Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Chủ tịch Ủy ban Nhân dân
Thành phố Hà Nội
Emblem of Hanoi.svg
Biểu trưng Hà Nội
Transythanh.jpg
Đương nhiệm
Trần Sỹ Thanh

từ 22 tháng 7 năm 2022
Thành viên củaHội đồng Nhân dân
Ủy ban Nhân dân
Bổ nhiệm bởiHội đồng nhân dân thành phố Hà Nội
Nhiệm kỳ5 năm
(Không giới hạn số lần tái cử)
Người đầu tiên giữ chứcNguyễn Huy Khôi
Thành lập30 tháng 8, 1945

Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội là người đứng đầu Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội, cơ quan hành chính của thành phố. Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố là Phó Bí thư Thành ủy và là Ủy viên Trung ương Đảng. Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố do Hội đồng nhân dân thành phố bầu không quá 2 nhiệm kỳ liên tiếp[1] và được Chủ tịch Hội đồng nhân dân thành phố giới thiệu trong số đại biểu Hội đồng nhân dân thành phố.[2]

Bộ máy chính quyền
Hà Nội

Nhiệm vụ và quyền hạn[sửa | sửa mã nguồn]

Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố có quyền hạn và nhiệm vụ sau:

  1. Lãnh đạo công tác của Ủy ban nhân dân, các thành viên của Ủy ban nhân dân, các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thành phố:
    • Đôn đốc, kiểm tra công tác của các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thành phố và Ủy ban nhân dân cấp huyện, xã tương đương trong việc thực hiện Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của Hội đồng nhân dân và quyết định, chỉ thị của Ủy ban nhân dân thành phố;
    • Quyết định các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân thành phố;
    • Áp dụng các biện pháp nhằm cải tiến lề lối làm việc; quản lý và điều hành bộ máy hành chính hoạt động có hiệu quả; ngăn ngừa và đấu tranh chống các biểu hiện quan liêu, vô trách nhiệm, hách dịch, cửa quyền, tham nhũng, lãng phí và các biểu hiện tiêu cực khác của cán bộ, công chức và trong bộ máy chính quyền địa phương;
    • Tổ chức việc tiếp dân, xét và giải quyết kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của nhân dân theo quy định của pháp luật.
  2. Triệu tập và chủ tọa các phiên họp của Ủy ban nhân dân;
  3. Phê chuẩn kết quả bầu các thành viên của Ủy ban nhân dân cấp huyện, xã tương đương trực tiếp; điều động, đình chỉ công tác, miễn nhiệm, cách chức Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, xã tương đương; phê chuẩn việc miễn nhiệm, bãi nhiệm các thành viên của Ủy ban nhân dân cấp huyện, xã tương đương trực tiếp; bổ nhiệm, miễn nhiệm, điều động, cách chức, khen thưởng, kỷ luật cán bộ, công chức nhà nước theo sự phân cấp quản lý;
  4. Đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ những văn bản trái pháp luật của cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thành phố và văn bản trái pháp luật của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, xã tương đương trực tiếp;
  5. Đình chỉ việc thi hành nghị quyết trái pháp luật của Hội đồng nhân dân cấp huyện, xã tương đương trực tiếp và đề nghị Hội đồng nhân dân thành phố bãi bỏ;
  6. Chỉ đạo và áp dụng các biện pháp để giải quyết các công việc đột xuất, khẩn cấp trong phòng, chống thiên tai, cháy, nổ, dịch bệnh, an ninh, trật tự và báo cáo Ủy ban nhân dân trong phiên họp gần nhất;
  7. Ra quyết định, chỉ thị để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình.
  8. Đề nghị triệu tập kỳ họp bất thường Hội đồng nhân dân Thành phố.
  9. Đề nghị cuộc họp kín của Hội đồng nhân dân thành phố.
  10. Giữ mối quan hệ làm việc với Thường trực Thành uỷ, Viện Kiểm sát nhân dân, Toà án nhân dân.
  11. Trực tiếp phụ trách, chỉ đạo các lĩnh vực công tác: Tổ chức bộ máy, cán bộ và biên chế; nội chính; đối ngoại; xây dựng chính quyền và cải cách hành chính; công tác quy hoạch và quyết định các chủ trương lớn trên các lĩnh vực; làm Chủ tịch Hội đồng thi đua – khen thưởng thành phố.
  12. Làm Trưởng các tổ chức phối hợp liên ngành (Ban chỉ đạo, Hội đồng...) của thành phố theo lĩnh vực công tác do Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố trực tiếp phụ trách, chỉ đạo.

