Gal Gadot

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Gal Gadot
Gal Gadot cropped lighting corrected 2b.jpg
Gadot tại San Diego Comic-Con 2016
Sinh30 tháng 4, 1985 (35 tuổi)
Petah Tikva,  Israel
Quốc tịch Israel
Nghề nghiệpDiễn viên
Người mẫu
Năm hoạt động2004–nay
Chiều cao178 cm (5 ft 10 in)[1]
Phối ngẫu
Yaron Varsano (cưới 2008)
Con cái2[2][3]
Trang webgalgadot.com

Gal Gadot[4] (/ˈɡɑːl ɡɑːdɒt/; tiếng Hebrew: גל גדות[5][6]; sinh ngày 30 tháng 4 năm 1985)[7] là một nữ người mẫu, diễn viên người Israel. Cô được biết đến khi đoạt giải Hoa hậu Israel vào năm 2004.[8] Trong vai trò diễn viên, Gadot được biết đến vào năm 2009 với vai diễn Gisele trong loạt phim Fast & Furious[9][10] và thành công nhất với vai diễn Wonder Woman trong phim Batman đại chiến Superman: Ánh sáng công lý[11][12] (2016), Wonder Woman: Nữ thần chiến binh (2017).

Thời thơ ấu[sửa | sửa mã nguồn]

Gal Gadot sinh ra tại Petah Tikva, Israel và lớn lên ở thành phố Rosh HaAyin. Trong tiếng Do Thái, tên đầu tiên của cô có nghĩa là "sóng" và họ của cô có nghĩa là "bờ sông". Mẹ cô là Irit (nhũ danh Weiss), một giáo viên và cha cô là Michael Gadot, một kỹ sư. Ông bà ngoại của cô được sinh ra ở châu Âu; ông của cô, người từng bị giam cầm trong trại tập trung Auschwitz, sống sót sau cuộc thảm sát người Do Thái và bà của cô đã rời đi trước cuộc xâm lược của Đức Quốc xã. Gadot chia sẻ rằng cô được nuôi dưỡng trong một "môi trường gia đình rất Do Thái". Gia đình Gadot là người gốc Do Thái Ashkenazi (Ba Lan-Do Thái, Áo-Do Thái, Đức-Do Thái và Séc-Do Thái). Gadot có một cô em gái tên là Dana.

Khi trưởng thành, Gadot bắt đầu học luật tại trường đại học IDC Herzliya.

Ở tuổi 20, Gadot thực hiện nghĩa vụ quân sự trong Lực lượng phòng vệ Israel, hoạt động dưới nhiệm vụ hướng dẫn chiến đấu.[13] Cô nói về thời gian của mình khi còn trong quân đội: "Bạn có 2 hoặc 3 năm trong quân đội, bạn sẽ học được cách kỷ luật và tôn trọng".[14] Gadot nói rằng việc đó đã giúp cô giành được vai Gisele trong Fast & Furious: "Tôi nghĩ lý do chính là Justin Lin thực sự thích tôi khi ở trong quân đội, và anh ấy muốn tận dụng kiến thức về vũ khí của tôi ".[15]

Cuộc sống cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Gadot kết hôn với nhà thầu bất động sản người Israel, Yaron Varsano vào ngày 28 tháng 9 năm 2008.[16] Hai vợ chồng có hai con gái, sinh vào tháng 11 năm 2011 và tháng 3 năm 2017.[2][3]

Gadot nói rằng cô rất thích xe mô tô, hiện nay cô có một chiếc Ducati Monster - S2R màu đen.[17]

