Bao Công

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Bao Chửng
Bao Zheng scth.jpg
Hình vẽ Bao Công trong sách Tam tài đồ hội (1609)
Sinh 11 tháng 4, 999(999-04-11)
Hợp Phì, Lư Châu (nay là Phì Đông gần Hợp Phì, tỉnh An Huy)
Mất 20 tháng 5, 1062 (63 tuổi)
Khai Phong, Lư Châu (nay là Khai Phong, Hà Nam)
Nơi an nghỉ Nay là Lư Dương, Hợp Phì, An Huy 31°51′27,17″B 117°17′56,39″Đ / 31,85°B 117,28333°Đ / 31.85000; 117.28333
Vợ (chồng)
  • Trương thị (張 氏)
  • Đổng thị (董氏)
Con cái
  • Bao Ức (包繶), trai
  • Bao Thụ (包綬), trai
Bao Chửng
tên tiếng Trung
Tiếng Trung
Tên tiếng Việt
Tiếng Việt Bao Chửng
Tượng Bao Công

Bao Công tên thật là Bao Chửng[1] (11 tháng 4 năm 999 - 20 tháng 5 năm 1062, chữ Hán: 包拯; 9991062), tự Hy Nhân (希仁). Ngoài ra, ông còn được gọi là Bao Thanh Thiên, Bao Thị Chế, Bao Hắc Tử, Bao Học Sĩ hay Bao Long Đồ. Ông nổi tiếng là một vị quan "thanh liêm, chấp pháp nghiêm minh, không khiếp sợ quyền uy hay vị nể tư tình" [2] dưới thời hoàng đế Tống Nhân Tông (1022-1063).

Cuộc đời[sửa | sửa mã nguồn]

Bao Chửng, người Hợp Phì, Lư Châu (nay là thành phố Hợp Phì, tỉnh An Huy, Trung Quốc). Cha ông là Bao Nghi, từng giữ chức đại phu trong triều. Sau khi qua đời, Bao Nghi được phong Hình bộ thị lang.

Lúc nhỏ, Bao Công đã nổi tiếng là đứa con hiếu thảo, đôn hậu, sống mực thước. Năm 1027, ông thi đậu tiến sĩ, được cử đến nhậm chức Tri huyện Kiến Xương (nay thuộc tỉnh Giang Tây), nhưng vì song thân già yếu, ông không thể làm quan xa nên xin khoan nhận việc, để ở nhà chăm sóc cho cha mẹ.

Sau khi cha mẹ qua đời, ông mới đi nhậm chức Tri huyện Thiên Trường (nay thuộc tỉnh An Huy), sau đó là Tri phủ Đoan Châu[3] (nay thuộc TP. Triệu Khánh, tỉnh Quảng Đông).

Nghe tiếng Bao Công tận tụy và thanh liêm, nhà vua cho triệu ông về kinh giao cho chức Trung thừa, rồi lần lượt thăng các chức Giám sát ngự sử, Trực học sĩ Long đồ các, Tam tư Hộ bộ Phó sử, đến Thiên Chương các Thị chế (nên người đời sau còn gọi ông là Bao Thị Chế).

Theo truyền thuyết, Bao Công là một vị thần, một trong 7 vị Bắc Đẩu tinh quân, giáng trần, tên là Văn Khúc Tinh Quân. Vì vậy, ngoài việc xử án ban ngày ở dương gian, ban đêm, ông còn phải xử án ở âm phủ. Vầng trăng trên trán ông tựa như ánh trăng soi sáng công lý ngay cả ở những nơi tăm tối nhất.

Năm 1052(?), vì giúp đỡ người thân là Trương Nghêu Tá làm phật lòng hoàng đế Nhân Tông, ông bị thuyên chuyển đến Hà Bắc làm Nhậm đốc chuyển vận sứ. Bốn năm sau, ông mới được triệu về kinh nhậm chức Phủ doãn phủ Khai Phong.[4] Bao Công làm quan phủ doãn phủ Khai Phong chỉ trong vòng 1 năm. Thời gian còn lại, ông được thăng chức Thừa tướng, Ngự sử đài. Chức vụ cao nhất là Bao Công đảm nhận ở cuối đời là Khu mật Phó sứ, tương đương với chức Phó tể tướng.

