Flower Bud (EP)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Flower Bud
EP của GFriend
Phát hành23 tháng 7, 2015 (2015-07-23)
Thể loại
Thời lượng19:36
Hãng đĩa
Thứ tự album của GFriend
Season of Glass
(2015)
Flower Bud
(2015)
Snowflake
(2016)
Đĩa đơn từ Flower Bud
  1. "Me Gustas Tu"
    Phát hành: 23 tháng 7 năm 2015

Flower Budmini album (EP) thứ hai của nhóm nhạc nữ Hàn Quốc, GFriend. Nó được phát hành bởi Source Music vào ngày 23 tháng 7 năm 2015 và được phân phối bởi KT Music. Album bao gồm bốn bài hát, bao gồm đĩa đơn "Me Gustas Tu", và một bản nhạc không lời. Album ra mắt ở vị trí thứ 6 trên bảng xếp hạng album Gaon và đã bán được hơn 18,000 bản. Về mặt thực tế, album thuộc thể loại pop bubblegum và có phong cách tương tự các nhóm nhạc nữ Hàn Quốc những năm 1990. Hầu hết các bài hát trong album được viết bởi Iggy và Seo Yong-bae, người đã làm việc với nhóm trong album đầu tay của họ, Season of Glass.

GFriend quảng bá album với các buổi biểu diễn trực tiếp trên các chương trình âm nhạc của Hàn Quốc. "Me Gustas Tu" được chú ý nhờ vũ đạo mạnh mẽ, khác với các nhóm nhạc nữ khác có hình ảnh "ngây thơ". Một đoạn video do người hâm mộ quay lại khi nhóm biểu diễn bài hát trên sân khấu trơn trượt đã lan truyền vào tháng 9 năm 2015, thúc đẩy sự nổi tiếng của nhóm. Bài hát đạt vị trí số 8 trên bảng xếp hạng kỹ thuật số Gaon và đã bán được hơn 2 triệu bản kỹ thuật số.

Bối cảnh và phát hành[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 13 tháng 7 năm 2015, Source Music đã công bố bản phát hành sắp tới của EP thứ hai của GFriend, Flower Bud.[1] Album được phát hành dưới dạng tải xuống kỹ thuật số vào ngày 23 tháng 7 và được phát hành ở định dạng CD vào ngày 27 tháng 7.[2] Video âm nhạc cho đĩa đơn "Me Gustas Tu" được sản xuất bởi Zanybros và đạo diễn bởi Hong Won-ki. Một trong những bối cảnh là khu rừng "như mơ" với các thành viên mặc váy ren trắng và áo liền quần.[3] "Me Gustas Tu" là bài hát thứ hai trong bộ ba câu chuyện "trường học" của nhóm và đại diện cho một chuyến đi trong kỳ nghỉ hè.[4][5] Hình ảnh "thuần khiết" của nhóm được khen ngợi bởi vũ đạo mạnh mẽ, hiếm thấy đối với một nhóm nhạc nữ có khái niệm "ngây thơ".[6] Vũ đạo được tạo ra bởi Park Jun-hee, và phần đáng chú ý nhất liên quan đến việc Yerin nhảy qua Umji, trong khi Yuju trượt xuống bên dưới cùng một lúc.[7][8] Phải mất đến 3 tháng để nhóm hoàn thiện các động tác nhảy phức tạp.[9]

GFriend đã quảng bá album với màn trình diễn "Me Gustas Tu" trên nhiều chương trình âm nhạc khác nhau, bắt đầu với M Countdown vào ngày 23 tháng 7.[10] Vào ngày 5 tháng 9, nhóm đã biểu diễn bài hát này tại một sự kiện của đài SBS ở Inje, tỉnh Gangwon. Sàn sân khấu ẩm ướt do mưa, và Yuju đã bị trượt và ngã tám lần trong lúc biểu diễn, trong khi SinB ngã một lần.[11][12] Một người hâm mộ đã đăng đoạn video quay lại màn trình diễn lên YouTube, sau đó nó đã gây sốt trong và ngoài nước, thúc đẩy sự nổi tiếng của nhóm.[11][13][14] Quá quảng bá cho album đã kết thúc vào ngày hôm sau, với màn trình diễn "Glass Bead" và "Me Gustas Tu" trên Inkigayo.[15]

Vào tháng 1 năm 2016, "Me Gustas Tu" là một trong những bài hát được phát qua loa về phía Khu phi quân sự Triều Tiên, như một phần của chương trình tuyên truyền chống Bình Nhưỡng của Hàn Quốc Voice of Freedom.[16] Chương trình phát sóng là một phản ứng đối với vụ thử bom hạt nhân của Triều Tiên.[17][18]

