Chiến binh Gaoranger

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Gaoranger là tên nhóm hư cấu của loạt Hyakujuu Sentai Gaoranger. Họ được chọn bởi Tetomu và các Siêu Thú để bảo vệ Trái Đất khỏi sự xâm lược của bọn Ogre Tribe Org. Trong suốt cả series, các nhân vật gọi nhau bằng những màu sắc chứ không phải là tên. Cho đến tập cuối, họ mới giới thiệu về bản thân. Điều này để chuẩn bị cho sự kiện Ninpuu Sentai Hurricaneger vs. Gaoranger, nơi các nhân vật gọi nhau bằng tên thật của họ.

Gaoranger[sửa | sửa mã nguồn]

Đỏ[sửa | sửa mã nguồn]

Chiến binh được chọn bởi GaoLion, Sư Tử gầm gừ~GaoRed!"[1]

Bác sĩ Kakeru Shishi (獅子 走 Shishi Kakeru-sensei?) / Sư Tử gầm gừ~GaoRed (灼熱の獅子ガオレッド Shakunetsu no Shishi Gaoreddo?): bác sĩ thú y 24 tuổi. Thân thiện, ấm áp, và tốt bẩm sinh, anh ta được chọn bởi GaoLion để thành lãnh đạo và chiến binh thứ năm. Anh muốn bảo vệ mọi sinh mệnh trên Trái Đất và yêu động vật, đặc biệt là con Choko. Khi nhắm mắt, Kakeru có thể hiểu ý nghĩ động vật và trò chuyện với chúng. Anh nghĩ rằng anh cũng có thể làm vậy với bọn Org, nhưng lại khám phá ra rằng không thể làm vậy vì chúng không có linh hồn. Hai câu nói nổi tiếng của anh là: "Tôi là một bác sĩ thú y" và "Tôi đầy động lực!" Anh phụ trách việc thành lập cơ thể định dạng Mecha Gao. Sau trận chiến cuối, anh trở lại vai trò cũ ở bệnh viện Sakura. AkaRed ở GoGo Sentai Boukenger vs. Super Sentai biến hình thành GaoRed và chiến đấu chống lại Chronos, Tsuetsue, Meemy và Gajah.

  • Vũ khí Gao:
    • Lion Fang (ライオンファング Raion Fangu?), vũ khí của GaoRed. Nó có thể được chia thành hai phần và nó cũng có thể chuyển đổi vào Gao Mane Buster (ガオメインバスター Gao Mein Basutā?), một súng được sử dụng của GaoRed của lệnh "Lion Fang, chuyển đổi! ". Nhận được trong tập 3 GaoRed khi các Gaoranger khác bị biến mất do Org Camera. Nó có hai chế độ: Chế độ bình thường (ノーマルモード Nōmaru Mōdo?), trong đó nhanh chóng laser blasts như một súng máy, và Chế độ cuối cùng (ファイナルモード Fainaru Mōdo?), trong đó có nhiều năng lượng cháy nổ từ miệng.*** Tấn công đặc biệt: Blazing Fire (ブレイジングファイヤー Bureijingu Faiyā?), Bão Gao (ガオレンジャーストーム Gaorenjā Sutōmu?); Một minh cầu tạo bởi các Gaoranger, Giấc mơ Sentai, và chiến binh đỏ. GaoRed đá nó vào Rakushaasa một lần và mãi mãi. Việc kết thúc được gọi là năng lượng ác quỷ, phân tán (邪鬼净散 Jaki Jōsan?).

Vàng[sửa | sửa mã nguồn]

"Chiến binh được chọn bởi GaoEagle, Đại Bàng đơn độc~GaoYellow!"[1]

Gaku Washio (鷲尾 岳 Washio Gaku?) / Đại Bàng đơn độc~GaoYellow (孤高の荒鷲ガオイエロー Kokō no Arawashi Gaoierō?): 23 tuổi, phi công Lực lượng Tự vệ Nhật Bản. Là người đầu tiên được chọn bởi Tetomu. Tetomu tuyển mộ anh ta đúng lúc anh đang làm nhiệm vụ bay, vì vậy mà đơn vị đã tưởng anh mất tích trong khi làm nhiệm vụ. Vì có Siêu Thú là chim, Gaku ghét ăn thịt chim. Sau trận chiến cuối, anh trở lại làm phi công Air Force và màu tóc được hồi phục.

  • Vũ khí Gao:
    • Eagle Sword (イーグルソード Īguru Sōdo?).
      • Tấn công đặc biệt: Noble Slash (ノーブルスラッシュ Nōburu Surasshu?), Noble Chopper (ノーブルチョッパー Nōburu Choppā?, With Shark Cutters)
    • Feather Cutters (フェザーカッター Fezā Kattā?), một cặp dao găm có họa tiết cách điệu từ chiếc lông chim được gắn vào đuôi của thanh kiếm Eagle Sword.

