Con nghê

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Nghê (hay là Ngao) là một động vật thần thoại trong văn hóa Việt Nam, là biến thể từ sư tử và chó dữ.

Những giả thuyết hình thành[sửa | sửa mã nguồn]

Trong đời sống của người dân Việt cổ, hai con thú được coi như những người bạn thân thiết, gần gũi và quan trọng nhất là con trâu và con chó. Trâu để cày ruộng, giúp sản xuất lúa gạo, chó để giữ nhà, phòng kẻ gian, phòng thú dữ. Chó đã có mặt rất nhiều trong các câu ca dao, thành ngữ. Chó là người bạn với người đàn ông trong các cuộc đi săn, là người đày tớ trung thành trong việc giữ nhà. Trong đời sống tinh thần, ông cha xưa cần một linh vật để trấn yểm, chống lại các thế lực hắc ám như tà ma ác quỷ. Chó đá được dựng lên là vì thế. Từ hình ảnh một con vật có thật (chó), qua sáng tạo và sự thổi hồn nó trở thành một con vật thiêng mà gần gũi: Ngao đá- Nghê đá...

Ở làng quê miền Bắc Việt Nam, trước cổng làng bao giờ cũng có một con Ngao đá lớn để bảo vệ cả làng, trước cổng đình bao giờ cũng có Ngao đá, và trước cổng mỗi nhà thường có chó đá nhỏ bé ngồi trước canh giữ cho gia chủ. Những con chó đá này có đẳng cấp, thân phận khác nhau ở sự thay đổi về hình dáng bên ngoài. Chó đá nhà quan quyền quý đeo chuông lục lạc, trang trí hoa văn, thắt dải yếm. Chó đá nhà bình dân thấp nhỏ, trước ngực không đeo chuông mà có một lỗ vuông làm chốt cái cửa, thân mình đẽo gọt đơn giản. Chó đá cao khoảng từ 0,25m tới 1m, bao giờ cũng trong tư thế ngồi trầm tư canh giữ. (Truyện cổ cũng thường nhắc đến chó đá, như chuyện,[1] chuyện [2] - Xin đọc:[3])

Trước cổng lăng mộ đền thờ điện thờ ở các đình chùa, đền miếu, Chó đá được chạm khắc trang trí với những chi tiết đường bệ, oai vệ nhưng rất gần gũi. Lâu dần trở thành vật linh, nên được gọi là con Nghê.

Hiện vật hình con nghê[sửa | sửa mã nguồn]

Con nghê đá tại Đền Đinh Tiên Hoàng, Hoa Lư
Nghê, hiện vật bảo tàng

Các cổ vật có hình con nghê của Bảo tàng Guimet (Paris)[sửa | sửa mã nguồn]

  • 1. Chân đèn có tượng Nghê, với ký hiệu cho biết được chế tạo vào năm 1637 tại Bát Tràng.
  • 2. Đĩa vẽ hình Nghê, được sản xuất cho thị trường Trung Đông và những nước theo Hồi giáo.

Các hiện vật hình con nghê của Bảo tàng Lịch sử Việt Nam (Hà Nội)[sửa | sửa mã nguồn]