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Sự nghiệp người mẫu và hoa hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 18 tuổi Gadot đoạt vương miện Hoa hậu Israel năm 2004[18], và tiếp theo là cuộc thi Hoa hậu Hoàn vũ 2004 tại Ecuador. Cô đã thực hiện nghĩa vụ quân sự hai năm của mình từ năm 20 tuổi, sau đó trở về học luật. Khi cô học xong năm đầu tiên, một đạo diễn casting gọi cô đến thử vai cho vai diễn Bond Girl - Camille Montes trong bộ phim Quantum of Solace. Khi thử vai Bond girl cho phim "Quantum of Solace", Gal Gadot đã thua cuộc trước nữ diễn viên Olga Kurylenko. Nhưng một điều thú vị là vài năm sau đó, Gal Gadot đã đánh bại chính Olga Kurylenko khi họ cùng tham gia cuộc đua giành vai Wonder Woman.[19]

Năm 2007, Gadot tham gia vào bộ ảnh Maxim của nữ quân đội Israel, và kết quả là cô đã xuất hiện trên trang bìa của tờ New York Post. Vào tháng 4 năm 2012, Shalom Life xếp hạng cô thứ 5 trong danh sách 50 phụ nữ Do Thái tài năng, thông minh, hài hước và đẹp nhất trên thế giới, sau người mẫu Bar Refaeli và nữ diễn viên Eva Green.[20] Vào năm 2014, Gadot là một trong hai nữ diễn viên người Israel, cùng với Odeya Rush, được tạp chí InStyle liệt vào danh sách là những phụ nữ có triển vọng hàng đầu.[21]

Gadot đã làm gương mặt đại diện quốc tế cho Miss Sixty, điện thoại thông minh Huaweii, Captain Morgan rum, nhãn hiệu Nước hoa Bamboo của Gucci, các dòng sản phẩm chăm sóc da Vine VeraJaguar Cars. Cô đã tham gia người mẫu bìa trên Cosmopolitan, Glamour, Bride Magazine, Entertainment Weekly, UMM, Cleo, Fashion, Lucire, FHM. Gadot là người mẫu chính cho thương hiệu thời trang Castro trong năm 2008-2016.[22] Năm 2013, mức lương diễn viên người mẫu hàng năm của cô được ước tính là 2,4 triệu NIS, vượt qua một số người mẫu nổi tiếng khác của Israel như Esti GinzburgShlomit Malka, đứng sau Bar Refaeli.[23]

Sự nghiệp diễn xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Gal Gadot tại sự kiện San Diego Comic-Con 2016 quảng bá cho Wonder Woman: Nữ thần chiến binh.

Năm 2008, Gadot đóng vai chính trong bộ phim Israel Bubot. Cô xuất hiện trong vai Gisele trong phim Fast & Furious, bộ phim thứ tư trong chuỗi phim Fast and the Furious, vượt qua sáu nữ diễn viên khác[24][25]. Trong năm 2010, cô đã đóng một vai nhỏ trong phim Đêm hẹn nhớ đời.[26] Năm 2011 cô trở lại loạt phim Fast & Furious, tiếp tục vai diễn Gisele trong Fast & Furious 5: Phi vụ Rio. Vào năm 2013, Gadot đã tham gia vai Gisele một lần nữa trong Fast & Furious 6.

Gadot đảm nhiệm vai diễn Wonder Woman trong phim điện ảnh Batman đại chiến Superman: Ánh sáng công lý (2016). Cô đã phải tham gia nhiều khoá học Kung Fu kickboxing, capoeira và jiu-jitsu của Brazil để chuẩn bị cho vai diễn.[27] Nhờ thế, phần xuất hiện của Wonder Woman ngay từ trong Batman đại chiến Superman đã được xem là một trong những đoạn hay nhất bộ phim.[28]

Cũng trong năm 2016, cô đóng một vai nhỏ trong phim Phi vụ 999 của đạo diễn John Hillcoat, cô đóng cùng với Kate WinsletAaron Paul.[29] Cuối năm đó, cô đóng vai chính trong bộ phim kinh dị Tội phạm, vai vợ của nhân vật Reynolds,[30] cùng với Kevin Costner, Gary OldmanTommy Lee Jones.[31] Bộ phim cuối cùng của cô năm 2016 là bộ phim hài Hàng xóm tôi là đặc vụ, trong đó cô đóng vai một điệp viên bí mật cùng với Isla FisherJon Hamm.[32]

Năm 2017, Gadot đóng vai chính trong bộ phim Wonder Woman: Nữ thần chiến binh, và sau đó tiếp tục đóng vai chính trong bộ phim Liên minh Công lý công chiếu vào ngày 17 tháng 11 năm 2017.[33][34][35] Gadot được mời làm thành viên Viện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Điện ảnh.