Xanh[sửa | sửa mã nguồn]

"Chiến binh được GaoShark chọn, Cá mập biển khơi~GaoBlue!"[1]

Kai Samezu (鮫津 海 Samezu Kai?) / Cá mập biển khơi~GaoBlue (怒涛の鮫ガオブルー Dotō no Same Gaoburū?): 19 tuổi. Trở thành Gaoranger cùng lúc với Sae. Phương châm "Không bỏ cuộc!".

  • Vũ khí Gao: Shark Cutters (シャークカッター Shāku Kattā?).
  • Tấn công đặc biệt: Surging Chopper (サージングチョッパー Sājingu Choppā?), Iron Twister (アイアンツイスター Aian Tsuisutā?, With GaoBlack), Giraffe Typhoon (ジュラフタイフーン Jurafu Taifūn?), Giraffe Cutter (ジュラフカッター Jurafu Kattā?), Surging Thrust (サージングスラスト Sājingu Surasuto?, all three with JuuOh Sword holding GaoGiraffe Jewel), Surging Slash (サージングスラッシュ Sājingu Surasshu?, With Eagle Sword), Milk Tornado Drop (牛乳竜巻落とし Gyūnyū Tatsumaki Otoshi?), Tornado Spin (トルネードスピン Torunēdo Supin?)

Đen[sửa | sửa mã nguồn]

Chiến binh được GaoBison chọn, Trâu sắt~GaoBlack !"[1]

Soutarou Ushigome (牛込 草太郎 Ushigome Sōtarō?) / Trâu sắt~GaoBlack (鋼の猛牛ガオブラック Hagane no Mōgyū GaoBurakku?): 22 tuổi. Trở thành Gaoranger 1 tháng trước Kakeru.

  • Vũ khí Gao: Bison Axe (バイソンアックス Baison Akkusu?).
  • Tấn công đặc biệt: Iron Broken (アイアンブロークン Aian Burōkun?), Iron Twister (アイアンツイスター Aian Tsuisutā?, With GaoBlue)

Trắng[sửa | sửa mã nguồn]

"Chiến binh được chọn bởi GaoTiger, Cọp xinh đẹp~GaoWhite!"[1]

Sae Taiga (大河 冴 Taiga Sae?) / Cọp xinh đẹp~GaoWhite (麗しの白虎ガオホワイト Urawashi no Byakko Gaohowaito?): Một nữ sinh 17 tuổi. Cô đến Tokyo với mong muốn thi vào học viện quân sự. Sae trưởng thành trong một gia đình võ sĩ đạo. Cha cô là một chiến binh kỳ cựu và cực kỳ nghiêm khắc. Sae rất thương cha và nghĩ đến ông như một động lực để chiến đấu với các Orgs. Cô trở thành Gaoranger cùng lúc với Kai.

  • Vũ khí Gao: Tiger Baton (タイガーバトン Taigā Baton?).
  • Tấn công đặc biệt: Belle Crisis (ベルクライシス Beru Kuraishisu?), Byakko Cross Cut (白虎十文字斬り Byakko Jūmonji Giri?)

Bạc[sửa | sửa mã nguồn]

Shirogane (シロガネ Shirogane?, Silver) / Sói bạc chiếu sáng GaoSilver (閃烈の銀狼ガオシルバー Senretsu no Ginrō Gaoshirubā?)[1]: 1,062 tuổi, Chiến binh Gao từ thời Heian period, tên thật Tsukumaro Oogami (大神 月麿 Ōgami Tsukumaro?). 1,000 năm trước, GaoGod đã thua Hyakkimaru. Trong hoàn cảnh đó, Tsukumaro đã đeo Dark Wolf Mask {Mặt nạ Sói Bóng tối, để có thể đánh bại Org. Sau khi đánh bại Hyakkimaru, chiếc mặt nạ thay đổi anh trở thành Loki. Sau đó các Gao chiến binh đã giam anh ta trong 1000 năm.

Khi chiến đấu để cứu các Gaoranger khỏi Chimera Org, các Siêu Thú đã cho anh G-Brace Phone có thể biến anh thành GaoSilver.

