Kim Jae-joong
Kim Jae-joong | |
|---|---|
Kim Jae-joong vào năm 2025 | |
| Sinh | Han Jae-joon 26 tháng 1, 1986 Chungcheong Nam, Hàn Quốc |
| Tên khác |
|
| Nghề nghiệp |
|
| Sự nghiệp âm nhạc | |
| Thể loại | |
| Năm hoạt động | 2003–nay |
| Hãng đĩa |
|
| Cựu thành viên của | |
| Nghệ danh | |
| Hangul | 김재중 |
|---|---|
| Hanja | 金在中 |
| Romaja quốc ngữ | Kim Jaejung |
| McCune–Reischauer | Kim Chaechung |
| Hán-Việt | Kim Tại Trung |
| Tên khai sinh | |
| Hangul | 한재준 |
|---|---|
| Hanja | 韓在俊 |
| Romaja quốc ngữ | Han Jaejun |
| Hán-Việt | Hàn Tại Tuấn |
Kim Jae-joong (Hangul: 김재중; Hán tự: 金在中; Hán-Việt: Kim Tại Trung; sinh ngày 26 tháng 1 năm 1986), còn được biết đến với nghệ danh Jaejoong tại Hàn Quốc và Jejung hoặc J-Jun tại Nhật Bản, là một nam ca sĩ, nhạc sĩ, diễn viên người Hàn Quốc. Là cựu thành viên của JYJ và trước đó là TVXQ với nghệ danh Hero Jaejoong, anh bắt đầu hoạt động với tư cách nghệ sĩ solo từ năm 2013.
Tiểu sử
[sửa | sửa mã nguồn]Kim Jae-joong có tên khai sinh là Han Jae-joon, sinh ra tại Gongju, Chungcheongnam-do, Hàn Quốc. Ngày sinh thật của anh được mẹ ruột của anh tiết lộ sau này là ngày 4 tháng 2. Tuy nhiên, anh đã khẳng định rằng ngày sinh thật của mình là ngày 26 tháng 1. Anh được một gia đình họ Kim nhận nuôi từ khi còn nhỏ, vì vậy mà anh đã đổi tên mình là Kim Jae-joong.[1]
Năm 16 tuổi, Jaejoong rời quê hương lên Seoul thực hiện ước mơ làm ca sĩ của mình. Cuộc sống của anh lúc đó rất khó khăn, thường xuyên bị chủ nhà đe doạ đuổi ra khỏi nhà nếu anh không thanh toán đủ tiền phòng trọ. Để có thể kiếm được 150.000 won để trả tiền thuê nhà, anh từng phải làm nhiều công việc khác nhau, trong đó có đóng vai một anh lính trong phim Taegeukgi Hwinallimyeo (태극기 휘날리며) và bán kẹo cao su ở ga tàu điện ngầm.[2]
Lúc bán kẹo, vì gương mặt của Jaejoong trông không giống như những đứa trẻ phải lao động từ sớm, khiến một số người lầm tưởng anh là kẻ trộm cắp và họ đã đối xử với anh rất tệ. Có lần vì tuyệt vọng, anh quyết định vào làm nhân viên trong một siêu thị. Một người phụ nữ làm việc tại đây vì thương cảm cho anh nên đã mua hết số kẹo và khuyên anh không nên đi bán kẹo nữa và đã đưa cho anh 150.000 won. Sau này, Jaejoong chia sẻ rằng: "Kể từ ngày hôm đó, tôi đã hạ quyết tâm cố gắng nhiều hơn nữa để có thể biến giấc mơ của tôi thành hiện thực".
Anh tham gia thử giọng tại SM Entertainment vào năm 2001 và trở thành thực tập sinh vào cùng năm.