Gadot là diễn viên lồng tiếng cho Shank trong bộ phim của Walt Disney, Ralph Breaks the Internet.

Danh sách phim[sửa | sửa mã nguồn]

Phim điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tiêu đề Vai trò Ghi chú
2009 Fast & Furious 4 Gisele Yashar
2010 Đêm hẹn nhớ đời Natanya
Knight and Day Naomi
2011 Fast & Furious 5: Phi vụ Rio Gisele Yashar
2013 Fast & Furious 6
2014 Kicking Out Shoshana Mirit Ben Harush Phim Israel
2015 Fast & Furious 7 Gisele Yashar Có diễn xuất trong một cảnh bị xoá[36]
2016 Phi vụ 999 Elena Vlaslov
Batman đại chiến Superman: Ánh sáng công lý Diana Prince / Wonder Woman
Tội phạm Jill Pope
Hàng xóm tôi là đặc vụ Natalie Jones
2017 Wonder Woman: Nữ thần chiến binh Diana Prince / Wonder Woman
Liên minh Công lý
2018 Ralph Breaks the Internet Shank (lồng tiếng)
2019 Between Two Ferns: The Movie Chính cô Khách mời
2020 Wonder Woman 1984 Diana Prince / Wonder Woman Hậu kỳ; nhà sản xuất
Death on the Nile Linnet Ridgeway-Doyle Nhà sản xuất

Truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên Vai Ghi chú
2007 Bubot Miriam "Merry" Elkayam Phim truyền hình Israel
2009 Entourage Lisa Tập: "Amongst Friends"
2009 The Beautiful Life Olivia 3 tập
2011 Asfur Kika Phim truyền hình Israel
2012 Kathmandu Yamit Bareli Phim truyền hình Israel
2012 Eretz Nehederet Chính cô Phim truyền hình Israel
2017 Saturday Night Live Chính cô (dẫn chương trình) Tập: "Gal Gadot/Sam Smith"
2018 The Simpsons Chính cô (lồng tiếng) Tập: "Bart's Not Dead"
2019 Eurovision Song Contest 2019 Chính cô Khách mời

Hoa hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên cuộc thi Vai trò Kết quả
2004 Hoa hậu Israel 2004 Chính cô Giành vương miện
Hoa hậu Hoàn vũ 2004 Hoa hậu Israel Không có giải

Giải thưởng và đề cử[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 21 tháng 10 năm 2016, kỷ niệm 75 năm lần xuất hiện đầu tiên của Wonder Woman, nhân vật đó được Liên Hợp Quốc chỉ định làm Đại sứ cho quyền Phụ nữ và Trẻ em, thúc đẩy bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ, trẻ em gái. Tham gia sự kiện vinh dự này có Gadot - diễn viên vai Wonder Woman trong phim, Lynda Carter - diễn viên vai Wonder Woman trong TV Series, Diane Nelson - chủ tịch DC Entertainment, Patty Jenkins - đạo diễn phim Wonder Woman và Tổng thư ký LHQ Cristina Gallach.[37][38]

Năm Giải thưởng Hạng mục Đề cử Kết quả Nguồn
2016 Teen Choice Awards Lựa chọn ngôi sao điện ảnh đột phá Batman đại chiến Superman: Ánh sáng công lý| style="background: #FDD; color: black; vertical-align: middle; text-align: center; " class="no table-no2"|Đề cử [39]
style="background: #FDD; color: black; vertical-align: middle; text-align: center; " class="no table-no2"|Đề cử [39]
Liên hoan phim Mỹ Trung Quốc Nữ diễn viên Mỹ nổi tiếng nhất tại Trung Quốc Fast & Furious, Batman đại chiến Superman: Ánh sáng công lý