  • Vũ khí Gao: Gao Hustler Rod (ガオハスラーロッド Gao Hasurā Roddo?), 3 chế độ. Saber Mode (サーベルモード Sāberu Mōdo?), Sniper Mode (スナイパーモード Sunaipā Mōdo?)Break Mode (ブレイクモード Bureiku Mōdo?), với đòn kết liễu Evil-Crushing Seijuu Orbs (破邪聖獣球 Haja Seijūkyū?, Saint Beast Orbs) khi tạo ra bàn laser ảo và anh kêu lên Laser Pool (レーザープール Rēzā Pūru?), và đánh 3 viên Gao Jewels về phía kẻ Org. Đòn kết liễu gọi là Hồn quỷ, đánh tan (邪鬼玉砕 Jaki Gyokusai?). bàn laser ảo cũng dùng gọi các Siêu Thú.
  • Tấn công đặc biệt: Silver Wolf Full Moon Cut (狼満月斬り Ginrō Mangetsu Giri?, Saber Mode)

Khác[sửa | sửa mã nguồn]

  • Gao Pháp sư Tetomu (テトム Tetomu?) là một phù thủy 1,022 năm tuổi của các thần thú Gao trên đảo Animarium. Cô là người cố vấn cho đội Gaoranger, thay thế cho bà của cô cũng là cựu phù thủy Murasaki. Cô sống trong hang Gao và ngủ suốt mùa xuân khi không có nhiệm vụ. Cô có một khả năng đặc biệt là có thể phát ra điện qua bàn tay. Giọng hát của cô làm êm dịu các Siêu thú Gao, và cô thường hát bài hát của bà Murasaki với Gao Bạc Shirogane cho Gao Deers nghe. Cô đồng thời cũng là một đầu bếp tài năng. Rasetsu biết được điều đó và hắn ra lệnh cho Duke Org đi bắt cô về.

Tetomu do nữ diễn viên Takemi (岳美?) thủ vai.

  • Gao Pháp sư Murasaki (ムラサキ Murasaki?): Bà của Temomu. Bà đã từng là phù thủy Gao và là người cố vấn cho đội Gaoranger tiền nhiệm. Bà thường hát với Gao Bạc Shirogane nhưng bà đã không còn hát được nữa vì cổ họng bị thương khi bà và Shirogane bị các Orgette tấn công.
  • Kaito (魁人 Kaito?) là người lãnh đạo cuộc chiến chống lại các Org trên đảo núi lừa. Kaito đã giữ một nửa viên ngọc để triệu hồi Gao Kong. Ông chết khi đang bảo vệ cho công chúa Iriya khỏi chúa tể Org.
  • Công chúa Iriya (皇女伊莉耶 Ōjo Iriya?) là công chúa của đảo núi lửa, người đã bị bọn Org bắt giữ. Một nửa viên ngọc của cô đã bị 3 anh em Org đánh cắp và đã được đưa lại cho Tetomu trong cuộc thi uống nước với Poseidon Org.

"Chúng ta là Super Sentai!"

Dụng cụ[sửa | sửa mã nguồn]

  • G-Phone (Gフォン Jī-Fon?): Thiết bị biến hình của các Gaoranger. G-Phone biến đổi thành các con thú, rồi hóa thành hình người. Khẩu ngữ: "Gao Access, haa!", và "Summon, spirit of the earth!" được vang lên trong tiến trình. Nó cũng là thiết bị liên lạc của họ. Mã kích hoạt: 1. GaoWhite, 2. GaoBlack, 3. GaoBlue, 4. GaoYellow, và 5. GaoRed.
  • G-Brace Phone (Gブレスフォン Jī-Buresu Fon?): Thiết bị biến hình của GaoSilver. Có mọi chức năng như G-Phone. GaoSilver mã kích hoạt: 6.
  • Gao Ngọc (ガオの宝珠 Gao no Hōju?): Viên đá giữ linh hồn của các Siêu Thú. Khi Gảoanger gọi cho các Siêu Thú, họ đặt các viên ngọc vào lỗ trong thanh kiếm JuuOh Sword, nó đưa lời kêu gọi của các Gaoranger tới các Siêu Thú ở Animarium. Khi các Siêu Thú chết ở tập cuối, các viên ngọc bể ra.
  • Summoner Mode (サモナーモード Samonā Modō?): Là cây cung triệu tập Gao Falcon từ thanh kiếm JuuOh Sword của GaoRed.
    • Kiếm JuuOh (獣皇剣 Jūōken?, Kiếm Vương Thú): Vũ khí chính của các Gaoranger. Nó có thể triệu hồi và kết hợp các Siêu Thú.
    • Falcon Summoner (ファルコンサモナー Farukon Samonā?).
  • Evil-Crushing Hyakujuuken (破邪百獣剣 Haja Hyakujūken?, Bách thú kiếm)Tà Quỷ Thoái, Tán (邪鬼退散 Jaki Taisan?).

Siêu Thú[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Siêu Thú

Cũng xem[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]