Trần Tử Bình

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trần Tử Bình
TTB59.jpg
Tướng Trần Tử Bình (1959)
Tiểu sử
Biệt danh Trần Tử Bình
Quốc tịch Flag of Vietnam.svg Việt Nam
Sinh

1907

Xã Tiêu Động, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam
Mất

11 tháng 2, 1967

Flag of Vietnam.svgBệnh viện Hữu nghị Việt-Xô, Hà Nội
Binh nghiệp
Thuộc Flag of Vietnam.svgQuân đội nhân dân Việt Nam
Cấp bậc Thiếu tướng
Chỉ huy Flag of North Vietnam 1945-1955.svgViệt Minh
Flag of Vietnam.svgQuân đội nhân dân Việt Nam
Tham chiến Tổng khởi nghĩa Hà Nội
Chiến dịch Việt Bắc
Khen thưởng

Huân chương Quân công hạng Ba
Huân chương Chiến thắng hạng Nhất
Huân chương Độc lập hạng Nhất (1967)
Huân chương Hồ Chí Minh (2001)


Huân chương Sao Vàng (2008)

Trần Tử Bình (1907-1967) là một trong những vị tướng đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Ông là người lãnh đạo phong trào công nhân cao su Phú Riềng 1930 [1], một trong những cốt cán của Ủy ban Khởi nghĩa Hà Nội tại cuộc khởi nghĩa tháng 8 năm 1945 [2]. Sau Cách mạng tháng Tám ông đã được bổ nhiệm vào nhiều chức vụ của quân đội và Nhà nước như Phó giám đốc chính ủy Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn (1946), Phó Bí thư Quân Ủy Trung Ương (1947), Chính ủy trường Lục quân tại Trung Quốc (1950-1956), Tổng Thanh tra Quân đội kiêm Phó Tổng thanh tra Chính phủ (1956-1958), Đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (1959-1967).

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Trần Tử Bình tên thật là Phạm Văn Phu, sinh năm 1907, trong một gia đình nông dân nghèo theo đạo Thiên chúa, tại xã Tiêu Động, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Biệt danh khi hoạt động Trần Tử Bình của ông có nghĩa "sống phong trần, lãng tử, dám xả thân vì chính nghĩa, bình đẳng" [1]

Phong trào Phú Riềng Đỏ 1930[sửa | sửa mã nguồn]

Vì tham gia phong trào yêu nước, vận động giáo sinh ở Chủng viện Hoàng Nguyên (giáo phận Hà Đông) để tang cụ Phan Chu Trinh nên cuối năm 1926 ông bị đuổi học. Năm 1927, được Tống Văn Trân giác ngộ, ông đã kí hợp đồng vào Nam Bộ làm phu đồn điền cao su Phú Riềng.

Tại Phú Riềng, ông được nhà cách mạng Ngô Gia Tự giác ngộ, kết nạp vào Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội. Tháng 10 năm 1929, là đảng viên Đông Dương Cộng sản Đảng tại chi bộ Phú Riềng.

Cuối năm 1929, thay Nguyễn Xuân Cừ làm bí thư chi bộ. Đầu năm 1930, chi bộ lãnh đạo cuộc đấu tranh đòi quyền sống của 5.000 công nhân Phú Riềng, làm nên phong trào "Phú Riềng Đỏ" lịch sử. Sau đó, ông bị bắt, bị kết án 10 năm tù, bị đày ra Côn Đảo.

Thời kì tù Côn Đảo 1931-1936[sửa | sửa mã nguồn]

Thời kỳ bị Pháp giam cầm tại Côn Đảo ông vẫn tiếp tục học tập lý luận cách mạng, chủ nghĩa Marx-Lenin và đấu tranh đòi độc lập cho Việt Nam từ trong tù. Cũng trong quãng thời gian này ông đã kết thân với các nhà cách mạng cộng sản khác như: Tôn Đức Thắng, Hoàng Quốc Việt, Phạm Văn Đồng, Lê Văn Lương, Phạm Hùng, Hà Huy Giáp, Trần Xuân Độ, Nguyễn Văn Phát, v.v. đây là lứa cán bộ cốt cán đầu tiên của cách mạng xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Năm 1936, do ảnh hưởng của Mặt trận Bình dân Pháp, chính quyền thực dân phải thả ông về đất liền và quản thúc ông ở quê nhà.

Thời kì hoạt động bí mật 1936-1945[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi được trả tự do ông quay trở về Hà Nam và làm thầy ký ở phố huyện Bình Lục, nhưng vẫn tiếp tục bí mật hoạt động cách mạng. Thời kỳ này ông đã lần lựơt giữ các chức vụ khác nhau trong Đảng bộ tỉnh Hà Nam như Bí thư chi bộ, Bí thư Huyện ủy Bình Lục và Bí thư Tỉnh ủy Hà Nam.