Phó Chủ tịch[sửa | sửa mã nguồn]

Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố do Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố đề cử và do Hội đồng nhân dân thành phố bầu, Thủ tướng chính phủ phê duyệt. Số lượng Phó Chủ tịch do Chính phủ quy định.

Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do Chủ tịch phân công và phải chịu trách nhiệm trước Chủ tịch Ủy ban nhân dân về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đã được giao; chịu trách nhiệm cá nhân về phần công tác của mình trước Hội đồng nhân dân thành phố, Ủy ban nhân dân thành phố và cùng với các thành viên khác chịu trách nhiệm tập thể về hoạt động của Ủy ban nhân dân trước Hội đồng nhân dân thành phố và trước cơ quan nhà nước cấp trên. Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban nhân dân thành phố có quyền phụ trách UBND thành phố trong trường hợp Chủ tịch UBND đột ngột qua đời hoặc bị bãi nhiệm hay bị đình chỉ công tác cho đến khi bầu Chủ tịch UBND mới.

Thủ tướng Chính phủ có quyền bãi nhiệm, hoặc luân chuyển công tác các Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố theo đề nghị của Chủ tịch.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Ngay sau khi cách mạng tháng 8 thành công tại Hà Nội, ngày 20 tháng 8 năm 1945 Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời Hà Nội được thành lập do Nguyễn Huy Khôi (Trần Quang Huy) làm Chủ tịch đã tổ chức lễ ra mắt tại Bắc bộ phủ. Ngày 30 tháng 8 năm 1945 Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội chính thức thành lập. Bác sĩ Trần Duy Hưng được cử làm Chủ tịch. Tháng 10 năm 1947 Ủy ban Kháng chiến và Ủy ban Hành chính Hà Nội hợp nhất thành Ủy ban Kháng chiến – hành chính do Ngô Ngọc Du làm chủ tịch.

Ngày 10 tháng 10 năm 1954 giải phóng thủ đô. Ủy ban quân chính quản lý thành phố do Vương Thừa Vũ làm chủ tịch. Ngày 4 tháng 11 năm 1954 Ủy ban Hành chính thành phố Hà Nội được thành lập do bác sĩ Trần Duy Hưng làm Chủ tịch. Từ năm 1977 Ủy ban Hành chính thành phố Hà Nội đổi tên thành Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội.

Danh sách Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội[sửa | sửa mã nguồn]