Sự nghiệp
[sửa | sửa mã nguồn]Ngày 26 tháng 12 năm 2003, với nghệ danh Hero Jaejoong, anh ra mắt cùng TVXQ trong một buổi diễn của BoA và Britney Spears.[3]
Jaejoong thể hiện ca khúc "Insa" (인사 Greeting), cho nhạc nền phim A Millionaire's First Love (2006).[4] Anh cũng hợp ca với CSJH The Grace cho ca khúc "Just for One Day", xuất hiện trong đĩa đơn tiếng Nhật thứ năm và album ra mắt của họ, Graceful 4.[5][6]
Jaejoong thể hiện ca khúc "Maze" trong đĩa đơn thứ năm và cuối cùng của dự án Trick, "Keyword/Maze".[7] Anh cũng viết nhạc và lời bài "Wasurenaide" (忘れないで lit. Đừng quên) trong đĩa đơn thứ 25 của TVXQ, "Bolero/Kiss the Baby Sky/Wasurenaide".[8][9] Sau đó bài hát được phát hành trong album tiếng Nhật thứ tư của TVXQ, The Secret Code, cùng với một bài hát khác do anh viết, "9095".[10] Cho album tiếng Hàn thứ tư của TVXQ, Mirotic, Kim Jae-joong viết nhạc và lời ca khúc "Don't Cry My Lover" (사랑아 울지마).[11]
Tháng 9 năm 2009, anh cùng Micky Yoochun sáng tác và thể hiện ca khúc "Colors (Melody and Harmony)". Đây là bài hát chủ đề của lễ kỉ niệm 35 năm chú mèo Hello Kitty và nằm trong đĩa đơn "Colors (Melody and Harmony) / Shelter" được phát hành ngày 23 tháng 9 năm 2009. Đĩa đơn còn bao gồm ca khúc "Shelter", một sáng tác chung của Kim Jae-joong, Yoochun và Junsu.[12]
Năm 2011, JYJ phát hành EP Their Rooms "Our Story" với các sáng tác của anh, bao gồm "Pierrot", "Nine", và "I.D.S.".
Danh sách phim
[sửa | sửa mã nguồn]Phim truyền hình
[sửa | sửa mã nguồn]| Năm | Tên phim | Vai diễn | Kênh |
|---|---|---|---|
| 2005 | Banjun Drama | SBS | |
| 2006 | Vacation | Bản thân / Chang Shik | |
| 2010 | Hard To Say I Love You | Park Seon-su/Doctor | Fuji TV |
| 2011 | Protect the Boss | Cha Mu-won | SBS |
| 2012 | Dr. Jin | Kim Kyung-tak | MBC |
| 2014 | Triangle | Jang Dong-chul/Heo Young-dal | |
| 2015 | SPY | Kim Seon-woo | KBS2 |
| 2017 | Manhole: Feel so good | Bong Pil | |
| 2024 | Bad Memory Eraser | Lee Goon | MBN |
Phim điện ảnh
[sửa | sửa mã nguồn]| Năm | Tên phim | Vai diễn | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| 2004 | Taegeukgi | Vai phụ | |
| 2009 | Heaven's Postman | Shin Jae-joon | |
| 2012 | Jackal is coming | Choi Hyun | |
| 2021 | Jaejoong: On the Road | Phim tài liệu[13] |
Lồng tiếng
[sửa | sửa mã nguồn]| Năm | Tên phim | Vai trò | Nhà đài |
|---|---|---|---|
| 2013 | The Zoo Is Alive 2 | Người dẫn truyện[14] | MBC |
Danh sách đĩa nhạc
[sửa | sửa mã nguồn]Album phòng thu
[sửa | sửa mã nguồn]| Tên | Chi tiết | Thứ hạng cao nhất | Tiêu thụ | |||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| KOR | JPN | US World | ||||||||
| Tiếng Hàn | ||||||||||
| WWW |
|
1 | 4 | — | ||||||
| No.X |
|
1 | 8 | 3 | ||||||
| Born Gene |
|
5 | 13 | — | ||||||
| Flower Garden |
|
7 | 13 | — | ||||||
| Tiếng Nhật | ||||||||||
| Flawless Love |
|
— | 1 | — | ||||||
| Love Covers |
|
— | 1 | — |
| |||||
| Love Covers II |
|
— | 1 | — | ||||||
| Fallinbow |
|
— | 2 | — |
| |||||
| Love Covers III |
|
— | 4 | — |
| |||||
| "—" cho biết album không lọt vào bảng xếp hạng hoặc không được phát hành ở khu vực này. | ||||||||||
