Địa chấn học

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Địa chấn học là một lĩnh vực quan trọng của địa vật lý, là khoa học nghiên cứu về động đất và sự lan truyền sóng đàn hồi, hay Sóng địa chấn (Seismic wave), trong Trái Đất hoặc hành tinh tương tự khác.

Thuật ngữ Seismology có nguồn từ tiếng Hy Lạp σεισμός (động đất) và -λογία (nghiên cứu). Địa chấn học nghiên cứu về động đất do các nguồn khác nhau, như quá trình kiến tạo, núi lửa, đại dương, khí quyển, và nguồn nhân tạo. Nó nghiên cứu cả tác động động đất tới môi trường như sóng thần. Những nghiên cứu để thu được thông tin về các trận động đất trong quá khứ thì tập hợp trong Cổ địa chấn (paleoseismology).[1]

Địa chấn học bao gồm địa chấn lớn (Seismology), và phần ứng dụng là thăm dò địa chấn (Seismic prospecting) để khảo sát địa chất, môi trường và thăm dò tài nguyên khoáng sản.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Các loại sóng địa chấn[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Sóng địa chấn

Sóng địa chấn (Seismic wave) là dạng sóng đàn hồi (Elastic waves) hay sóng cơ học chứa năng lượng Sự khác nhau về cách thức lan truyền, đặc trưng dao động của phần tử môi trường,... dẫn đến việc phân chia ra các loại sóng địa chấn. Sự khác biệt lớn nhất là giữa sóng khối (Body waves) và sóng mặt (Surface waves).

Sóng khối[sửa | sửa mã nguồn]

Sóng khối (Body waves) truyền qua phần bên trong của Trái Đất. Nó tạo ra đường tia sóng (raypath) khúc xạ do các thay đổi mật độmodul (độ cứng) ở phần bên trong của Trái Đất. Mật độ và modul thay đổi tùy theo nhiệt độ, thành phần, và pha của vật chất. Hiệu ứng này tương tự như sự khúc xạ của sóng ánh sáng.[2]

Sóng mặt[sửa | sửa mã nguồn]

Sóng mặt (Surface waves) lan truyền trên bề mặt, là mặt tiếp giáp giữa các pha của vật chất là rắn-không khí, nước-không khí, và rắn-lỏng. Bùn nhão phủ trên đá cứng có thể xem là gần lỏng và sóng mặt xuất hiện ở mặt đá cứng. Sóng mặt lan truyền chậm hơn sóng khối (P và S), và dao động của hạt môi trường có dạng phức tạp, nhưng biên độ giảm dần theo độ sâu. Trong trận động đất mạnh, sóng mặt có thể có biên độ của một vài cm, và là sóng gây phá hủy.[3]

Động đất[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Động đất

Các nguồn có kiểm soát[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Thăm dò địa chấn

Đối tượng nghiên cứu[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Ben-Menahem A., 1995. A Concise History of Mainstream Seismology: Origins, Legacy, and Perspectives. Bulletin of the Seismological Society of America, 85 (4), p. 1202–1225.
  2. ^ Seth S., Michael W., 2009. An Introduction to Seismology, Earthquakes, and Earth Structure. John Wiley & Sons. ISBN 978-14443-1131-0.
  3. ^ Sammis CG, Henyey TL. Geophysics Field Measurements. Academic Press, 1987, p. 12.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]