trước với vị trí 78 khi mà bán được hơn 1,75 triệu bản. Tại Anh, ca khúc thành công hơn khi khởi đầu ngay ở vị trí quán quân với số lượng tiêu thụ khổng lồ trong tuần đầu tiên là 460,000 bản, trở thành kỉ lục cho một nghệ sĩ nữ lúc bấy giờ. Không những thế, ca khúc còn trở thành ca khúc tiêu thụ nhiều nhất năm 1999 và đưa Britney vinh dự trở thành nghệ sĩ có ca khúc lọt vào top 25 ca khúc hot nhất mọi thời đại tại Anh. Trên toàn thế giới, ca khúc đã bán được gần 9 triệu bản và đứng thứ 55 trong top 100 ca khúc hay nhất mọi thời đại. Phần video của ca khúc cũng rất nổi tiếng khi đứng đầu trong top những video có ảnh hưởng nhất đến thế giới mặc dù có nhiều tranh cãi về trang phục "quá tuổi" của Brit trong video.

2. "Sometimes" là đĩa đơn thứ hai được trích từ album, phát hành đầu mùa hè 1999. Mặc dù không thành công vang dội như đĩa đơn trước nhưng ca khúc cũng đủ lọt vào top 10 của hơn 15 nước và đứng đầu 5 nước trong đó. Tại Mỹ ca khúc chỉ đạt vị trí thứ 21 bởi ca khúc chỉ phát hành trên sóng radio. Tuy nhiên phần video của ca khúc được đánh giá rất cao với những cảnh quay rất đẹp tại bãi biển Malibu, California và trang phục không còn tranh cãi như trong video trước đó của Brit. Trên toàn thế giới, ca khúc đã bán được 3,5 triệu bản.

3. "(You Drive Me) Crazy" là đĩa đơn thứ ba của album phát hành mùa thu năm 1999. Ca khúc cũng trở thành hit khi đứng đầu tại 3 nước và lọt vào top 5 hầu hết các nước châu Âu. Ca khúc chỉ đạt vị trí thứ 10 tại Mỹ vì đĩa đơn được phát hành dưới dạng Đĩa 12" thay vì dưới dạng Đĩa CD thông thường. Phần video của ca khúc được dùng để quảng cáo cho bộ phim Drive Me Crazy với 2 diễn viên chính là Melissa Joan HartAdrian Grenier cũng góp mặt trong video này. Mặc dù vậy nhưng phần video của ca khúc cũng được rất nhiều người hâm mộ lúc bấy giờ và ca khúc đã bán được tới hơn 4,2 triệu bản trên toàn thế giới.

4. "Born to Make You Happy" là đĩa đơn thứ 4 được phát hành vào mùa đông năm 1999 tại các nước châu Âu. Ca khúc tiếp tục trở thành hit khi lọt vào top 10 của hầu hết các nước châu Âu và thậm chí còn đứng đầu tại Anh, trở thành đĩa đơn thứ 3 chỉ trong 1 album đứng đầu tại bảng xếp hạng này. Đây là đĩa đơn đầu tiên không phát hành tại Mỹ của Britney. Trên toàn thế giới ca khúc đã bán được 3,6 triệu bản.

5. "From the Bottom of My Broken Heart" là đĩa đơn thứ 5 (thứ 4 đối với Mĩ. Úc và Niu Di-lân) và là đĩa đơn cuối cùng của album. Ca khúc đã chinh phục thành công top 20 Billboard và còn đứng đầu bảng "Đĩa đơn bán chạy nhất". Chính vì thế ca khúc đã được trao tặng đĩa Bạch Kim và là danh hiệu thứ 2 của Britney chỉ trong album đầu tay này.

Các bài hát[sửa | sửa mã nguồn]

# Tiêu đề Tác giả Thời lượng
1. "...Baby One More Time" Max Martin 3:30
2. "(You Drive Me) Crazy" Jörgen Elofsson, Per Magnusson, David Kreuger, Max Marti 3:17
3. "Sometimes" Jörgen Elofsson 4:05
4. "(I Can't Get No) Satisfaction" Jagger, Richards 4:28
5. "Born to Make You Happy" Kristian Lundin, Andreas Carlsson 4:03
6. "From the Bottom of My Broken Heart" Eric Foster White 5:51
7. "I Will Be There" Max Martin, Andreas Carlsson 3:53
8. "I Will Still Love You" (cùng Don Phillip) Eric Foster White 4:02
9. "Deep in My Heart" Per Magnusson, David Kreuger, Andreas Carlsson 3:34
10. "Thinkin' about You" Mikey Bassie, Eric Foster White 3:35
11. "E-Mail My Heart" Eric Foster White 3:41
12. "The Beat Goes On" Sonny Bono 3:43

Bonus tracks[sửa | sửa mã nguồn]

# Tiêu đề Tác giả Thời lượng
13. "I'll Never Stop Loving You" ("You Drive Me Crazy" B-side) Jason Blume, Steve Diamond 3:41
14. "Autumn Goodbye" ("...Baby One More Time" B-side) Eric Foster White 3:42
15. "...Baby One More Time" (Davidson Ospina Radio Mix) Max Martin 3:24
16. "...Baby One More Time" (Boy Wunder Radio Mix) Max Martin 3:29

