Báo đốm

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Báo đốm Mỹ)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Báo đốm Mỹ (jaguar)[1]
Jaguar head shot.jpg
Jaguar sitting.jpg
Một con Báo đốm Mỹ tại Vườn thú quận Milwaukee
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Mammalia
Bộ (ordo) Carnivora
Họ (familia) Felidae
Chi (genus) Panthera
Loài (species) P. onca
Danh pháp hai phần
Panthera onca
Linnaeus, 1758
Phân bổ báo đốm Mỹ
Phân bổ báo đốm Mỹ

Báo đốm Mỹ (Panthera onca) là một trong bốn loài lớn nhất của họ nhà Mèo bên cạnh sư tử, hổbáo hoa mai, có nguồn gốc ở Nam MỹTrung Mỹ và là loài duy nhất trong số bốn loài này ở khu vực châu Mỹ.

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Chiều dài của báo đốm Mỹ dao động trong khoảng 1,1 tới gần 1,9 mét, cao khoảng 70 cm tính tới vai, và có trọng lượng khoảng 57 đến 113 kg. Báo đốm Mỹ có cấu trúc quai hàm khỏe nhất trong họ nhà Mèo. Màu nền của chúng thông thường là màu vàng-da cam, với hàng loạt các vòng hay hình hoa thị bên hông và các đốm trên đầu và cổ. Có thể phân biệt chúng với báo đốm hoa mai theo các đốm trong các hoa thị. Nếu báo bị nhiễm hắc tố thì nó có thể sinh ra các báo con hoàn toàn đen (mặc dù khi nhìn gần vẫn thấy rõ các đốm). Các con này được gọi là báo đen, nhưng đây không phải là một loài riêng biệt.

Báo đốm Mỹ sinh sống chủ yếu ở các rừng mưa nhiệt đới từ miền nam và miền trung châu Mỹ tới Mexico, nhưng ít khi nhìn thấy chúng ở các vùng núi. Được biết đến với khả năng bơi lội và leo trèo rất tốt, chúng thích sống ở ven sông, trong các đầm lầy và trong các khu rừng rậm nhiều con mồi. Người ta ít khi quan sát thấy báo đốm Mỹ ở phía bắc cũng như ở phía tây nam của nước Mỹ, đặc biệt là ở Arizona. Theo lịch sử, các khu vực lãnh thổ của báo đốm Mỹ từng trải dài về phía bắc tới tận miền bắc California và miền tây Texas.

Mặc dù báo đốm Mỹ có ngoại hình tương tự báo hoa mai và có quan hệ họ hàng gần với loài này, nhưng có các tập tính gần với [hổ] hơn. Báo đốm Mỹ là những kẻ săn mồi cô độc, chúng không đi săn với những con báo khác ngoài mùa sinh sản. Chủ yếu chúng săn bắt các con mồi lớn. Quai hàm khỏe của chúng cho phép chúng săn bắt hươu, nai, chuột lang nướclợn lòi Pecari, thậm chí là cá sấu nhưng chúng là những kẻ cơ hội và sẽ ăn mọi thứ từ ếch, thằn lằn đến chuột hay chim, cũng như thú nuôi trong gia đình. Quai hàm đặc biệt khỏe cho phép báo đốm phát triển phương pháp giết con mồi khác với các loài khác thuộc họ nhà mèo: cắn và đâm thủng sọ con mồi. Báo đốm Mỹ có thể chạy nhanh tới 70 km/h nhưng không bền, nên chúng thường kiên trì rình mồi và ít khi tham gia vào các cuộc đua dài hơi.

Báo đốm Mỹ đực đạt đến độ tuổi trưởng thành khi chúng từ 3 đến 4 năm tuổi, báo cái sớm hơn chừng một năm. Báo cái sẽ sinh tối đa 4 con sau từ 90 đến 110 ngày mang thai, nhưng không quá 2 con non sẽ lớn đến độ trưởng thành. Khi vừa sinh ra, con non nhắm mắt và chúng chỉ có thể nhìn được sau khoảng 2 tuần. Chúng sẽ sống cùng mẹ trong khoảng 2 năm trước khi bỏ đi để thiết lập lãnh thổ riêng, lãnh thổ này có thể đạt tới 25 – 150 km2, phụ thuộc vào mức độ tập trung của các con mồi. Trong điều kiện nuôi nhốt, báo đốm Mỹ có thể sống tới 20 năm.

Từ nguyên[sửa | sửa mã nguồn]

Trong tiếng Anh, từ jaguar có nguồn gốc từ tiếng Tupi-Guarani ở Nam Mỹ. Theo các nhà thám hiểm châu Âu thời kỳ đầu thì jaguara có nghĩa là "con thú có thể giết chết con mồi chỉ bằng một cú nhảy".

Tên nguyên thủy và có gốc hoàn toàn bản xứ của loài này là jaguarete. Kỳ lạ là từ jagua có nghĩa là "chó" trong tiếng Guarani. Jaguar cũng là tước hiệu của hoàng tử hay công chúa hay của vua đang cai trị của người Maya chẳng hạn như của bộ tộc Lenca.

Sự phổ biến rộng rãi của báo đốm Mỹ không có nghĩa là chúng không phải đối diện họa diệt chủng trong tương lai gần. Ở một số khu vực, số lượng của chúng này đang bị suy giảm, chủ yếu là do bị mất nơi sống, đặc biệt là trong các rừng mưa nhiệt đới và những khu vực có đồng cỏ bị chuyển thành đất gieo trồng.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Wozencraft, W. C. (2005). “Order Carnivora”. Trong Wilson, D. E.; Reeder, D. M. Mammal Species of the World . Nhà in Đại học Johns Hopkins. tr. 546–547. ISBN 978-0-8018-8221-0. OCLC 62265494. 
  2. ^ Nowell, K., Breitenmoser, U., Breitenmoser, C. & Jackson (2002). Panthera onca. Sách đỏ 2006. IUCN 2006. Truy cập 11 tháng 8 năm 2006. Mục lục trong cơ sở dữ liệu kèm lý giải tại sao loài này gần bị đe dọa.