Đĩa mở rộng
[sửa | sửa mã nguồn]| Tên | Chi tiết | Thứ hạng cao nhất | Tiêu thụ | ||
|---|---|---|---|---|---|
| KOR | JPN | US World | |||
| Tiếng Hàn | |||||
| I |
|
1 | 8 | 2 | |
| Love Song |
|
1 | 9 | — | |
| Beauty in Chaos |
|
13 | 23 | — | |
| Tiếng Nhật | |||||
| Rhapsody |
|
— | 1 | — |
Nhật: 17,237 vật lý[34] |
Giải thưởng và đề cử
[sửa | sửa mã nguồn]| Giải thưởng | Năm | Hạng mục | Đề cử | Kết quả | TK |
|---|---|---|---|---|---|
| Asia Artist Awards | 2023 | Top of K-pop Record Award | Kim Jae-joong | Đoạt giải | [35] |
| Best Choice Award | Đoạt giải | ||||
| Asian Film Awards | 2019 | Next Generation Star Award | Đoạt giải | [36] | |
| BIFF — Asia Contents Awards | 2019 | Excellence Award | Đoạt giải | [37] | |
| Golden Disc Awards | 2017 | Asia Popularity Award | Đoạt giải | [38] | |
| Japan Gold Disc Award | 2020 | Best 3 Albums (Asia) | Love Covers | Đoạt giải | [39] |
| Japan Record Awards | 2019 | Planning Award | Đoạt giải | [40] | |
| KBS Entertainment Awards | 2025 | Excellence Award (Reality) | Stars' Top Recipe at Fun-Staurant | Đoạt giải | [41] |
| Korea Drama Awards | 2012 | Excellence Award, Actor | Dr. Jin | Đề cử | |
| 2014 | Top Excellence Award, Actor | Triangle | Đoạt giải | [42] | |
| MBC Drama Awards | 2012 | Best New Actor | Dr. Jin | Đoạt giải | [43] |
| 2014 | Best Actor in a Special Project Drama | Triangle | Đề cử | ||
| Nikkan Sports Drama Grand Prix | 2010 | Best Supporting Actor for Spring Season | Sunao ni Narenakute | Đoạt giải | [44] |
| Philippine K-pop Awards | 2010 | Hottest Male Idol | Kim Jae-joong | Đoạt giải | [45] |
| 2011 | Hottest Male Artist | Đoạt giải | [46] | ||
| 2012 | Đoạt giải | [47] | |||
| SBS Drama Awards | 2011 | New Star Award | Protect the Boss | Đoạt giải | [48] |
| Seoul International Drama Awards | 2013 | Best Hallyu Drama OST Award | "Living Like A Dream" | Đoạt giải | [49] |
| Shorty Awards | 2011 | Best Celebrity on Twitter | Kim Jae-joong | Đoạt giải | [50] |
| V Chart Awards | 2017 | Best Male Artist | Đoạt giải | [51] |
Đời tư
[sửa | sửa mã nguồn]Thân thế
[sửa | sửa mã nguồn]Vào ngày 21 tháng 11 năm 2006, một người đàn ông mang họ Han đã nộp đơn khởi kiện những người giám hộ hợp pháp của Jaejoong. Ông cho rằng mình là cha ruột của anh, do đó yêu cầu pháp luật trao cho mình quyền làm cha,[52] đồng thời cho biết lý do khởi kiện người giám hộ hợp pháp của Jaejoong là vì họ "không thực hiện đúng trình tự, thủ tục pháp lý theo quy định trước khi đăng ký quyền giám hộ".[53] Phiên điều trần đầu tiên dự kiến diễn ra tại Gongju vào ngày 29 tháng 11 năm 2006, nhưng đến ngày 22 tháng 11, ông Han đã rút đơn khởi kiện.[54]
Để làm rõ mọi chuyện, Jaejoong đã đăng tải một bài viết chia sẻ rằng anh đã được người mẹ hiện tại cho biết về sự tồn tại của cha mẹ ruột cách đây khoảng hai, ba năm, và thông tin này đã khiến anh rất sốc. Với sự giúp đỡ của mẹ nuôi, mẹ ruột của Jaejoong vẫn có thể giữ liên lạc và thỉnh thoảng gặp mặt anh, còn cha ruột thì không rõ tung tích. Jaejoong cũng bày tỏ mong muốn chỉ sử dụng cái tên "Kim Jae-joong" do cha nuôi đặt cho, thay vì tên khai sinh "Han Jae-joon".[55]
