Chủ nghĩa bài Trung Quốc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Kết quả điều tra năm 2015 của Trung tâm Nghiên cứu Pew (Washington, D.C.).[1]
Các quan điểm về Trung Quốc
Quốc gia được khảo sát Tốt Xấu Nguồn
 Trung Quốc
96%
4%
[1]
 Nhật Bản
9%
89%
[2]
 Việt Nam
19%
74%
[3]
 Thổ Nhĩ Kỳ
18%
59%
[4]
 Jordan
33%
64%
[5]
 Đức
34%
60%
[6]
 Ý
40%
57%
[7]
 Hoa Kỳ
38%
54%
[8]
 Pháp
50%
49%
[9]
 Canada
39%
48%
[10]
 Tây Ban Nha
41%
50%
[11]
 Ba Lan
40%
44%
[12]
 Liban
52%
46%
[13]
 Anh Quốc
45%
37%
[14]
 Ấn Độ
41%
32%
[15]
 Philippines
54%
43%
[16]
 México
47%
34%
[17]
 Israel
55%
42%
[18]
 Palestine
54%
37%
[19]
 Nam Phi
52%
34%
[20]
 Brasil
55%
36%
[21]
Trung bình
55%
34%
 Úc
57%
33%
[22]
 Hàn Quốc
61%
37%
[23]
 Venezuela
58%
33%
[24]
 Argentina
53%
26%
[25]
 Ukraina
58%
22%
[26]
 Peru
60%
22%
[27]
 Indonesia
63%
22%
[28]
 Chile
66%
25%
[29]
 Uganda
65%
19%
[30]
 Kenya
70%
22%
[31]
 Nigeria
70%
14%
[32]
 Sénégal
70%
11%
[33]
 Malaysia
78%
17%
[34]
 Tanzania
74%
10%
[35]
 Nga
79%
14%
[36]
 Burkina Faso
75%
9%
[37]
 Ghana
80%
13%
[38]
 Ethiopia
75%
7%
[39]
 Pakistan
82%
4%
[40]
Kết quả thăm dò năm 2014 của BBC.
Các quan điểm về ảnh hưởng của Trung Quốc[2]
Quốc gia được thăm dò Tích cực Tiêu cực Tích cực-tiêu cực
 Nhật Bản
3%
73%
-70
 Đức
10%
76%
-66
 Pháp
26%
68%
-42
 Hoa Kỳ
25%
66%
-41
 Canada
28%
64%
-36
 Tây Ban Nha
24%
59%
-35
 Hàn Quốc
32%
56%
-24
 México
33%
40%
-7
 Israel
27%
34%
-7
 Ấn Độ
33%
35%
-2
 Thổ Nhĩ Kỳ
32%
31%
1
 Anh Quốc
49%
46%
3
 Úc
47%
44%
3
 Brasil
52%
29%
23
 Nga
47%
24%
23
 Indonesia
52%
28%
24
 Argentina
45%
20%
25
 Peru
54%
24%
30
 Kenya
65%
25%
40
 Ghana
67%
18%
49
 Pakistan
75%
15%
60
 Nigeria
85%
10%
75
 Trung Quốc
85%
7%
78

Chủ nghĩa bài Trung Quốc hay còn gọi là Mối lo Hán bành trướng (tiếng Anh: Sinophobia, bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp cổ: Sinae nghĩa là 'người Trung Quốc' và φόβος, phobos có nghĩa là 'sợ hãi') là một xu hướng chống lại quốc gia Trung Quốc, người Trung Quốc hoặc văn hóa Trung Quốc.[3] Sự kì thị này thường nhắm vào những người Trung Quốc chiếm thiểu số sống ở các nước ngoài Trung Quốc và càng bị phức tạp hóa lên bởi các tác động của vấn đề nhập cư, vấn đề phát triển bản sắc dân tộc ở các nước láng giềng, sự chênh lệch giàu nghèo, sự sụp đổ hệ thống triều cống trong quá khứ cũng như mối quan hệ giữa dân tộc thiểu số với dân tộc chiếm đa số.

Một vài nguyên nhân khác của xu hướng bài Trung Quốc là do những chính sách chống lại nhân quyền của giới cầm quyền Đảng Cộng sản Trung Quốc (như sự kiện Thiên An Môn năm 1989 và cuộc đàn áp Pháp Luân Công).

