Hoàng Anh (phó thủ tướng)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Hoàng Anh
Chức vụ
Phó Thủ tướng Chính phủ
Nhiệm kỳ tháng 4, 1971 – tháng 4, 1976
Nhiệm kỳ tháng 2, 1977 – tháng 5, 1982
Tiền nhiệm Đào Thiện Thi
Kế nhiệm Chu Tam Thức
Nhiệm kỳ tháng 4, 1976 – tháng 2, 1977
Tiền nhiệm Đặng Việt Châu
Kế nhiệm Trần Dương
Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp
Nhiệm kỳ tháng 4, 1965 – tháng 11, 1967
Nhiệm kỳ tháng 6, 1958 – tháng 4, 1965
Tiền nhiệm Lê Văn Hiến
Kế nhiệm Đặng Việt Châu
Thông tin chung
Đảng phái Đảng Cộng sản Việt Nam
Sinh 28 tháng 3, 1912 (102 tuổi)

Hoàng Anh (sinh: 28/3/1912) là một cựu chính khách Việt Nam. Ông từng giữ các chức vụ quan trọng trong Đảng Cộng sản Việt Nam và chính quyền như Bí thư Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Tài chính, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp. Ông là một trong những cựu chính khách Việt Nam cao tuổi nhất hiện nay. Ông được Nhà nước Việt Nam trao tặng Huân chương Sao Vàng năm 2007[1].

Thân thế và bước đầu hoạt động cách mạng[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh ngày 28 tháng 3 năm 1912 tại xã Phong Thái, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên - Huế[2][3].

Thuở nhỏ, ông được cha mẹ cho đi học. Năm 15 tuổi, do gia cảnh sa sút, ông nghỉ học, ở nhà phụ việc làm ruộng. Do được ăn học ít nhiều, ông nhận thức được ý thức chính trị. Năm 1936, ông tham gia phong trào Mặt trận Nhân dân Phản đế Đông Dương, đấu tranh đòi những quyền lợi cơ bản cho dân bản xứ. Tuy nhiên, năm 1938, chính phủ Mặt trận bình dân (Pháp) đổ, phong trào Mặt trận Thống nhất Dân chủ Đông Dương bị đàn áp, ông bị chính quyền thực dân Pháp bắt giam tại nhà lao Thừa Phủ (Huế). Cùng bị giam với ông có Nguyễn Vịnh, Tố Hữu...[4]. Thời gian ở tù, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương.

Một trong những lãnh đạo Việt Minh tại Huế[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 5 năm 1945, ông được ra tù. Ngay lập tức, ông bắt liên lạc và hoạt động trong Mặt trận Việt Minh của tỉnh. Ngày 23 tháng 5 năm 1945, ông tham gia Hội nghị Ban chấp hành Việt Minh tỉnh Thừa Thiên (lấy biệt danh Việt Minh Nguyễn Tri Phương) và tham gia Ban thường vụ gồm 5 người là Hoàng Anh, Lê Dĩnh, Lê Tự Đồng, Trần Thanh Từ, Mỹ Sơn (Bí thư). Thời gian này, ông sử dụng các bí danh Bình hoặc Hoàng để hoạt động bí mật.

Khi Việt Minh chuẩn bị giành chính quyền tại Thừa Thiên Huế, ông được giao công tác tiếp xúc và vận động các bộ trưởng trong Chính phủ Trần Trọng Kim[5]. Trong danh sách Ủy ban Khởi nghĩa tỉnh Thừa Thiên công bố ngày 20 tháng 8 năm 1945, ông giữ chức vụ Phó Chủ tịch[6], dưới quyền Chủ tịch Tố Hữu. Ba ngày sau, ngày 23 tháng 8, Ủy ban Nhân dân Cách mạng Lâm thời tỉnh Thừa Thiên được thành lập, ông lại được cử làm Phó Chủ tịch dưới quyền Chủ tịch Tôn Quang Phiệt[7]. Chính ông là người cùng với Phan Tử Lăng và một số cán bộ chỉ huy tổ chức bắt giữ nhóm nhảy dù của Thiếu tá Castella (đặc phái viên của tướng De Gaulle) ngày 26 tháng 8 năm 1945.[8]

Tháng 1 năm 1946, ông trúng cử là Đại biểu Quốc hội khóa I của đơn vị bầu cử tỉnh Thừa Thiên[9]. Tháng 3 năm đó, ông được cử làm Chủ tịch Ủy ban Hành chính tỉnh Thừa Thiên[10]. Sau khi Pháp tái chiếm Đông Dương, tháng 11 năm 1946, ông được cử tham gia Ủy ban Kháng chiến Thừa Thiên[11], dưới quyền Chủ tịch Hà Văn Lâu. Khi Ủy ban Kháng chiến Thừa Thiên được cải thành Ủy ban Hành chính Kháng chiến Thừa Thiên ngày 28 tháng 7 năm 1947, ông một lần nữa được cử vào chức vụ Chủ tịch[12]. Ông cũng được bầu là Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên, Bí thư Phân khu ủy kiêm Chủ tịch Ủy ban Hành chính Kháng chiến mặt trận Bình Trị Thiên. Năm 1948, ông được chỉ định làm Bí thư Liên khu ủy Khu 4.

Tháng 2 năm 1951, tại Đại hội đại biểu lần II của Đảng, ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam.