STT Khóa Nhiệm kỳ Chủ tịch Phó Chủ tịch Ghi chú
1 Không có 20 tháng 8 năm 1945
– 30 tháng 8 năm 1945
Nguyễn Huy Khôi Không có
2 Không có 30 tháng 8 năm 1945
– tháng 10 năm 1947
Bác sĩ Trần Duy Hưng Không có Thị trưởng Hà Nội
3 Không có tháng 10 năm 1947
– 10 tháng 10 năm 1954
Ngô Ngọc Du Không có
4 Không có 10 tháng 10 năm 1954
– 4 tháng 11 năm 1954
Thiếu tướng Vương Thừa Vũ Bác sĩ Trần Duy Hưng[3] Chủ tịch Ủy ban Quân chính Hà Nội
(2) Không có 4 tháng 11 năm 1954
– 16 tháng 1 năm 1958
Bác sĩ Trần Duy Hưng Trần Danh Tuyên[3] Chủ tịch Ủy ban Hành chính Hà Nội
I 16 tháng 1 năm 1958
– 6 tháng 5 năm 1961
Trần Văn Lai
Trần Danh Tuyên
II 6 tháng 5 năm 1961
– 17 tháng 5 năm 1965
Vũ Đại
Nguyễn Mạnh Can
Trần Minh Việt (đến tháng 3 năm 1963)
Trần Vỹ (từ tháng 3 năm 1963)
Trần Duy Dương (từ tháng 7 năm 1963)
Nguyễn Tiến Đức (từ tháng 7 năm 1963)
Ủy viên thư ký:
Nguyễn Trần Châu
III 17 tháng 5 năm 1965
– 17 tháng 5 năm 1968
Trần Vỹ
Trần Duy Dương
Nguyễn Thị Thái Bảo
Nguyễn Trung Mai
Nguyễn Đức Lạc
Vũ Định
Ủy viên thư ký:
Hoàng Huy Giao
IV 17 tháng 5 năm 1968
– 17 tháng 5 năm 1971
Trần Vỹ
Nguyễn Trung Mai
Trần Duy Dương
Nguyễn Tiến Đức
Nguyễn Thị Thái Bảo
Ủy viên thư ký:
Hoàng Huy Giao
V 17 tháng 5 năm 1971
– 20 tháng 6 năm 1974
Trần Vỹ
Trần Duy Dương
Nguyễn Thị Thái Bảo
Nguyễn Trung Mai
Nguyễn Đức Lạc
Vũ Định
Ủy viên thư ký:
Hoàng Huy Giao
VI 20 tháng 6 năm 1974
– 20 tháng 6 năm 1977
Trần Vỹ
Trần Duy Dương
Nguyễn Thị Thái Bảo
Hoàng Huy Giao
Nguyễn Đình Hiệp
Nguyễn Đức Lạc
Nguyễn Trung Mai (từ tháng 3 năm 1976)
Ủy viên thư ký:
Lê Hoà
VII 20 tháng 6 năm 1977
– cuối năm 1977
Trần Duy Dương
Nguyễn Trung Mai
Nguyễn Đình Hiệp
Ngô Quốc Hạnh
Hoàng Huy Giao
Nguyễn Đông (từ tháng 12 năm 1978)
Nguyễn Văn Định (từ tháng 6 năm 1979)
Ủy viên thư ký:
Nguyễn Bắc
5 cuối năm 1977
– 20 tháng 6 năm 1981
Trần Vỹ
VIII 20 tháng 6 năm 1981
– 23 tháng 5 năm 1985
Trần Tấn
Nguyễn Đông
Nguyễn Văn Định
Phạm Sĩ Liêm
Đặng Đức Lộc
Nguyễn Đình Hiệp
Nghiêm Chưởng Châu
Lê Ất Hợi (từ tháng 3 năm 1984)
Nguyễn Công Tạn (từ tháng 3 năm 1985)
Ủy viên thư ký:
Bùi Xuân Lộc
Dương Danh Nhượng
IX 23 tháng 5 năm 1985
– tháng 1 năm 1987
Trần Tấn (đến tháng 1 năm 1987)
Lê Ất Hợi
Nguyễn Công Tạn,
Phạm Sĩ Liêm
Nguyễn Tiến Đức
Nghiêm Chưởng Châu
Trương Tùng
Nguyễn Mại
Lê Sinh Tặng
Ủy viên thư ký:
Dương Danh Nhượng
Nguyễn Công Tường
6 tháng 1 năm 1987
– 12 tháng 12 năm 1989
Trần Tấn
7 X 12 tháng 12 năm 1989
– 13 tháng 12 năm 1994
Lê Ất Hợi Trần Thị Tâm Đan
Đinh Hạnh
Nguyễn Ngọc Lê
Lê Sinh Tặng
Trương Tùng
Vũ Mạnh Kha (từ tháng 1 năm 1993)
Lương Ngọc Cừ (từ tháng 4 năm 1994)
8 XI 13 tháng 12 năm 1994
– 13 tháng 12 năm 1999
Hoàng Văn Nghiên Đinh Hạnh
Lương Ngọc Cừ
Đồng Minh Sơn
Nguyễn Triệu Hải
Đỗ Hoàng Ân (từ tháng 2 năm 1996)
Phan Văn Vượng (từ tháng 10 năm 1996)
Lưu Minh Trị (từ tháng 7 năm 1997)
XII 13 tháng 12 năm 1999
– tháng 5 năm 2004
Phạm Văn Vượng
Nguyễn Quốc Triệu
Đỗ Hoàng Ân
Nguyễn Thế Quang
Lê Quý Đôn
Vũ Văn Ninh
9 XIII tháng 5 năm 2004
– tháng 8 năm 2007
Bác sĩ Nguyễn Quốc Triệu Ngô Thị Thanh Hằng
Vũ Văn Ninh (đến tháng 7 năm 2006)
Đỗ Hoàng Ân (đến tháng 7 năm 2007)
Nguyễn Thế Quang (đến tháng 7 năm 2006)
Phí Thái Bình (từ tháng 7 năm 2006)