  • 1. Đỉnh có nắp, men trắng xám rạn. Triều Lê Trung Hưng, tháng 4 năm Vĩnh Hựu 2 (1736). Đỉnh có nắp hình vòm, chỏm là tượng Nghê vờn ngọc, xung quanh trổ thủng bát quái, gờ miệng phẳng, thân phình, 3 chân thú chạm nổi hổ phù, 2 quai hình rồng. Trang trí nổi các băng văn dây lá lật, hồi văn chữ T, lá đề và rồng trong mây. Minh văn khắc dưới đế. Vĩnh Hựu vạn vạn niên chi nhị, tứ nguyệt nhật cung tác). Men rạn trắng xám.
  • 2. Nậm rượu, men nhiều màu. Triều Mạc – Lê Trung Hưng, thế kỷ 16 – 17. Nậm có cổ cao hình trụ, miệng đứng, thân chia 6 múi nổi hình cánh hoa, chạm nổi hình Nghê và hoa, viền đế tô nâu. Men trắng ngà và xanh rêu.
  • 3. Tượng Nghê, men trắng ngà và xanh rêu. Triều Lê Trung Hưng, thế kỷ 17. Tượng Nghê trên bệ chữ nhật, tư thế ngồi chầu, 2 chân trước chống, 2 chân sau khuỵu gập lại, đầu ngẩng, cổ đeo chuỗi nhạc nổi. Xung quanh thân và chân chạm mây. Ðế chữ nhật chạm mây, hoa sen và hồi văn. Men trắng ngà và xanh rêu.
  • 4. Hũ có nắp, men rạn và lam. Triều Nguyễn, niên hiệu Gia Long (1802–1819). Nắp hũ hình vòm có chỏm là tượng Nghê vờn ngọc, vẽ mây xung quanh. Hũ có gờ miệng uốn, cổ ngắn, vai phình, thân cao, đế rộng. Vai đắp nổi 4 đầu sư tử ngậm vòng tròn. Vẽ lam đề tài phong cảnh sơn thuỷ, nhà cửa, cây lá, người đội ô, người chèo thuyền. Minh văn viết bằng men lam dưới đế. "Gia Long niên chế" (Chế tạo trong niên hiệu Gia Long).
  • 5. Hũ có nắp, men nâu trắng và lam. Triều Nguyễn, niên hiệu Gia Long (1802–1819). Nắp có chỏm hình Nghê vờn ngọc, vẽ hoa lá men lam. Hũ có gờ miệng phẳng, cổ ngắn, vai phình, đáy lõm. Trên vai đắp nổi 4 đầu sư tử ngậm vòng. Xung quanh thân vẽ lam tiêu – tượng, mã – liễu, tùng – lộc. Minh văn viết 4 chữ. "Gia Long niên tạo" (Chế tạo trong niên hiệu Gia Long). Men nâu, trắng và lam.
  • 6. Đài thờ có nắp, men rạn, ngà. Triều Lê Trung Hưng, thế kỷ 18. Đài thờ có 2 phần, miệng hình ô van, nắp trang trí nổi núm hình Nghê, băng lá lật, mai – trúc – cúc – tùng, chữ "vạn", hổ phù. Men rạn ngà.
  • 7. Tượng Nghê, bằng sành. Triều Lê-Nguyễn, thế kỷ 18 – 19. Nghê đứng trên bệ chữ nhật, quanh thân chạm nổi văn mây. Màu đỏ nâu.
  • 8. Tượng Nghê, bằng sành. Triều Lê-Nguyễn, thế kỷ 18 – 19. Nghê quỳ trên bệ chữ nhật, đuôi xoắn, thân chạm nổi văn mây. Màu đỏ nâu.

Tham khảo [4]

Phân biệt con nghê và con lân[sửa | sửa mã nguồn]

Con Nghê là linh vật đặc biệt của văn hóa Việt Nam, con Lân thuộc văn hóa Trung Hoa. Về hình dạng, con Lân trông giống sư tử, mà có sừng, chân như chân trâu, thân hình tròn mập, có vẩy như vẩy rồng, miệng ngậm quả cầu, hay ngồi chống chân lên quả cầu. Con Nghê có kỳ mà không có sừng, mình thon nhỏ, chân như chân chó, dáng thanh, trông rõ ràng dáng chó chứ không tròn mập như dáng như sư tử, đuôi Nghê dài, vắt ngược lên lưng, đuôi Lân ngắn, xòe như cánh chim hay cuộn tròn như đuôi thỏ.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ "Cậu học trò và con chó đá"
  2. ^ "Hai anh em và con chó đá"
  3. ^ Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc,Truyện cổ nước Nam
  4. ^ (Nguồn: Bảo tàng Guimet (Paris), Bảo tàng Lịch sử Việt Nam)

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]