Mộ Bao Công với án thờ ở phía trên.

Thống kê ghi lại, những người bị Bao Chửng trừng trị không dưới 30 người là đối tượng quyền quý, hoàng thân quốc thích trong xã hội đương thời. Thậm chí ngay cả quốc trượng Trương Nghiêu Tá – bố đẻ của Trương quý phi được vua Nhân Tông sủng ái cũng bị Bao Chửng đàn hặc mà mất chức. Nhà văn đời Tống Âu Dương Tu đã dành cho Bao Chửng những lời bình luận: “Thuở nhỏ hiếu thuận, tiếng thơm khắp xóm làng, cuối đời chính trực, lưu danh khắp triều đình”.

Năm 1062, ông lâm bệnh mất ở nơi làm việc, hưởng thọ 64 tuổi, điều đáng nói ở đây, là thời gian từ lúc lâm bệnh cho đến khi mất chỉ có 13 ngày, nên người ta nghi ngờ rằng ông mất một phần do thuốc của hoàng đế ban cho, do lúc sinh thời Bao Chửng từng xử những vụ án vạch mặt bọn thái y, nên bị bọn chúng căm ghét (từ lúc uống thuốc đến khi phát bệnh mất chỉ là 9 ngày). Sau này, các nhà khoa học thuộc Phòng Nghiên cứu năng lượng vật lý cao Học viện Khoa học Trung Quốc đã phối hợp với Viện Bảo tàng tỉnh An Huy tiến hành xét nghiệm những mảnh xương của Bao Công. Kết quả cho thấy: Hàm lượng các nguyên tố thủy ngân, sắtcanxi trong xương Bao Công cao hơn nhiều so với xương của người hiện đại, trong khi đó hàm lượng chìarsen (thạch tín) lại thấp hơn người thường. Ngày xưa, độc dược được sử dụng chủ yếu là tì sương (thạch tín) và chu sa (thủy ngân), chúng có độc tính cực mạnh. Kết quả này sơ bộ loại trừ khả năng Bao Công bị trúng độc cấp tính do uống phải thuốc có chứa thạch tín.[5] Hoàng đế Tống Nhân Tông đích thân làm chủ lễ truy điệu, phong cho Bao Công là Lại bộ Thượng thư, ban cho thụy hiệu "Hiếu Túc", có nghĩa là hiếu đạo và thiết diện vô tư và còn phái một đoàn ngự lâm quân hộ tống linh cửu ông về mai táng ở quê nhà ông.