Hoàng Mạnh Hiển (từ tháng 7 năm 2006)
Nguyễn Văn Khôi (từ tháng 7 năm 2006)
Vũ Hồng Khanh (từ tháng 7 năm 2006)
Nguyễn Huy Tưởng (từ tháng 8 năm 2008)
Đào Văn Bình (từ tháng 8 năm 2008)
Trịnh Duy Hùng (từ tháng 8 năm 2008)
Nguyễn Thị Bích Ngọc (từ tháng 4 năm 2011)
10 tháng 8 năm 2007
– 20 tháng 6 năm 2011
Nguyễn Thế Thảo
XIV 20 tháng 6 năm 2011
– 4 tháng 12 năm 2015
Vũ Hồng Khanh
Nguyễn Văn Sửu
Trần Xuân Việt
Nguyễn Văn Khôi (đến tháng 4 năm 2014)
Nguyễn Thị Bích Ngọc (đến tháng 5 năm 2015)
Nguyễn Huy Tưởng (đến tháng 4 năm 2014)
Lê Hồng Sơn (từ tháng 4 năm 2014)
Nguyễn Quốc Hùng (từ tháng 4 năm 2014)
Nguyễn Ngọc Tuấn (từ tháng 4 năm 2014)[4]
11 4 tháng 12 năm 2015
– 11 tháng 8 năm 2020
Thiếu tướng Nguyễn Đức Chung
XV 14 tháng 6 năm 2016
– 11 tháng 8 năm 2020
Lê Hồng Sơn
Nguyễn Văn Sửu (đến tháng 12 năm 2020)
Nguyễn Quốc Hùng (đến tháng 12 năm 2020)
Nguyễn Thế Hùng (đến tháng 12 năm 2020)
Ngô Văn Quý (đến tháng 12 năm 2020)
Nguyễn Doãn Toản (đến tháng 12 năm 2020)
Nguyễn Trọng Đông (từ tháng 12 năm 2020)
Hà Minh Hải (từ tháng 12 năm 2020)
Dương Đức Tuấn (từ tháng 12 năm 2020)
Nguyễn Mạnh Quyền (từ tháng 12 năm 2020)
Chử Xuân Dũng (từ tháng 12 năm 2020)
Người tiền nhiệm bị tạm đình chỉ công tác từ ngày 11 tháng 8 năm 2020, giao đồng chí Nguyễn Văn Sửu, Phó chủ tịch Thường trực phụ trách UBND thành phố trong thời gian ông Nguyễn Đức Chung bị tạm đình chỉ đến khi bầu tân Chủ tịch UBND thành phố.
Không có 11 tháng 8 năm 2020
– 25 tháng 9 năm 2020
Nguyễn Văn Sửu
12 25 tháng 9 năm 2020
– 23 tháng 6 năm 2021
Chu Ngọc Anh
XVI 23 tháng 6 năm 2021
– 7 tháng 6 năm 2022
Lê Hồng Sơn (thường trực)
Nguyễn Trọng Đông
Dương Đức Tuấn
Hà Minh Hải
Nguyễn Mạnh Quyền
Chử Xuân Dũng
Bị khai trừ ra khỏi Đảng Cộng sản Việt Nam từ ngày 6 tháng 6 năm 2022, bị bãi nhiệm từ ngày 7 tháng 6 năm 2022
Không có 7 tháng 6 năm 2022
– 22 tháng 7 năm 2022
Lê Hồng Sơn[5] Người tiền nhiệm bị bãi nhiệm từ ngày 7 tháng 6 năm 2022, giao đồng chí Lê Hồng Sơn, Phó chủ tịch Thường trực phụ trách UBND thành phố trong thời gian ông Chu Ngọc Anh bị bãi nhiệm đến khi bầu tân Chủ tịch UBND thành phố.
13 22 tháng 7 năm 2022 – nay Trần Sỹ Thanh[6]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Điều 6 Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân Ủy ban nhân dân
  2. ^ Điều 51, điều 119 Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân Ủy ban nhân dân
  3. ^ a b “Đặc điểm bộ máy hành chính Hà Nội 1945”. Thông tấn xã Việt Nam. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 9 năm 2015. Truy cập 4 tháng 8 năm 2015.
  4. ^ “Hà Nội bầu bổ sung 3 Phó Chủ tịch UBND thành phố”. Tiền Phong. 18 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2021.
  5. ^ News, VietNamNet. “Báo VietnamNet”. VietNamNet News (bằng tiếng vietnamese). Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2022.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  6. ^ NLD.COM.VN (22 tháng 7 năm 2022). “Ông Trần Sỹ Thanh được bầu làm Chủ tịch Hà Nội với số phiếu tuyệt đối 100%”. https://nld.com.vn. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2022. Liên kết ngoài trong |website= (trợ giúp)

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]