Năm 1940, ông được bầu vào Xứ uỷ Bắc Kỳ và trực tiếp phụ trách Liên tỉnh C (Hà Nam, Nam Định, Thái Bình, Ninh Bình) vào 1940, 1943; năm 1941 - Liên tỉnh D (Vĩnh Yên, Phúc Yên, Phú Thọ, Tuyên Quang).

Ngày 24 tháng 12 năm 1943, ông bị bắt ở Thái Bình. Đầu năm 1944, sau khi vượt ngục ở nhà tù Hà Nam bất thành ông bị chính quyền Pháp chuyển về nhà tù Hoả Lò (Hà Nội), nơi được coi là nhà tù tuyệt đối an toàn của chế độ thực dân Pháp. Tại Hỏa Lò, ông được bầu làm Trưởng ban sinh hoạt, tổ chức hoạt động công khai của tù chính trị. Ngày 11 tháng 3 năm 1945, lợi dụng tình hình phát-xít Nhật hất cẳng Pháp ra khỏi Đông Dương, việc quản lý nhà tù Hỏa Lò bị lơi lỏng, Trần Tử Bình cùng một số tù chính trị cộng sản khác đã tổ chức cuộc vượt ngục nổi tiếng trong lịch sử theo đường cống ngầm giải thoát cho gần 100 tù chính trị. [3]

Thiếu tướng Trần Tử Bình tại Việt Bắc (1949)

Sau khi thoát khỏi Hỏa Lò, ông trở về xây dựng Chiến khu Quang Trung hay Chiến khu Hòa Ninh Thanh nay là thôn Tâm Quy xã Hà Tân huyện Hà Trung tinh Thanh Hóa tại vùng giáp ranh các tỉnh (Hòa Bình - Ninh Bình - Thanh Hóa).

Ngày 19 tháng 8 năm 1945, với tư cách là Ủy viên Thường vụ Xứ uỷ Bắc Kỳ, Trần Tử Bình đã trực tiếp tham gia lãnh đạo Tổng khởi nghĩa Hà Nội và một số tỉnh thuộc đồng bằng Bắc Bộ.

Thời kì phục vụ quân đội 1945-1959[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 9 năm 1945, ông được giao nhiệm vụ Phó giám đốc, Chính trị uỷ viên Trường Quân chính Việt Nam (sau đổi tên là Trường Cán bộ Việt Nam).

Tháng 5 năm 1946, ông nhận nhiệm vụ Phó giám đốc, Chính uỷ Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn.

Năm 1947, ông được đề bạt làm Phó Bí thư Quân uỷ Trung ương, Trưởng phòng Kiểm tra cán bộ - Chính trị cục. Cuối 1947, ông cùng Lê Thiết Hùng chỉ huy mặt trận Sông Lô thắng lợi.

Tháng 1 năm 1948, Trần Tử Bình được phong Thiếu tướng trong đợt phong quân hàm đầu tiên [2](cùng đợt với các ông Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Sơn, Lê Thiết Hùng, Chu Văn Tấn, Hoàng Sâm, Hoàng Văn Thái, Lê Hiến Mai, Văn Tiến Dũng, Trần Đại Nghĩa, Nguyễn Bình). Cùng thời gian đó đó ông được bổ nhiệm làm Phó Tổng thanh tra Quân đội [3].Ông làm nhiệm vụ Công tố viên trong việc Tòa án quân sự tối cao xét xử vụ án Trần Dụ Châu tham nhũng mùa hè năm 1950.[4]

Năm 1950-1956, ông nhận nhiệm vụ Chính uỷ Trường Lục quân Việt Nam tại Trung Quốc.[5]

Tháng 2 năm 1951, ông được cử làm đại biểu quân đội dự Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam II tại Việt Bắc.

Thời gian 1956-1958, ông nhận nhiệm vụ Tổng Thanh tra Quân đội, Phó Tổng Thanh tra Chính phủ Việt Nam [6] tham gia củng cố và trong sạch hoá chính quyền thời hậu chiến.

Năm 1960, ông được bầu làm đại biểu quân đội dự Đại hội Đảng III, và được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Ông cũng là đại biểu Quốc hội Việt Nam khoá II và khoá III.

Thời kì công tác ngoại giao 1959-1967[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1959, ông được chuyển sang công tác tại Bộ Ngoại giao Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và được bổ nhiệm làm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, kiêm đại sứ tại Mông Cổ thay cho ông Nguyễn Khang.