Mô tả[sửa | sửa mã nguồn]

"Me Gustas Tu" và "One" được viết bởi nhà sản xuất Iggy và Seo Yong-bae của Rainbow Bridge World, nhóm cũng đã sáng tác các bài hát trong album đầu tiên của GFriend, bao gồm "Glass Bead". "Me Gustas Tu" có nghĩa là "I Like You" trong tiếng Tây Ban Nha, và lời bài hát nói về lời tỏ tình ngại ngùng của một cô gái. Bài hát được viết để nhấn mạnh phẩm chất "tươi sáng và trẻ trung" của các thành viên, và có âm thanh synth "vui nhộn", guitar và âm bass Moog.[19] "Under the Sky" là một bài hát về hy vọng của một cô gái về tương lai, và "My Buddy" là một bài hát về tình bạn và tình yêu. "One" là một bài hát về tình yêu, có guitar acoustic, dây và piano điện tử.[20] Cả bốn bài hát đều là những bài hát nhảy có nhịp độ trung bình tương tự như các nhóm nhạc nữ Hàn Quốc những năm 1990.[21]

Tiếp nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Album đã lọt vào bảng xếp hạng album Gaon hàng tuần ở vị trí số 6.[22] Đó là album bán chạy thứ 18 trong tháng 7, bán được 4,011 bản.[23] Đến tháng 3 năm 2016, nó đã bán được hơn 18.000 bản.[24] "Me Gustas Tu" bước vào bảng xếp hạng kỹ thuật số Gaon ở vị trí 27, và tăng lên vị trí 15 vào tuần sau.[25][26] Nó đạt vị trí thứ 8 sau khi video màn trình diễn "trượt ngã" được lan truyền.[27] Sau khi phát hành EP thứ ba của GFriend, Snowflake, "Me Gustas Tu" đã vươn lên trong bảng xếp hạng, đứng ở vị trí thứ 12 vào tuần thứ hai của tháng 2 năm 2016.[28] Tính đến tháng 5 năm 2016, nó đã bán được 1,6 triệu lượt tải xuống kỹ thuật số.[29]

Won Ho-jung của The Korea Herald cho biết GFriend "đã đi một bước đi an toàn" với album, với thể loại nhạc bubblegum pop thay vì EDMhip hop phổ biến hơn, và duy trì "sự rung cảm ngọt ngào, ngây thơ" từ album đầu tiên của họ. Nhìn chung, Won Ho-jung cho biết các bài hát không tệ cũng không nổi bật và được đặt ra để "củng cố vị trí của nhóm trong thế giới K-pop" với bản phát hành tiếp theo..[21]

Nhiều nhà phê bình âm nhạc cho biết các bài hát của GFriend "đặc trưng là được làm tốt với giai điệu bắt tai, quen thuộc, giống với các bài hát chủ đề của phim hoạt hình Nhật Bản". Seo Jeong Min-gap cho biết "Me Gustas Tu" đặc biệt tinh tế và có "ý thức hoàn thiện mạnh mẽ".[30]

Danh sách bài hát[sửa | sửa mã nguồn]

STT Tên bài hátPhổ lờiPhổ nhạc Biên khúc Thời lượng
1. "Intro (Flower Bud)"   
  • Iggy
  • Seo Yong-bae
  • Iggy
  • Seo
1:19
2. "Me Gustas Tu" (Hangul오늘부터 우리는; RomajaOneulbuteo Urineun)
  • Iggy
  • Seo
  • Iggy
  • Seo
  • Iggy
  • Seo
3:40
3. "Under the Sky" (하늘 아래서; Haneul Araeseo)Iggy
  • Iggy
  • Hong Beom-gyu
  • Kim Woong
  • Hong
  • Kim
4:10
4. "One"  
  • Iggy
  • Seo
  • Iggy
  • Seo
  • Iggy
  • Seo
3:14
5. "My Buddy" (기억해; Gioekhae)Heuk Tae
  • Heuk Tae
  • Kwon Hyeok-ho
Heuk Tae 3:33
6. "Me Gustas Tu" (phiên bản nhạc không lời) 
  • Iggy
  • Seo
  • Iggy
  • Seo
3:40
Tổng thời lượng:
19:36

Bảng xếp hạng[sửa | sửa mã nguồn]