Bị thương
[sửa | sửa mã nguồn]Tháng 9 năm 2005, trong khi điều chỉnh vũ đạo cho "Rising Sun", Kim Jae-joong bị vỡ sụn đầu gối và được đưa tới một bệnh viện ở Seoul.[56] Anh được phẫu thuật trong ngày hôm đó để điều trị vết thương.[57]
Bị treo bằng lái xe
[sửa | sửa mã nguồn]Ngày 7 tháng 4 năm 2006, lúc 01:20 sáng, Kim Jae-joong bị cảnh sát giữ lại trên chiếc BMW của một người quen khi đang về nhà từ Khách sạn Renaissance. Qua kiểm tra, nồng độ cồn trong hơi thở của anh được tiết lộ là 0.071%. Sau khi bị giữ tại đồn cảnh sát 20 phút, anh được thả. Do vi phạm luật giao thông, say rượu trong khi điều khiển ô tô, Kim Jae-joong bị đình chỉ tạm thời mọi hoạt động với TVXQ và bị treo bằng lái xe 100 ngày.[58]
Vụ kiện SM Entertainment
[sửa | sửa mã nguồn]Cuối tháng 7 năm 2009, Kim Jae-joong cùng hai thành viên của TVXQ: Micky Yoochun, và Xiah Junsu— cùng ký vào đơn kiện gửi lên toà án Seoul để phá vỡ hiệu lực của bản hợp đồng giữa họ với SM Entertainment.[59] Qua luật sư, các thành viên chỉ ra rằng, hợp đồng 13 năm thực sự quá dài và tiền thù lao nhóm được hưởng quá ít so với công sức họ bỏ ra.[60] Nếu thua kiện, theo hợp đồng, đơn phương phá bỏ hợp đồng trước thời hạn, nhóm sẽ phải đền bù gấp 3 lần số lợi nhuận dự kiến thu được từ nhóm cho phần còn lại của hợp đồng, ước tính khoảng hơn 100 tỉ won (100 triệu đô la).[61] Vụ kiện khiến cổ phiếu của SM Entertainment giảm xuống 30% trên sàn KOSPI.[62]
Toà án Trung tâm quận Seoul đưa ra phán quyết cuối cùng nghiêng về phía Kim Jae-joong, Junsu và Yoochun. Toà cũng chỉ ra rằng bản hợp đồng thiếu công bằng và các thành viên không được hưởng lợi nhuận xứng đáng với công sức bỏ ra.[63][64] Trong quá trình vụ việc còn diễn biến phức tạp, 3 thành viên đã được chấp nhận tạm hoãn hợp đồng với SM và tách ra hoạt động riêng lẻ.
Nghĩa vụ quân sự
[sửa | sửa mã nguồn]Jaejoong chính thức nhập ngũ vào ngày 31 tháng 3 năm 2015 và đã xuất ngũ vào ngày 31 tháng 12 năm 2016.[65]
Trò đùa ngày cá tháng 4 gây tranh cãi
[sửa | sửa mã nguồn]Vào ngày 1 tháng 4 năm 2020, trong thời gian Đại dịch COVID-19, Jaejoong chia sẻ trên Instagram rằng mình đã dương tính với COVID-19.[66] Một giờ sau, anh đăng bài xin lỗi, thừa nhận rằng thông tin được đăng tải trước đó là sai sự thật,[67] sau đó giải thích rằng mục đích của bài đăng ban đầu là nhằm nâng cao nhận thức về mức độ nguy hiểm của virus.[68]
Theo lời ông Yoon Tae-ho – người đứng đầu Trụ sở an toàn và phòng chống thiên tai: "Trường hợp cung cấp sai thông tin cho chính phủ hoặc cơ quan dịch tễ sẽ bị xử phạt theo luật về phòng chống và quản lý bệnh truyền nhiễm. Tuy nhiên, trường hợp này không vi phạm cả hai điều trên". Do đó, sẽ là rất khó để luận tội lời nói (bị cho là) trêu đùa này của anh bởi chúng mang đầy đủ những khuyến cáo, thông tin đúng về Corona.[69][70]
Chú thích
[sửa | sửa mã nguồn]- ↑ 재중에게 자랑스런 엄마로 남고 싶어요. Sports Hankooki (bằng tiếng Hàn). ngày 9 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 22 tháng 9 năm 2012.