Các nước phương Tây[sửa | sửa mã nguồn]

Nga[sửa | sửa mã nguồn]

Liên Xô cũ và Trung Quốc bắt đầu chia rẽ những năm 1950, phát triển dần thành xung đột biên giới Xô-Trung ở vùng Siberia năm 1962 và đỉnh điểm năm 1969 là những cuộc xung đột đổ máu. Đến năm 2004, hai nước Nga – Trung mới chính thức hòa giải. Mặc dù hai quốc gia không còn mâu thuẫn với nhau nữa, song chính quyền Nga đôi lúc lo ngại về việc người Hán tràn qua những vùng thưa dân ở Siberia.[4]

Australia[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Australia, một lượng lớn người nhập cư là người Trung Quốc. Mặc dù những người nhập cư bản tính ôn hòa và cần cù, song những người Úc lại có ác cảm với người Hán vì có sự khác biệt lớn giữa văn hóa và phong tục. Những năm giữa thế kỷ 19, người Australia và New Zealand khinh bỉ người Trung Quốc như những kẻ "dơ bẩn, bệnh hoạn, [và] côn trùng rác rưởi."[5]

Canada[sửa | sửa mã nguồn]

Những năm thập niên 1850, một lượng lớn người nhập cư Trung Quốc đến tỉnh British Columbia của Canada để tìm vàng. Sau đó, bắt đầu từ năm 1858, những công nhân người Hán được đưa tới Canada để làm việc trong các khu mỏ và xây dựng tuyến đường sắt Canadian Pacific Railway. Những người thợ Trung Quốc này bị phân biệt đối xử thậm tệ: họ không được coi là những công dân chính thức, không có quyền bầu cử, và hàng loạt các thứ thuế được đưa ra để ngăn chặn việc ồ ạt nhập cư của người Trung Quốc. Mãi đến năm 1947, các công dân Canada gốc Trung Quốc mới có quyền bầu cử.[6]

Nam Á[sửa | sửa mã nguồn]

Ấn Độ[sửa | sửa mã nguồn]

Mối lo Hán bành trướng bắt đầu ở Ấn Độ ngay sau chiến tranh giữa 2 nước này vào năm 1962. Gần đây sự cạnh tranh giữa Ấn Độ và Trung Quốc về mặt kinh tế và quân sự cũng như sự tranh chấp lãnh thổ giữa 2 nước, thêm vào đó là việc Trung Quốc ủng hộ Pakistan tại Kashmir đã làm gia tăng sự chống lại Trung Quốc.

Đông Nam Á[sửa | sửa mã nguồn]

Sự ác cảm với Trung Quốc ở các nước Đông Nam Á bắt nguồn từ vấn đề về kinh tế xã hội. Thương nhân Trung Quốc từ bờ biển của Trung Hoa đại lục và người tị nạn cuộc chiến giữa 2 thị tộc HánHẹ năm 1855 đến 1867 đã di cư khắp các quốc gia Đông Nam Á [cần dẫn nguồn] và cuối cùng chiếm đa số dân số của Singapore, một thiểu số lớn ở Malaysia, Thái Lan, và một số ít (ít hơn 5% tổng dân số) nhóm dân tộc thiểu số ở IndonesiaPhilippines. Với một truyền thống kinh doanh và sự tự lực, đã giúp cho người Trung Quốc phát triển thịnh vượng ở các nước này mặc dù có sự phân biệt đối xử. Điều này cho thấy thái độ trung thành của những người di dân và con cháu của họ, thêm vào đó là mối quan hệ trong các cộng đồng người Trung Quốc rất khắng khít là chất xúc tác gây nên thái độ thù ghét Trung Quốc của người dân bản địa.