Wonder Woman: Nữ thần chiến binh

Đề cử [40]
Critics' Choice Awards Nữ diễn viên xuất sắc nhất trong phim hành động Batman đại chiến Superman: Ánh sáng công lý| style="background: #FDD; color: black; vertical-align: middle; text-align: center; " class="no table-no2"|Đề cử [41]
Women Film Critics Circle Awards style="background: #FDD; color: black; vertical-align: middle; text-align: center; " class="no table-no2"|Đề cử [42]
2017 Teen Choice Awards Lựa chọn nữ diễn viên phim hành động style="background: #99FF99; color: black; vertical-align: middle; text-align: center; " class="yes table-yes2"|Đoạt giải [43]
Lựa chọn nữ diễn viên phim hài Hàng xóm tôi là đặc vụ| style="background: #FDD; color: black; vertical-align: middle; text-align: center; " class="no table-no2"|Đề cử [43]
2018 Liên hoan phim quốc tế Palm Springs Giải thưởng ngôi sao mới nổi - Nữ diễn viên style="background: #99FF99; color: black; vertical-align: middle; text-align: center; " class="yes table-yes2"|Đoạt giải [44]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ גל גדות
  2. ^ a ă Wonderwall.com Editors 2:36 pm PDT, ngày 26 tháng 7 năm 2016 (ngày 26 tháng 7 năm 2016). “Gal Gadot daughter Alma Varsano – Gal Gadot Wonder Woman things to know | Gallery”. Wonderwall.com. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2016. 
  3. ^ a ă “And then we were four”. Twitter. Ngày 20 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2017. 
  4. ^ “גל גדות על פרשת אופק בוכריס: "איפה הצדק?". 
  5. ^ Scott, Becky (ngày 30 tháng 5 năm 2017). “Have You Been Pronouncing Gal Gadot Wrong?”. The Forward. 
  6. ^ “Gal Gadot”. The Name Engine. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2017. 
  7. ^ “Gal Gadot”. AllMovie.com. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2016. 
  8. ^ “UMM.COM - Urban Male Magazine”. Umm.ca. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2013. 
  9. ^ “IGN: New Furious Babe”. IGN. Newscorp. Ngày 4 tháng 3 năm 2008. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2011. 
  10. ^ “Gal Gadot: Too fast too furious?”. Israelenews.com. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2011. 
  11. ^ Fleming, Mike (ngày 4 tháng 12 năm 2013). “Emerging Star Gal Gadot Set For Wonder Woman In 'Batman Vs. Superman'. Deadline.com. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2013. 
  12. ^ “Gal Gadot to Play Wonder Woman in ‘Batman vs. Superman’”. Variety. Ngày 4 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2013. 
  13. ^ Gal Gadot Is Wonder Woman: "She Is Not Relying on a Man, and She's Not There Because of a Love Story" By Glamour
  14. ^ “סופר־גירל – ידיעות אחרונות”. Yediot.co.il. Ngày 22 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2016. 
  15. ^ Chatting With 'Fast Five' Star Gal Gadot By Curt Schleier, ngày 2 tháng 5 năm 2011
  16. ^ “Yaron Varsano- Wonder Woman actress Gal Gadot's Husband.”. Tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2013. 
  17. ^ Denham, Jess (ngày 5 tháng 12 năm 2013). “Profile: Wonder Woman Gal Gadot is a model, army girl and Fast & Furious star”. The Independent. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2016. 
  18. ^ “Wonder Woman Star Gal Gadot Dazzled as Miss Israel”. 
  19. ^ Wilson, Simone (ngày 4 tháng 12 năm 2013). "Gal Gadot is Wonder Woman: Israeli badass takes on the boys in 'Batman vs. Superman'". The Jewish Journal of Greater Los Angeles.
  20. ^ Ashley Baylen (ngày 12 tháng 4 năm 2012). “Top 50 Hottest Jewish Women (10–1) – Page2”. Shalom Life. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2013. 
  21. ^ Berger, Elia (ngày 8 tháng 6 năm 2014), Israel's Gal Gadot and Odeya Rush get noticed as Hollywood's newest leading ladies, The Jerusalem Post