- ↑ '나는 알바생이었다' 스타들의 색다른 과거. Daum News (bằng tiếng Hàn). ngày 2 tháng 6 năm 2011.
- ↑ (bằng tiếng Hàn Quốc) "TVXQ singers of the popular nuclear blast". ngày 13 tháng 5 năm 2004. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2009.
- ↑ (bằng tiếng Hàn Quốc) "TVXQ's Hero "Solo" Affair". Hankook Ilbo. ngày 30 tháng 1 năm 2006. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2009.
- ↑ (bằng tiếng Hàn Quốc) "The Grace's Japanese Single Goes Public". Newsen. ngày 7 tháng 8 năm 2007. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2009.
- ↑ (bằng tiếng Hàn Quốc) "The Grace's Simultaneous Release In 14 Days". Inews. ngày 13 tháng 11 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2009.
- ↑ (bằng tiếng Nhật) "Keyword/Maze (JEJUNG from TVXQ)". Yahoo! Music Japan. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 3 năm 2008. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2009.
- ↑ (bằng tiếng Nhật) "TVXQ, movie - Subaru - recording new album's theme". Barks. ngày 22 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2009.
- ↑ (bằng tiếng Hàn Quốc) "TVXQ, Japan 25th Single 'Bolero' released on the 29th". Joins!. ngày 29 tháng 1 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2009.
- ↑ "東方神起『ヒット曲も収録した濃密で強力なロックアルバム!』" (bằng tiếng Nhật). Oricon. ngày 1 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2009.
- ↑ "Hero-Micky "Shows off musical skills"" (bằng tiếng Hàn). ETO. ngày 10 tháng 11 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2009.
- ↑ (bằng tiếng Hàn Quốc) "Hero Jaejoong and Micky Yoochun to participate in M-flo's album". Yonhap News. ngày 5 tháng 8 năm 2009. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2009.
- ↑ Son Jeong-bin (ngày 15 tháng 7 năm 2021). 김재중이 걸어온 길...다큐 '온 더 로드' CGV 단독 개봉 [Hành trình của Kim Jaejoong... Phim tài liệu On the Road do CGV phát hành độc quyền]. Newsis (bằng tiếng Hàn). Naver. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2021.
- ↑ ""JYJ singer brings voice to nature doc"".
- 1 2 "Gaon Chart – 2013". Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2016.
- ↑ "Gaon Chart – 2014". Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2016.
- 1 2 "Oricon Monthly Albums Ranking: January 2013". Oricon (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2016.
- ↑ "Gaon Album Chart – Half Year 2016". Gaon Chart (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2016.
- ↑ No.X sales:
- "오리콘 위클리 싱글/앨범/DVD/블루레이 차트 1~100위 (February week 3, 2016)". Oricon (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2016.
- "오리콘 위클리 싱글/앨범/DVD/블루레이 차트 1~100위 (February week 4, 2016)". Oricon (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2016.
- ↑ "Circle Album Chart – Week 38, 2022". Circle Chart (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 9 năm 2022. Truy cập ngày 22 tháng 9 năm 2022.
- ↑ オリコン週間 アルバムランキング 2022年09月12日~2022年09月18日 [Oricon Weekly Album Ranking September 12, 2022 – September 18, 2022] (bằng tiếng Nhật). Oricon. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 9 năm 2022. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2022.
- ↑ Tổng doanh số của Flower Garden:
- "Circle Album Chart – Week 26, 2024". Circle Chart (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 7 năm 2024. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2024.
- "Circle Album Chart – Week 27, 2024". Circle Chart (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 7 năm 2024. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2024.
- ↑ オリコン週間 アルバムランキング 2024年07月01日~2024年07月07日 [Oricon Weekly Album Ranking July 1, 2024 – July 7, 2024] (bằng tiếng Nhật). Oricon. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 7 năm 2024. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2024.