Tháng 11 năm 1953, ông được Trung ương cử trực tiếp chỉ đạo chính quyền Việt Minh ở Thanh Hóa tổ chức mở đường 41 lên Điện Biên Phủ cũng như tổ chức các hoạt động tiếp tế chi viện cho Chiến dịch Điện Biên Phủ đầu năm 1954.

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, ông được Trung ương điều ra Bộ Quốc phòng tham gia Tổng quân ủy với cấp bậc Đại tá, phụ trách theo dõi thi hành Hiệp định Genève, 1954.[13]

Sau Hiệp định Genève, ông ở lại miền Bắc, tiếp tục công tác trong Quân ủy Trung ương.

Tham gia công tác Ban Bí thư và Chính phủ[sửa | sửa mã nguồn]

Hoạt động trong lĩnh vực tài chính.

Tháng 6 năm 1958, ông được phê chuẩn bổ nhiệm vào chức vụ Bộ trưởng Bộ Tài chính và tháng 11 năm đó được bổ sung vào Ban Bí thư.

Năm 1960, ông là một trong 4 đại biểu lưu nhiệm của tỉnh Thừa Thiên tại Quốc hội khóa II và được tái bổ nhiệm Bộ trưởng Bộ Tài chính, phân công kiêm thêm chức vụ Chủ nhiệm Văn phòng Tài chính-Thương nghiệp Phủ Thủ tướng. Cũng trong năm đó, ông tái đắc cử Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam khóa III, được bầu vào Ban Bí thư.

Tháng 1 năm 1963, ông thôi giữ chức Chủ nhiệm Văn phòng Tài chính-Thương nghiệp Phủ Thủ tướng. Người thay thế ông trong chức vụ này là ông Phạm Hùng.

Năm 1964, ông tiếp tục là đại biểu lưu nhiệm của tỉnh Thừa Thiên tại Quốc hội khóa III và được tái bổ nhiệm Bộ trưởng Bộ Tài chính.

Hoạt động trong lĩnh vực Nông nghiệp.

Tuy nhiên, đến tháng 4 năm 1965, ông được phê chuẩn bổ nhiệm Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp kiêm Chủ nhiệm Văn phòng Nông nghiệp Phủ Thủ tướng. Tháng 11 năm 1967, ông thôi nhiệm Bộ trưởng, được phân công làm Bí thư Khu ủy kiêm Chính ủy Quân khu Trị Thiên. Tháng 12 năm 1969, ông thôi giữ chức Chủ nhiệm Văn phòng Nông nghiệp.

Tháng 4 năm 1971, ông được triệu hồi về Trung ương, được bổ nhiệm Phó Thủ tướng kiêm Chủ nhiệm Ủy ban Nông nghiệp Trung ương. Tháng 4 năm 1974, ông thôi giữ chức Chủ nhiệm Ủy ban Nông nghiệp Trung ương.

Hoạt động trong lĩnh vực tài chính.

Tại Quốc hội thống nhất khóa VI, ông trúng cử vào Đại biểu Quốc hội và được bổ nhiệm vào chức vụ Tổng Giám đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Tại Đại hội đại biểu lần IV của Đảng, ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam.

Tháng 2 năm 1977, ông được bổ nhiệm vào chức vụ Bộ trưởng Bộ Tài chính lần thứ 2 và giữ chức vụ này cho đến khi nghỉ hưu vào tháng 5 năm 1982.

Tôn vinh[sửa | sửa mã nguồn]

Nếu theo trang thông tin của Bộ Tài chính, thì ông sinh ngày 28 tháng 3 năm 1911[14] và là chính khách Việt Nam cao tuổi nhất cấp Bộ trưởng trở lên còn sống (100 tuổi), trên cả Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Năm 2007, để ghi nhận những cống hiến của ông, Nhà nước Việt Nam đã trao tặng Huân chương Sao Vàng, huân chương cao quý nhất Việt Nam.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Trao huân chương cho 15 đồng chí nguyên là lãnh đạo Chính phủ, Văn phòng Chính phủ
  2. ^ Đồng chí Hoàng Anh
  3. ^ Tài liệu Dư địa chí Thừa Thiên Huế chép ông sinh ngày 28 tháng 3 năm 1912 trong một gia đình nông dân tại thôn Phù Ninh thuộc xã Phong An
  4. ^ Nhà lao Thừa Phủ
  5. ^ Phan Hoàng, "Phỏng vấn Tướng lĩnh Việt Nam", phần "Trung tướng Lê Tự Đồng"
  6. ^ Ủy ban Khởi nghĩa tỉnh Thừa Thiên (20/8/1945)
  7. ^ Ủy ban Nhân dân Cách mạng Lâm thời tỉnh Thừa Thiên (23/8/1945)
  8. ^ Đặng Văn Việt, "Người lính già Đặng Văn Việt, chiến sĩ đường số 4 anh hùng". tr. 88-94.
  9. ^ Đại biểu Quốc hội tỉnh Thừa Thiên Huế từ khóa I đến nay
  10. ^ Uỷ ban Hành chính tỉnh Thừa Thiên (Tháng 3/1946)
  11. ^ Ủy ban Kháng chiến Thừa Thiên (Tháng 11/1946)
  12. ^ Ủy ban Hành chính Kháng chiến Thừa Thiên (28/7/1947)
  13. ^ "Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954-1975", Tập 2, Chương IV. NXB Chính trị Quốc gia, 1995.
  14. ^ Các thế hệ cán bộ ngành Tài chính chúc mừng thượng thọ đồng chí Hoàng Anh tròn 100 tuổi (28/3/1911-28/3/2011)

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]