Malaysia, Indonesia và Philippines[sửa | sửa mã nguồn]

Tại các quốc gia mà người Trung Quốc chỉ chiếm một số ít nhưng lại gây nên một sự chênh lệch về kinh tế rất đáng kể. Ví dụ, trong năm 1998, người Trung Quốc chỉ làm tăng thêm 1% dân số của Philippines và 3% dân số của Indonesia, nhưng lại kiểm soát đến 40% nền kinh tế tư nhân của Philippines và 70% của nền kinh tế tư nhân Indonesia (các nhà phân tích người Indonesia tin rằng thông cáo này là sai vì hầu hết của cải của Indonesia đã được kiểm soát bởi quân đội)[7]. Tại Malaysia, tỷ lệ sinh thấp ở người Trung Quốc đã làm giảm dân số tương đối của họ từ một nửa xuống còn một phần ba. Một nghiên cứu về Trung Quốc với tên gọi "thiểu số thống trị thị trường" nhấn mạnh rằng "sự thống trị thị trường của người Trung Quốc và sự phẫn uất mãnh liệt của đa số người dân bản địa là đặc trưng của hầu hết các quốc gia hầu ở Đông Nam Á".[8]

Nền kinh tế bất đối xứng này đã kích động cảm tính chống Trung Quốc trong những người nghèo chiếm số đông. Đôi khi thái độ chống Trung Quốc đã chuyển sang hình thức bạo động, chẳng hạn như sự cố ngày 13 tháng 5 năm 1969 tại Malaysia và cuộc bạo loạn Jakarta vào tháng 5 năm 1998 tại Indonesia, làm hơn 2.000 người chết chủ yếu là bị những người nổi loạn đốt cháy đến chết trong một trung tâm mua sắm.[9] Trong thời kỳ thuộc địa, một số nạn diệt chủng đã giết chết hàng chục ngàn người Trung Quốc.[10][11][12][13][14] Trong suốt cuộc tàn sát của người Indonesia vào những năm 1965-66 làm hơn 500.000 người thiệt mạng,[15] những người Trung Quốc bị giết còn tài sản của họ thì bị cướp bóc và đốt cháy, đó là kết quả của tư tưởng phân biệt chủng tộc chống lại người Trung Quốc viện cớ là bởi vì Dipa "Amat" Aidit đã đưa đảng Cộng sản Indonesia (PKI) thân với Trung Quốc.[16][17] Tại Philippines, hàng chục người Trung Quốc bị bắt cóc mỗi năm và có thể bị giết chết mà không cần tiền chuộc - cảnh sát Philippines thường thờ ơ đối với các vấn đề về sắc tộc.[18]

Việc chống Trung Quốc cũng đã được hợp pháp hóa tại một số quốc gia trong khu vực Đông Nam Á. Luật về chống người Trung Quốc đã có trong hiến pháp của Indonesia cho đến năm 1998.

Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Chiến tranh biên giới Việt-Trung 1979 đã dẫn dến vụ nạn kiều trong nhóm người Hoa tại Việt Nam và nhiều người Hoa đã trở thành thuyền nhân phải rời khỏi Việt Nam bằng đường biển. Từ 1978 đến 1979, khoảng 450.000 người Hoa đã trở thành thuyền nhân tị nạn hay bị trục xuất qua Trung Quốc bằng đường bộ.[19]

Do có một lịch sử chiến tranh lâu dài giữa hai nước, với việc tranh chấp lãnh thổ gần đây ở Hoàng SaTrường Sa, dẫn đến những phản ứng chống lại Trung Quốc của người Việt Nam.[20] Trong khi chính phủ cố gắng để duy trì quan hệ thân thiện với chính phủ Trung Quốc bằng cách kêu gọi giải tán các cuộc biểu tình chống Trung Quốc và kiềm chế những lời chỉ trích liên quan đến Trung Quốc,[21][22] làn sóng chống Trung Quốc đã tăng vọt vào năm 2007 sau khi Trung Quốc thành lập một chính quyền tại các quần đảo đang tranh chấp,[21][22] và vào năm 2009 khi chính phủ Việt Nam cho phép nhà máy sản xuất nhôm Chinalco của Trung Quốc được quyền khai thác mỏ bauxiteTây Nguyên,[23][24][25] và khi ngư dân Việt Nam đã bị bắt giữ bởi lực lượng an ninh Trung Quốc trong khi tìm kiếm nơi trú ẩn trong các vùng lãnh thổ tranh chấp.[26] Thêm vào đó, ngày 26 tháng 5 năm 2011, 3 tàu hải giám của Trung Quốc cắt đứt dây cáp thăm dò của tàu Bình Minh 02 thuộc Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (PVN) gần bờ biển Việt Nam đã gây phản ứng bất bình trong cộng đồng người Việt.[27][28][29]