- ↑ 週間 CDアルバムランキング 2019年10月07日付 [Weekly CD Album Ranking on October 7, 2019] (bằng tiếng Nhật). Oricon. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 10 năm 2019. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2019.
- ↑ "【ビルボード】ジェジュン『Love Covers II』が48,082枚でALセールス首位 ヨルシカ『盗作』は2位に - Daily News". Billboard JAPAN (bằng tiếng Nhật). ngày 3 tháng 8 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2020.
- ↑ "ジェジュン、カバーアルバム第2弾が通算3作目の1位に【オリコンランキング】". ORICON NEWS (bằng tiếng Nhật). ngày 4 tháng 8 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2020.
- ↑ "オリコン週間 アルバムランキング – 2022年11月21日付" [Oricon Week Album Ranking – November 21, 2022] (bằng tiếng Nhật). Oricon. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2026.
- ↑ "オリコン週間 アルバムランキング – 2023年11月13日付" [Oricon Week Album Ranking – November 13, 2023] (bằng tiếng Nhật). Oricon. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2026.
- ↑ "Oricon Weekly Albums Ranking". Oricon (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2016.
- ↑ 2020년 1월 Album Chart [January 2020 Album Chart]. Gaon Music Chart (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2020.
- ↑ 週間 CDアルバムランキング 2020年01月27日付 [Weekly CD Album Ranking on January 27, 2020] (bằng tiếng Nhật). Oricon. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2020.
- ↑ "Circle Album Chart – Week 21 of 2025". Circle Chart (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2025.
- ↑ オリコン週間 アルバムランキング 2025年05月19日~2025年05月25日 [Oricon Weekly Album Ranking May 19, 2025 – May 25, 2025] (bằng tiếng Nhật). Oricon. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2025.
- ↑ オリコン週間 アルバムランキング 2025年10月13日~2025年10月19日 [Oricon Weekly Album Ranking October 13, 2025 – October 19, 2025] (bằng tiếng Nhật). Oricon. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 10 năm 2025. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2025.
- ↑ Tugonon, Christian (ngày 19 tháng 12 năm 2023). "Complete AAA winners list: Asia's top artists in 2023". SunStar (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 12 năm 2023. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2024.
- ↑ "【亞洲電影大獎紅氈】金在中愛拍動作戲 朴敘俊想同型男郭富城合作" (bằng tiếng Trung). Yahoo! Hong Kong. Sing Tao Daily. ngày 17 tháng 3 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2020.
- ↑ "[BIFF Press Release] Winners of the Asia Contents Awards of the Asian Film Market 2019 Announced". Busan International Film Festival. ngày 6 tháng 10 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 10 năm 2019. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2020.
- ↑ "History". Golden Disc Awards (bằng tiếng Hàn). Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2020.
- ↑ "Best 3 Albums". Japan Gold Disc Award (bằng tiếng Nhật). Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2020.
- ↑ "第61回 日本レコード大賞 各賞発表". Tokyo Broadcasting System Television (bằng tiếng Nhật). Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2020.
- ↑ Grover, Ashima (ngày 21 tháng 12 năm 2025). "2025 KBS Entertainment Awards winners: Park Bo Gum crowned Entertainer of the Year; Daesang goes to…". The Financial Express. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2025.
- ↑ "Kim Soo-hyun wins at drama festival". Korea JoongAng Daily. ngày 3 tháng 10 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2017.
- ↑ "JYJ's Kim Jae Joong Receives Another Rookie Award at the 'MBC Drama Awards'". enewsWorld. ngày 31 tháng 12 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2017.
- ↑ ジェジュン断トツ助演男優、日刊ドラマGP. Nikkan Sports (bằng tiếng Nhật). Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2012.
- ↑ Villano, Alexa (ngày 1 tháng 1 năm 2011). "A K-Pop convention like no other". The Philippine Star. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2022.
- ↑ "Thousands gather for the 3rd Philippine K-Pop convention". Yahoo! News Philippines (bằng tiếng Anh). ngày 1 tháng 1 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2022.
- ↑ "The Fourth Annual Kpop Convention". Manila Korean Times. ngày 3 tháng 1 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 7 năm 2015.
- ↑ "JYJ 재중-유천 방송3사 '신인상 싹쓸이' 연기돌 진화". Newsen. ngày 1 tháng 1 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2020.