  22. ^ “Israeli Fashion Retailer Torn Between Daring Spirit and Need to Please the Masses”. Haaretz. 
  23. ^ הדוגמניות המרוויחות ביותר בישראל Forbes Israel, June 2013
  24. ^ “IGN: New Furious Babe”. IGN. Newscorp. Ngày 4 tháng 3 năm 2008. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2011. 
  25. ^ “Gal Gadot: Too fast too furious?”. Israelenews.com. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2011. 
  26. ^ “JUF: Teens: Celebrities: Gal Gadot”. JUF. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2014. 
  27. ^ Doran, Michael (ngày 27 tháng 12 năm 2013). “Gal Gadot Responds To Being 'Too Skinny' for Wonder Woman”. Newsarama. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2016. 
  28. ^ Russell, Scarlett (ngày 27 tháng 3 năm 2016). “Wonder Woman reborn: how she stole limelight from Batman and Superman”. The Guardian. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2016. 
  29. ^ Flemming Jr., Mike (ngày 5 tháng 2 năm 2014). “Open Road Acquires Domestic On 'Triple Nine;' Michael B. Jordan, Aaron Paul, Gal Gadot, Michael Pena Join Killer Cast”. Deadline. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2014. 
  30. ^ Kit, Borys (ngày 12 tháng 8 năm 2014). “Wonder Woman Actress Gal Gadot Joins Kevin Costner in 'Criminal'. The Hollywood Reporter. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2014. 
  31. ^ “Criminal (2016)”. Rotten Tomatoes. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2016. 
  32. ^ “On the Set for 4/20/15: Michael Bay Starts TMNT Sequel, Gal Gadot Begins Keeping Up With the Joneses, Natalie Dormer Wraps Shooting on Patient Zero”. ssninsider.com. Ngày 20 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2015. 
  33. ^ “Gal Gadot cast as Wonder Woman: Comics world reacts on Twitter”. Los Angeles Times. Ngày 5 tháng 12 năm 2013. 
  34. ^ Begley, Chris. “Gal Gadot signed a 3 movie deal as Wonder Woman (video)”. Batman News. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2014. 
  35. ^ Kroll, Justin. 'Wonder Woman' Gal Gadot Signs Three-Picture Deal with Warner Bros.”. Variety. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2014. 
  36. ^ “Watch a Furious 7 Deleted Scene With Letty and Gisele”. /Film. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2017. 
  37. ^ Serrao, Nivea (ngày 13 tháng 10 năm 2016). "Wonder Woman named UN Honorary Ambassador for empowerment of women and girls". Entertainment Weekly.
  38. ^ "Wonder Woman Named the United Nations' Honorary Ambassador for the Empowerment of Women and Girls". Business Wire. ngày 21 tháng 10 năm 2016.
  39. ^ a ă “Teen Choice Awards 2016—Captain America: Civil War Leads Second Wave of Nominations”. E!. Ngày 9 tháng 6 năm 2016. 
  40. ^ Monetti, Sandro (ngày 4 tháng 11 năm 2016). “Blunder Woman? Gal Gadot Gets Wrong Gong – Entity”. Entity. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2016. 
  41. ^ “Best Actress – 'La La Land,' 'Arrival,' 'Moonlight' Top Critics' Choice Nominations”. The Hollywood Reporter. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2016. 
  42. ^ “The Women Film Critics Circle Nomination Award Picks For 2016”. criticalwomen.blogspot.co.il. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2017. 
  43. ^ a ă “Teen Choice Awards 2017 Winners: The Complete List”. E! News (bằng tiếng en-CA). Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2017. 
  44. ^ “Timothée Chalamet and Sam Rockwell Set for PSIFF Honors, Lois Smith Gets Lifetime Achievement Award, and More”. IndieWire (bằng tiếng en-CA). Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2017. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]