Thịt trong ống nghiệm

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Thịt trong ống nghiệm hay thịt nuôi cấy là một sản phẩm thịt động vật mà, chưa bao giờ là một phần của một động vật sống hoàn chỉnh.

Loại thịt này được mô tả, đôi khi bằng một giọng điệu mỉa mai, là "thịt nuôi trong phòng thí nghiệm". Ở đây, không nên nhầm lẫn thịt trong ống nghiệm với thịt giả, vì thịt giả là một thực phẩm chay được sản xuất từ protein thực vật (thường là từ đậu nành hay gluten). Các thuật ngữ "thịt tổng hợp" và "thịt nhân tạo" cũng được dùng để ám chỉ cả hai loại thịt giả và thịt trong ống nghiệm. Nghiên cứu sản xuất thịt trong ống nghiệm, về nguyên thủy do NASA thực hiện nhằm cung cấp một nguồn thực phẩm cho các phi hành gia sử dụng (trong các chuyến hành trình dài hay trong quá trình công tác lâu dài trong không gian) bên cạnh các loại rau thủy canhkhí canh.

Để tạo ra thịt nhân tạo, các nhà khoa học lấy các tế bào cơ từ một động vật và nuôi cấy chúng trong môi trường dung dịch protein. Các tế bào cơ nhân lên nhiều lần và tạo ra một mảng thịt nhân tạo giống như lòng trứng sống. Một số nhà nghiên cứu cho rằng, chỉ với 10 tế bào cơ của lợn, họ có thể tạo ra 50.000 tấn thịt nhân tạo trong vòng 2 tháng.

Hiện nay, đã có một số dự án được triển khai nhằm phát triển công nghệ nuôi thịt ống nghiệm, mặc dù loại thịt này chưa được sản xuất đại trà nhằm phổ cập cho người tiêu dùng.[1]. Vào năm 2008, một số nhà khoa học tuyên bố rằng công nghệ sản xuất thịt trong ống nghiệm đã sẵn sàng cho việc sản xuất thương mại và hiện chỉ còn chờ các công ty bỏ vốn việc dự án sản xuất này[2]. Các loại thịt đầu tiên trồng thành công trong phòng thí nghiệm bao gồm thịt cá vàngthịt cừu. Các nhà khoa học tại Đại học Maastricht đã lên kế hoạch sản xuất xúc xích vào tháng 3 năm 2012[3] và bánh hamburger sử dụng thịt nhận tạo vào tháng 9 năm 2012. Chi phí nuôi loại thịt nhân tạo hiện vẫn còn rất tốn kém, tuy nhiên theo các dự đoán chi phí có thể sẽ được giảm xuống còn bằng khoảng hai lần thịt thông thường[4][5]. Các sản phẩm thịt trong ống nghiệm thế hệ đầu tiên nhiều khả năng sẽ là thị lát, và mục tiêu lâu dài là phát triển công nghệ nuôi thịt sao cho có thể tạo ra một bắp thịt hoàn chỉnh. Có khả năng, mô cơ của bất kỳ động vật nào, kể cả con người cũng có thể được nuôi cấy bằng công nghệ này.

Với việc giá sản phẩm thịt của kỹ thuật chăn nuôi thông thường không ngừng gia tăng và nhu cầu thịt càng lúc càng tăng (do dân số thế giới tăng nhanh - đó cũng là yếu tố làm tăng giá lương thực thế giới), công nghệ nuôi thịt trong ống nghiệm có thể là một trong một số công nghệ mới cần thiết để duy trì nguồn cung cấp thực phẩm vào năm 2050. Việc sản xuất thịt theo công nghệ thông thường có thể trở nên quá tốn kém cho người tiêu dùng có thu nhập trung bình[6] (vào thời điểm dân số thế giới đạt 8,9 tỷ người[7]). Còn giá thịt trong ống nghiệm sẽ tách rời khỏi giá ngũ cốc vì nuôi loại thịt này không cần phải cung cấp ngũ cốc cho "vật nuôi" như nuôi thịt thông thường.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Siegelbaum, D.J. (23 tháng 4 năm 2008). “In Search of a Test-Tube Hamburger”. Time. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2009. 
  2. ^ Levine, Ketzel (20 tháng 5 năm 2008), Lab-Grown Meat a Reality, But Who Will Eat It?, National Public Radio, truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2010 
  3. ^ Meat without slaughter: '6 months' to bio-sausages at New Scientist
  4. ^ Temple, James (23 tháng 2 năm 2009). “The Future of Food: The No-kill Carnivore”. Portfolio.com. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2009. 
  5. ^ Preliminary Economics Study of Cultured Meat, eXmoor Pharma Concepts, 2008
  6. ^ Artificial food? Food for thought by 2050 from guardian.co.uk
  7. ^ Data from UN WORLD POPULATION TO 2300