Trong thời kỳ Cách mạng Văn hóa, phong trào “Phá tứ cựu, lập tứ tân” lan rộng. Bao Công bị xem là đáng trừng trị hơn tham quan vì đã ủng hộ, duy trì chế độ phong kiến, bị xếp vào loại “ngưu quỷ xà thần” phải quét sạch. Từ đường trở thành nhà nấu ăn của hợp tác xã, từ trong ra ngoài bị đập phá. Bia đá, hoành phi, liễn đối, tượng Vương Triều, Mã Hán đều nát vụn. Bức tượng Bao Công được làm từ gỗ đàn hương, lớn như người thật, bị các Hồng vệ binh dùng dao chém nát. Bộ gia phả “Bao thị tông phả” và bức họa truyền thần Bao Công lúc sinh tiền được truyền từ đời Tống, Nguyên, Minh, Thanh, Dân quốc đã bị treo lên cây đốt cháy thành tro. Sau năm 1949, đền thờ Bao Công do nhà nước quản lý, thuộc Công viên Bao Hà. Bức họa Bao Công từng được đưa vào Tử Cấm Thành triển lãm, nhờ đó còn giữ được tấm ảnh chụp lại. Về sau, Bao Tiên Hải trao bức họa và gia phả cho con gái là Bao Huấn Chi cất giữ, cuối cùng bị Hồng vệ binh lục soát tìm thấy, đem ra đốt sạch.[6] Năm 1973, khu mộ ông được di dời để xưởng luyện thép Hợp Phì số 2 xây lò nung vôi.[7] Đến cuối tháng 8 1973, việc khai quật khu mộ phần của Bao Công đã hoàn thành. Mười một bộ di cốt cùng 55 nhân dân tệ tiền phí an táng được trao cho đại diện hậu duệ Bao Công. Qua bàn bạc, các thành viên trong gia tộc quyết định thuê xe di quan từ Hợp Phì về gò Long Sơn, thôn Đại Bao, xã Văn Tập, huyện Phì Đông, tỉnh An Huy (nơi an táng tổ phụ, thân phụ Bao Công) nhưng không được chấp thuận nên họ phải chôn trộm. Ngày 6 tháng 10 1985, tại Công viên Bao Hà, quần thể mộ phần Bao Công và từ đường Bao Công được phục chế lại hoành tráng. Ngày 4 tháng 4 1986, tổ chức nghi thức “thiên an” tại Hợp Phì, 11 chiếc vò đựng di cốt được hạ xuống huyệt mộ đã làm sẵn mới phát hiện hoàn toàn rỗng không. Bao Tiên Chính - người đã an táng 11 vò di cốt đã qua đời mấy năm rồi, còn con cháu họ Bao đều lắc đầu nói không biết. Rất may còn 35 mảnh xương của Bao Công được gửi đi giám định tại Khoa Nghiên cứu Cổ nhân loại học và động vật có xương sống của Học viện Khoa học trung ương Trung Quốc ở Bắc Kinh, 20 trong số 35 mảnh xương được đưa vào quan tài bằng gỗ nam mộc đặt trong mộ huyệt của Bao Công, 15 mảnh xương còn lại được trưng bày trong Nhà Bảo tàng tỉnh An Huy.[8]

Hiện nay đền thờ của ông có hai câu liễn: "Lý Oan Ngục, Quan Tiết Bất Thông, Tự Thị Diệm La Khí Tượng. Chẩn Tai Lê, Từ Thiện Vô Lương, Y Nhiên Bồ Tát Tâm Trường". Đại ý nói về phẩm chất cao quý của ông.

Bài thơ duy nhất còn lại[sửa | sửa mã nguồn]

Lối vào nơi chôn cất.

GS. Nguyễn Khắc Phi viết: Là một người có học vị cao và sống ở một thời đại văn thơ nở rộ, chắc Bao Công cũng sáng tác không ít, song đáng tiếc là cho đến nay chỉ còn lại một bài ông làm lúc mới bước vào đường hoạn lộ, đó là:

Thư Đoan Châu quận trai bích
(Đề lên tường thư trai ở quận Đoan Châu)
Phiên âm:
Thanh tâm vi trị bản
Trực đạo thị thân mưu
Tú cán chung thành đống
Tinh cương bất tác câu
Thương sung thử tước hí
Thảo tận thố hồ sầu
Sử sách hữu di huấn
Vô di lai giả tu.
Dịch nghĩa:
Lòng trong sạch là cái gốc của việc trị nước,
Đạo ngay thẳng là điều mưu cầu của việc tu thân.
Thân cây đẹp tốt rốt cuộc sẽ thành rường cột,
Gang thuần chất không thể uốn thành móc cong.
Kho đầy hẳn bọn chuột và chim sẻ vui mừng.
Cỏ hết thì bọn thỏ và chồn rầu rĩ.
Sử sách có lời di huấn:
Chớ để lại điều xấu hổ cho con cháu mai sau!
Tạm dịch thơ:
Thanh liêm: gốc "trị quốc"
Cương trực: "tu thân" cầu.
Cây thẳng ắt làm cột,
Thép ròng chẳng uốn câu.
Kho đầy: chuột, sẻ khoái.
Cỏ hết: thỏ, chồn sầu.
Sử sách nêu di huấn:
Chớ để nhục về sau![2]

Phim về Bao Công[sửa | sửa mã nguồn]

Tượng Bao Công trong đền thờ tưởng niệm ông, một điểm thu hút khách du lịch trong Khai Phong, Hà Nam, Trung Quốc. Trong cảnh này, Bao Công đang thách thức thái hậu khi bà muốn dùng quyền lực để bảo vệ kẻ phạm tội

Một trong những loạt phim nổi tiếng về Bao Công là Bao Công Kỳ Án, được quay tại Đài Loan với sự tham gia của Kim Siêu Quần (vai Bao Công) và Hà Gia Kính (vai Triển Chiêu). Bộ phim sớm trở nên nổi tiếng ở Hồng Kông, Trung QuốcViệt Nam.