Xếp hạng và chứng nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Bảng xếp hạng Nơi cấp Vị trí
cao nhất
Chứng nhận Doanh số
Australian ARIA Albums Chart[1] ARIA 2 4x Bạch Kim[2] 280.000
Austrian Albums Chart[3] IFPI 2 Bạch Kim 30.000
Belgium Walloon Albums Chart[4] IFPI 2 3xBạch Kim 150.000[5]
Belgium Flanders Albums Chart[6] 2
Canadian Albums Chart[7] CRIA 1 10x Bạch Kim (Kim Cương) 1.000.000[8]
European Top 100 Albums[9] IFPI 2 4x Bạch Kim 4.600.000
Finland Albums Chart[10] YLE 4 Vàng 37.865
French SNEP Albums Chart[11] SNEP 4 2x Bạch Kim 600.000
German Albums Chart[9] IFPI 1 3x Vàng 750.000
Irish Albums Chart[12] IRMA 1 10x Bạch kim[13] 150.000
Japan Oricon Album Chart[14] RIAJ 9 Bạch Kim 279.700
Japan Oricon International Album Chart[15] 9
Mexican Albums Chart AMPROFON 1 2x Bạch Kim 500.000
Mexican Albums Chart - International[16] AMPROFON 1
New Zealand Albums Chart[17] RIANZ 3 3x Bạch Kim 45.000
Swedish Albums Chart[18] IFPI 10 Bạch Kim 60.000
Swiss Albums Chart[19] IFPI 1 2x Bạch Kim 100.000[20]
Turkey Top 20 MÜ-YAP 1 Kim Cương 300.000
UK Albums Chart[21] BPI 4 3x Bạch kim[22] 1.205.000
U.S. Billboard 200[7] Nielsen SoundScan 1 14x Bạch Kim (Kim Cương)[23] 14.000.000
Doanh số trên toàn thế giới
28.200.000 [24]

Bảng xếp hạng vào cuối năm[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Quốc gia Bảng xếp hạng Thứ hạng Doanh số
1999 Mỹ Billboard 200 #2[25] 8.358.619
1999 Anh UK Albums Chart #17[26] -
2000 Anh UK Albums Chart #39[26] -

Bảng xếp hạng thập kỷ[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Quốc gia Bảng xếp hạng Thứ hạng
1990-1999 Mỹ Billboard 200 #29 [27]
2000-2009 Mỹ Billboard 200 #81 [28]
2000-2009 Thế giới United World Chart #93 [29]

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Lễ trao giải Giải thưởng Kết quả
1999 Billboard Music Awards Album của năm Đề cử
2000 Giải Grammy Trình diễn giọng pop nữ xuất sắc nhất cho đĩa đơn ...Baby One More Time[30] Đề cử
2000 American Music Awards Album nhạc Pop/Rock được yêu thích nhất Đề cử

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Australian Recording Industry Association (18 tháng 7 năm 1999). “Australian Albums Chart”. Australian Charts. Truy cập 13 tháng 7 năm 2009. 
  2. ^ “Australian Record Industry Assocation”. Ariacharts.com.au. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2009. 
  3. ^ acharts
  4. ^ Ultratop (7 tháng 8 năm 1999). “Belgian Walloon Albums Chart”. Truy cập 13 tháng 7 năm 2009. 
  5. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên weekchart1
  6. ^ Ultratop (31 tháng 7 năm 1999). “Belgian Flemish Albums Chart”. Truy cập 13 tháng 7 năm 2009. 
  7. ^ a ă Billboard magazine (tháng 1 năm 1999). “Billboard charts”. All Music Guide. Truy cập 13 tháng 7 năm 2009. 
  8. ^ http://www.cria.ca/goldplat.php#album
  9. ^ a ă “Chart Data: Britney Spears”. Mariah Charts. 1999. Truy cập 13 tháng 7 năm 2009. 
  10. ^ “Finnish Albums Chart”. Finnish Charts. Week 2, 2000. Truy cập 13 tháng 7 năm 2009. 
  11. ^ Syndicat National de l'Édition Phonographique (1 tháng 1 năm 2000). “French Albums Chart”. Les Charts. Truy cập 13 tháng 7 năm 2009. 
  12. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Charts
  13. ^ Jaclyn Ward - Fireball Media Ltd. - http://www.fireballmedia.ie (1 tháng 10 năm 1962). “The Irish Charts - All there is to know”. Irishcharts.ie. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2009. 
  14. ^ “Japanese Main Albums Chart”. Oricon. Truy cập 13 tháng 7 năm 2009. 
  15. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên japan
  16. ^ http://greaves.tv/amprofon3/Top20.pdf
  17. ^ Recording Industry Association of New Zealand (30 tháng 5 năm 1999). “New Zealand Albums Chart”. New Zealand Charts. Truy cập 13 tháng 7 năm 2009. 
  18. ^ Sverigetopplistan (27 tháng 1 năm 2000). “Swedish Albums Chart”. Swedish Charts. Truy cập 13 tháng 7 năm 2009. 
  19. ^ “Swiss Albums Chart”. Swiss Charts. 28 tháng 3 năm 1999. Truy cập 13 tháng 7 năm 2009. 
  20. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên swisscharts1
  21. ^ The Official Charts Company (tháng 3 năm 1999). “UK Albums Chart”. Every Hit. Truy cập 13 tháng 7 năm 2009. 
  22. ^ [1]
  23. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên US_plat
  24. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên circus_3_million
  25. ^ http://www.avrev.com/home-theater-news/music-software-news/record-sales-up-4-percent-in-2000-despite-napster-and-mp3-com.html
  26. ^ a ă http://www.bpi.co.uk/assets/files/Yearly%20best%20sellers%20-%20albums.pdf
  27. ^ http://books.google.com.vn/books?id=9w0EAAAAMBAJ&redir_esc=y
  28. ^ https://archive.is/20120529160151/www.billboard.com/charts-decade-end/billboard-200-albums?year=2009%23/charts-decade-end/billboard-200-albums?year=2009&begin=1&order=position
  29. ^ http://www.mediatraffic.de/2000-2009-album-chart.html
  30. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên britneynominated

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]