Bảng xếp hạng Vị trí

cao nhất

Album Hàn Quốc (Gaon)[22] 6

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “G-Friend to make comeback with 'Flower Bud' in mid July”. KBS Global. 14 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2016. 
  2. ^ “여자 친구 – Flower Bud: 미니앨범 2집” (bằng tiếng Hàn). Hanteo. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2016. 
  3. ^ Ghim, Sora (13 tháng 7 năm 2015). “GFRIEND Confirms Its Comeback For July 23”. BNT News. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2016. 
  4. ^ Kim Byung-kwan (25 tháng 1 năm 2016). “[Photo] GFriend Steals Hearts at Comeback Showcase”. enewsWorld. CJ E&M. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2016. 
  5. ^ “GFriend”. After School Club. Tập 199. 16 tháng 2 năm 2016. Sự kiện xảy ra vào lúc 15:58. Arirang. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2016. 
  6. ^ Kim Ji-young (8 tháng 1 năm 2016). 'Girlfriend' returns with third album”. K-Pop Herald. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2016. 
  7. ^ Park Su-jeong (25 tháng 8 năm 2015). “노래를 그리는 사람들③ 박준희 안무가, 여자친구 칼군무의 비결 (인터뷰)”. 10Asia (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2016. 
  8. ^ Choi Na-young (29 tháng 7 năm 2015). “여자친구 "파워청순? 우린 '엽사' 많은 그룹"[인터뷰]” (bằng tiếng Hàn). OSEN. Naver News. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2016. 
  9. ^ “The six sweet, lively girls of GFriend!”. KBS World Radio. 25 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2016. 
  10. ^ Lee Jin-ho (23 tháng 7 năm 2015). “SNSD, Apink and More Girl Groups to Battle it Out on ′M COUNTDOWN′”. enewsWorld. CJ E&M. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2016. 
  11. ^ a ă Regan, Helen (7 tháng 9 năm 2015). “Watch a K-Pop Singer Fall Down 8 Times in 1 Song”. Time. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2016. 
  12. ^ “Girl band keeps on dancing after tumbling down”. The Korea Times. 6 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2016. 
  13. ^ Yi, Hajin Lily (19 tháng 5 năm 2016). “[Kpop Spotlight] G-Friend Wins No.1 Thanks to "Falling Performance Fancam". The Korea Daily. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2016. 
  14. ^ Kim Jae-heun (31 tháng 12 năm 2015). “K-pop stars to continue to dominate online charts in 2016”. The Korea Times. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2016. 
  15. ^ Yoon So-hee (6 tháng 9 năm 2015). '인기가요' 여자친구, 굿바이 스테이지에도 빵긋 '오늘부터 우리는+유리구슬'. 10Asia (bằng tiếng Hàn). Hankyung. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2016. 
  16. ^ Shin Hyon-hee (8 tháng 1 năm 2016). “Troops on high alert as Seoul starts anti-N.K. propaganda”. The Korea Herald. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2016. 
  17. ^ “(News Focus) S. Korea resumes anti-North broadcasts laced with K-pop”. Yonhap News Agency. 8 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2016. 
  18. ^ “Bang bang bang! The K-pop songs being blasted into North Korea”. The Guardian. 8 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2016. 
  19. ^ “UP10TION, 2BiC, GFRIEND, Ryeowook”. Pops in Seoul. Tập 3149. 26 tháng 4 năm 2016. Arirang. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2016. 
  20. ^ “여자친구 2nd Mini Album 'Flower Bud' (bằng tiếng Hàn). Melon. LOEN Entertainment. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2016. 
  21. ^ a ă Won Ho-jung (24 tháng 7 năm 2015). “[Album Review] No surprises from Gfriend's 2nd EP”. The Korea Herald. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2016. 
  22. ^ a ă “Gaon Album Chart – July 26–31 2015”. Gaon Chart. Korea Music Content Industry Association. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2016. 
  23. ^ “2015년 07월 Album Chart” (bằng tiếng Hàn). Gaon Music Chart. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2016. 
  24. ^ Cumulative sales for "Flower Bud":
  25. ^ “2015년 31주차 Digital Chart”. Gaon Music Chart. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2016. 
  26. ^ “2015년 32주차 Digital Chart”. Gaon Music Chart. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2016. 
  27. ^ “2015년 38주차 Digital Chart”. Gaon Music Chart. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2016.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  28. ^ “2016년 07주차 Digital Chart” (bằng tiếng Hàn). Gaon Chart. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2016. 
  29. ^ Cumulative Sales for "Me Gustas Tu":
  30. ^ Chung Joo-won (8 tháng 3 năm 2016). “(Yonhap Feature) Season changing for K-pop girl groups”. Yonhap News Agency. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2016. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]