Trong phim, Bao Công xử các vụ án trong cương vị Phủ Doãn phủ Khai Phong (kinh đô nhà Tống). Trong thực tế lịch sử, ông làm ở chức vụ này khoảng 1 năm. Bao Công trong phim được mô tả là do sao Văn Khúc giáng sinh để đem lại công lý cho dương gian. Ban ngày ông xử án ở trần thế cho con người, ban đêm khi đi ngủ, thần thức của ông tiếp tục xuống âm phủ xử án cho các oan hồn. Giữa trán ông có vết sẹo hình trăng lưỡi liềm, tượng trung cho sự công chính, khi nguy cấp thì vết sẹo này có thể tỏa sáng để xua đuổi được tà ma yêu khí.

Thực tế, Bao Công thật không có khuôn mặt đen và cũng không có vết sẹo hình Mặt Trăng như trong phim, thậm chí ông lại trắng trẻo và có phần thư sinh. Điều này là do ảnh hưởng của Kinh kịch, hát bội, Trong nghệ thuật Kinh Kịch, các diễn viên thường phải hóa trang mặt nạ trước khi biểu diễn. Mặt trắng là đại diện cho kẻ tiểu nhân; mặt đỏ là đại diện cho nghĩa khí, trung nghĩa; mặt đen đại diện cho nghiêm túc, công chính liêm minh, quân tử. Do đó, mặt Bao Công trong kịch và phim được tô đen để khắc họa bản tính liêm chính của ông.[9][10]

Về phá án, trong chính sử chỉ chép hai vụ:

  • Lúc ông làm tri huyện Thiên Trường: một hôm có người họ Lý đến công đường thưa là tối qua con bò nhà mình bị kẻ nào đó cắt mất lưỡi sắp chết. Theo luật triều Tống, kẻ tự ý giết bò trâu sẽ bị nghiêm trị vì ảnh hưởng đến sức kéo. Bao Công bảo họ Lý cứ về nhà làm thịt để bán kiếm ít tiền, nhưng không được tiết lộ là quan phủ đã cho phép. Người kia về làm theo lời dặn. Đến sáng hôm sau có người họ Trương đến huyện nha tố cáo người họ Lý tự ý giết thịt bò, phạm vào phép nước, đề nghị phải xử. Bao Công liền vỗ án kêu tả hữu bắt ngay tra vấn. Quả nhiên họ Trương chính là hung thủ đã cắt lưỡi bò nhà họ Lý để vu họa nhằm trả mối thù hiềm khích giữa hai nhà.[11]
  • Khi đã đứng đầu Tri gián viện. Ông đã xử vụ án Lãnh Thanh mạo danh thái tử dưới triều vua Tống Nhân Tông, là gốc tích để truyền thuyết dân gian, tiểu thuyết, sân khấu... dựng thành “Ly miêu tráo thái tử”, “Đả long bào” hay “Bao Công xử án Quách Hòe” nổi tiếng.

Ngoài 2 chuyện được chép trong chính sử ra, những vụ xử án nổi tiếng khác của Bao Công như “Chém Bao Miễn”, “Xử án Trần Thế Mỹ”, “Trảm Bàng Dục”... thì đều là tuồng tích. Như tra hết gia phả cũng như khu mộ gia tộc họ Bao không thấy có ai tên Bao Miễn. Bao Công lại là con một, không có anh em nên không thể có cháu ruột. Trần Thế Mỹ là nhân vật có thật nhưng lại ở vào đời Thanh, cách Bao Công đến hơn 600 năm. Bàng Thái sư tuy được lấy hình tượng từ gian thần Trương Nghiêu Tá, nhưng tai tiếng thì Bàng Tịch chịu. Ông có con là Bàng Nguyên Anh, cháu là Bàng Cung Tôn đều làm quan, không có ai là Bàng Dục phạm tội bị Bao Công chém cả[11][12]