Trong 8 năm công tác tại Bắc Kinh, ông được bầu làm Trưởng Ngoại giao Đoàn Bắc Kinh. Ở giai đoạn này, mâu thuẫn trong quan hệ giữa hai nước đồng minh Trung Quốc và Liên Xô diễn ra rất căng thẳng, thậm chí đã có lúc Trung Quốc gây sức ép để Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải ngả theo Trung Quốc. Tuy nhiên, đây là hai đồng minh lớn của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và nguồn viện trợ của cả hai bên là vô cùng cần thiết cho cuộc chiến nhằm thống nhất đất nước của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, việc ngả về một bên sẽ làm mất lòng bên kia và gây ra tác hại to lớn về nguồn viện trợ, phương diện chính trị cũng như sức mạnh quân sự của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Được nhiều đồng nghiệp và cấp trên đánh giá cao về sự khôn ngoan, khéo léo, mềm dẻo, đại sứ Trần Tử Bình đã góp phần giải quyết mâu thuẫn Trung-Việt trong "vấn đề Liên Xô" và vận động được Trung Quốc tiếp tục ủng hộ và giúp đỡ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, không để quan hệ Việt - Xô ảnh hưởng đến quan hệ Việt - Trung [7].

Trong lần về nước họp đầu năm 1967, ông bị cảm rồi đột ngột từ trần tại Bệnh viện Hữu nghị Việt-Xô, Hà Nội vào sáng sớm 11 tháng 2 năm 1967 (tức mùng ba Tết Đinh Mùi). Tranh thủ thời gian ngừng bắn, ngay chiều đó, tang lễ được cử hành tại Câu lạc bộ Quân nhân. Lễ tang của ông được tổ chức theo nghi thức dành cho sĩ quan cấp tướng. Ông qua đời khi vừa tròn 60 tuổi [7].

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng và chính trị của mình, Trần Tử Bình luôn nhận được sự động viên mạnh mẽ và nhiệt thành từ Nguyễn Thị Hưng - người vợ, người đồng chí của ông. Nguyễn Thị Hưng cũng đã tham gia lãnh đạo phong trào cách mạng tại Hưng Yên và là người trực tiếp lãnh đạo cướp kho thóc Đồng Long, đây là một sự kiện lịch sử quan trọng (đã từng được đưa lên phim truyện). Bà cũng có đóng góp vào công cuộc phát triển phong trào phụ nữ tại nhiều tỉnh phía bắc. Sau năm 1957 bà đã đảm đương nhiều cương vị tại Bộ Ngoại thương (nay là Bộ Công thương), một trong những bộ lớn thời bao cấp, trong đó có chức vụ Chánh Thanh tra của bộ.

Đã quen sử dụng cái tên Trần Tử Bình nên tám người con của ông bà (6 trai, 2 gái) đều lấy họ Trần [8]: Trần Yên Hồng, Kháng Chiến, Thắng Lợi, Kiến Quốc, Thành Công, Hữu Nghị, Hạnh Phúc, Việt Trung. Mỗi tên đều gắn với sự kiện của đất nước. Tuy nhiên họ không quên họ gốc của mình [1].

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Lê Trọng Nghĩa, "Nhớ anh Trần Tử Bình trong những ngày Tổng khởi nghĩa Cách mạng tháng tám", Tạp chí Xưa & Nay, No 217, (8/2004).
  • Trần Tử Bình: Từ Phú Riềng Đỏ đến mùa thu Hà Nội..., NXB Lao Động, 2006

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Ông đã được các đại sứ và trưởng đoàn ngoại giao của các quốc gia taị Bắc Kinh bầu làm Trưởng Ngoại giao Đoàn Bắc Kinh; xem thêm Phạm Ngạc, "Hai đại sứ và Cách mạng tháng tám", Quốc tế Điện tử, 2005
  2. ^ Thập niên 1960 quan hệ chính trị giữa Trung Quốc và Liên Xô, hai quốc gia bảo trợ cho Việt Nam trong cuộc nội chiến, trở nên rất căng thẳng. Lãnh đạo Trung Quốc đã có những thời điểm thể hiện sự không hài lòng về chính sách của Việt Nam đối với Liên Xô. Đoàn ngoại giao Việt Nam, đứng đầu là Đại sứ Trần Tử Bình, đã mềm dẻo và khôn ngoan dàn xếp ổn thoả những bất đồng và qua đó đã giúp cho Việt Nam tiếp tục nhận được sự ủng hộ to lớn từ Trung Quốc cũng như Liên Xô.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]