Sidney Altman

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Sidney Altman
Sinh 7 tháng 5, 1939 (75 tuổi)
Montréal, Quebec, Canada
Quốc tịch Canada & Mỹ (từ 1984)
Ngành Sinh học phân tử
Alma mater Đại học Colorado tại Boulder
Nổi tiếng vì Ribozyme
Giải thưởng Giải Nobel Hóa học (1989)

Sidney Altman (sinh ngày 7.5.1939) là nhà Sinh học phân tử người Canada Mỹ[1] đã đoạt giải Nobel Hóa học năm 1989 chung với Thomas Cech cho công trình nghiên cứu của họ về các đặc tính xúc tác của RNA.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Altman sinh ngày 7.5.1939 tại Montréal, Québec, Canada, là con thứ hai của một gia đình nhập cư nghèo. Mẹ ông làm việc trong một xưởng dệt vải, còn người cha trông nom một tiệm bán hàng tạp hóa, trước khi họ kết hôn.

Sau khi tốt nghiệp trung học, ban đầu ông định vào học ở Đại học McGill ở Montréal, nhưng một loạt sự việc bất ngờ xảy ra đã dẫn ông sang Hoa Kỳ học Vật lý họcHọc viện Công nghệ Massachusetts. Ông đậu bằng cử nhân vật lý ở trường này năm 1960, sau đó sang học 18 tháng vật lý họcĐại học Columbia, chờ cơ hội được vào phòng thí nghiệm nghiên cứu, nhưng vô vọng. Tám tháng sau khi rời Đại học Columbia ông theo học vật lý trong một khóa mùa hè và làm việc ở Đại học Colorado, nơi ông xin vào học ngành lý sinh học như một sinh viên đã tốt nghiệp. Năm 1967 ông đậu bằng tiến sĩ ngành lý sinh học ở Trung tâm Y học Đại học Colorado.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ở phòng thí nghiệm, Altman bắt đầu ông trình nghiên cứu đã dẫn đến việc phát hiện ra RNase P và các đặc tính enzym của tiểu đơn vị RNA của enzym đó. Ông và nhóm nghiên cứu của ông đã khám phá ra là chỉ một mình phân tử RNA là đủ cho hoạt động xúc tác quan sát được, nghĩa là RNA tự nó có các đặc tính xúc tác. Chính phát hiện này đã mang lại cho ông giải Nobel.

Năm 1971 ông làm giáo sư phụ tá ở Đại học Yale và năm 1980 ông trở thành giáo sư. Từ năm 1983 tới 1985 ông làm trưởng phân ban và từ năm 1985, ông làm khoa trưởng của Yale College trong 4 năm. Altman nhập quốc tịch Mỹ năm 1984.[1] nhưng vẫn giữ quốc tịch Canada. Ông được bầu vào Viện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Hoa Kỳ năm 1988.[2] Ngày 1.7.1989 ông trở lại làm giáo sư toàn thời gian. Hiện nay ông làm giáo sư môn sinh học phân tử, tế bào, sinh học phát triểnhóa họcĐại học Yale.

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Nobel laureates in chemistry, 1901-1992. American Chemical Society and Chemical Heritage Foundation. 1994. tr. 737. ISBN 0-8412-2459-5. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2011.  Đã bỏ qua tham số không rõ |editorn-first= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |editorn-last= (trợ giúp)
  2. ^ “Book of Members, 1780-2010: Chapter A”. American Academy of Arts and Sciences. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2011. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]