- ↑ "Seoul to host global TV drama festival next month". The Korea Times. ngày 29 tháng 8 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2017.
- ↑ "Kim Jae-joong beats Justin Bieber at Shorty Awards". Korea JoongAng Daily. ngày 29 tháng 2 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2017.
- ↑ "K-pop artists win big at 'Yin Yue Tai V-Chart Awards'". The Korea Herald. ngày 9 tháng 4 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2017.
- ↑ Yoo Sang-woo (ngày 21 tháng 1 năm 2006). "악재 겹친 '동방신기', 비상". Daum (bằng tiếng Hàn). Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 11 năm 2007. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2007.
- ↑ Kim Sang-ho (ngày 22 tháng 11 năm 2006). 동방신기 영웅재중, 친자 확인 소송. The Hankyoreh (bằng tiếng Hàn). Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 22 tháng 9 năm 2012.
- ↑ Ryoo Chul-ho (ngày 23 tháng 11 năm 2006). <속보>영웅재중 생부 가족, "재중이 위해 소송취하하겠다". Daum (bằng tiếng Hàn). Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 11 năm 2007. Truy cập ngày 22 tháng 9 năm 2012.
- ↑ Kang Su-jin (ngày 22 tháng 11 năm 2006). 영웅재중 "난 김재중으로 살고파". Daum (bằng tiếng Hàn). Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 11 năm 2007. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2007.
- ↑ (bằng tiếng Hàn Quốc) "TVXQ Hero Cartilage Rupture, Surgery, 8 Days". ngày 8 tháng 9 năm 2005. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2009.
- ↑ (bằng tiếng Hàn Quốc) "'Knee Cartilage Rupture' Hero, The Operation Successfully Finished". ngày 9 tháng 9 năm 2005. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2009.
- ↑ (bằng tiếng Hàn Quốc) "동방신기 영웅재중 음주운전…100일 면허정지 TVXQ Hero drunk driving... 100 days license suspension". ngày 7 tháng 4 năm 2006. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2009.[liên kết hỏng]
- ↑ "TVXQ Feuds With SM Entertainment". The Korea Time. ngày 2 tháng 8 năm 2009. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2009.
- ↑ "TVXQ to Stick Together Despite Legal Dispute". The Korea Times. ngày 3 tháng 8 năm 2009. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2009.
- ↑ Yahoo.co.kr Lưu trữ ngày 14 tháng 6 năm 2011 tại Wayback Machine. Truy cập 26 tháng 8 năm 2009
- ↑ Thomson Reuters. Korea Hot Stocks - Hankook Tire, S.M. Ent, Ssangyong Motor. Forbes.com. 3 tháng 8 năm 2009. Truy cập 3 tháng 8 năm 2009.
- ↑ "Will TVXQ Stay Together?". KBS World. ngày 28 tháng 10 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2009.
- ↑ "SM Entertainment Calls the TVXQ Suit a Big Fraud". KBS World. ngày 2 tháng 11 năm 2009. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2009.[liên kết hỏng]
- ↑ "C-JeS Official Site Update in regards to Kim Jaejoong's enlistment | jyj3.net". Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2015.
- ↑ "It's April Fools' Day, So a K-Pop Star Pulled a Coronavirus Prank". The New York Times. ngày 1 tháng 3 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2020.
- ↑ "K-Pop star sorry for coronavirus April fool's joke". BBC News (bằng tiếng Hàn). ngày 1 tháng 3 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2020.
- ↑ "Jaejoong Apologizes After April Fools' Day Coronavirus Diagnosis Prank Leaves Fans Outraged". People. ngày 1 tháng 3 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2020.
- ↑ "Update: Ministry Of Health And Welfare Official Discusses Difficulty Of Punishing Kim Jaejoong For Falsely Announcing COVID-19 Diagnosis". Soompi. ngày 2 tháng 4 năm 2020.
- ↑ ""코로나 걸렸다" 거짓말한 가수 김재중…중대본 "처벌 어려워"". Naver (bằng tiếng Hàn). ngày 2 tháng 4 năm 2020.
Liên kết ngoài
[sửa | sửa mã nguồn]- Kim Jae-joong trên Twitter/X
- Kim Jae-joong trên Instagram