Phim[sửa | sửa mã nguồn]

Truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Những hậu duệ của Bao Công[13][sửa | sửa mã nguồn]

Hậu duệ chính thức của Bao Công khoảng 10.000 người ở các tỉnh An Huy, Triết Giang, Giang Tây, Vân Nam, tập trung nhiều nhất ở 2 thôn Đại BaoTiểu Bao thuộc xã Giải Tập, huyện Phì Đông, tỉnh An Huy. Hậu duệ của ông có nhiều người nổi tiếng:

Bao Khang - quân sư của Phương Lạp: Là hậu duệ đời thứ năm của Bao Công.

Bao Thế Thần (1775 - 1855): Là nhà thư pháp, lý luận thư pháp nổi tiếng đời Thanh, từng làm tri huyện Tân Dụ, tỉnh Giang Tây.

Bao Ngọc Cương (1918 - 1991), được mệnh danh là “Thuyền Vương” của Hồng Kông, là một trong “Thập đại Thuyền Vương” - 10 nhà vận tải tàu biển lớn nhất thế giới.

Bao Bồi Khánh (sinh năm 1945): Là doanh nhân, nhà hoạt động xã hội, nhà từ thiện ở Hồng Kông, là con gái đầu của Bao Ngọc Cương, hậu duệ đời thứ 30 của Bao Công.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Theo An Chi: Có người cho rằng Bao Chuẩn mới là tên thật là sai. Vì chửng (拯) có nghĩa là cứu vớt, giúp đỡ. Theo Khang Hy tự điển: Thiết âm của chữ này là "chi sửng thiết", "chưng thượng thanh" (Chuyện Đông chuyện Tây, tạp chí Kiến thức ngày nay 247, ngày 1 tháng 6 năm 1997).
  2. ^ a ă Dẫn theo Nguyễn Khắc Phi, Bài thơ duy nhất còn lại của Bao Công trong "Thơ văn cổ Trung Hoa, mảnh đất quen mà lạ", Nhà xuất bản Giáo dục, 1999, tr. 247-248.
  3. ^ Nguyễn Khắc Phi cho biết: Đoan Châu có một đặc sản nổi tiếng đó là Đoan nghiên. Đây là thứ nghiên mực làm bằng loại đá quý chỉ có ở địa phương này, rất được các vua quan hâm mộ. Nhưng khi Bao Công rời Đoan Châu, ông không hề đem theo một chiếc Đoan nghiên nào! (sách dẫn bên trên, tr. 248).
  4. ^ Đây là chức vị rất quan trọng, tương đương thị trưởng Bắc Kinh ngày nay, lo việc trị an kinh thành. Lúc ở phủ Khai Phong, Bao Công thường ngồi hướng Nam để tỏ lòng tôn kính hoàng đế, nhưng khi thăng đường ông lại ngồi theo hướng Bắc, do vậy trong các phim về Bao Công có câu "Bao Công đồ đảo tọa Nam nha Khai Phong phủ".
  5. ^ “Bao Công có bị bức hại?”. 
  6. ^ “Sự thật về Bao Công: Bi kịch mộ phần”. 
  7. ^ “Sự thật về Bao Công: Quật mộ Bao Công”. 
  8. ^ “Sự thật về Bao Công: Long đong di cốt”. 
  9. ^ “‘Tân Bao Thanh Thiên’ trên HTV2”. VnExpress. 29 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2012. 
  10. ^ Gia Quyền (16 tháng 4 năm 2011). “Giải oan cho... Bao Thanh Thiên!”. Người Lao động. 
  11. ^ a ă “Sự thật về “Bao Thanh Thiên phá án””. 
  12. ^ “Sự thật về Bao Công: Kỳ án - Hư và thật”. 
  13. ^ “Những hậu duệ nổi tiếng của Bao Công”. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]