Tuy nhiên do sự tương đồng về văn hóa và chủng tộc, cũng như lịch sử chung sống lâu dài nên cộng đồng người Hoa ở đây ít khi khơi lên sự thù địch rõ rệt như ở các quốc gia Đông Nam Á khác, dù là trong thời kỳ xung đột mạnh giữa hai nước

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Views of China and the Global Balance of Power”. Trung tâm Nghiên cứu Pew (Pew Research Center. 23 tháng 6 năm 2015. 
  2. ^ “BBC World Service poll” (PDF). BBC. 3 tháng 6 năm 2014. 
  3. ^ Sinophobic. The American Heritage Dictionary of the English Language, ấn bản thứ tư. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2008.
  4. ^ Al Santoli (10 tháng 12 năm 2000). “Russian far east residents fear takeover by China; Sino-Russian 'strategic cooperation' pact aimed at US”. Hội đồng Ngoại giao Hoa Kỳ. Bản gốc lưu trữ 16 tháng 11 năm 2007. 
  5. ^ "China in the Australia Imagination". (tập .doc). Đại học Wellington (Victoria, Australia).
  6. ^ "Addresses by the Prime Minister on the Chinese Head Tax Redresses". Chính phủ Canada (22 tháng 6 năm 2006).
  7. ^ Chua. pg. 3 & 43.
  8. ^ Chua. (2003). pg. 61.
  9. ^ Malaysia's race rules. The Economist Newspaper Limited (ngày 25 tháng 8 năm 2005). Requires login.
  10. ^ 1 tháng 1 năm 2715.html 明清对待海外华人的不同态度
  11. ^ 海外汉人被屠杀的血泪史大全
  12. ^ 十七﹒八世紀海外華人慘案初探
  13. ^ 东南亚华人遭受的几次屠杀
  14. ^ 南洋华人被大规模屠杀不完全记录
  15. ^ Indonesian academics fight burning of books on 1965 coup, smh.com.au
  16. ^ Vickers (2005), p. 158
  17. ^ BBC News | Analysis|Indonesia: Why ethnic Chinese are afraid
  18. ^ Chua. pg. 1-5.
  19. ^ Griffin, Kevin. Vietnamese. Discover Vancouver.
  20. ^ Martha Ann Overland (ngày 16 tháng 4 năm 2009). “In Vietnam, New Fears of a Chinese 'Invasion'. Time Magazine. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2009. 
  21. ^ a ă “Biểu tình phản đối Trung Quốc”. 9 tháng 12 năm 2007. 
  22. ^ a ă “Biểu tình chống Trung Quốc ở Việt Nam”. 5 tháng 6 năm 2011. ...Dư luận bức xúc: Năm 2007-2008 đã có một số cuộc biểu tình chống Trung Quốc cũng tại Hà Nội và Tp Hồ Chí Minh. Sau đó hoạt động này bị chính quyền ngăn cản, vì không muốn quan hệ với nước lớn láng giềng bị ảnh hưởng... 
  23. ^ Agence France Presse (ngày 20 tháng 4 năm 2009). “Vietnam's China mining plans spark rare criticism”. AsianOne News. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2009. 
  24. ^ “Vietnam's nationalist bloggers: Getting if off your chest”. The Economist. Ngày 10 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2009. 
  25. ^ Martha Ann Overland (ngày 5 tháng 9 năm 2009). “Vietnam to Its Journalists: Don't Tread on China”. Time Magazine. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2009. 
  26. ^ Nga Pham (ngày 12 tháng 8 năm 2009). “China releases Vietnam fishermen”. BBC News. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2009. 
  27. ^ “Tàu Trung Quốc ngang ngược xâm phạm lãnh hải Việt Nam”. 27 tháng 5 năm 2011. 
  28. ^ “Việt Nam phản đối TQ vi phạm lãnh hải”. 28 tháng 5 năm 2011. 
  29. ^ “Tàu Trung Quốc phá hoại thiết bị PetroVietnam”. 28 tháng 5 năm 2011.