Nhân vật trong Ỷ Thiên Đồ Long ký

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Ỷ Thiên Đồ Long ký là bộ tiểu thuyết nằm trong Xạ điêu tam bộ khúc của Kim Dung, phần tiếp theo của Anh hùng xạ điêuThần điêu hiệp lữ, trong truyện có nhiều nhân vật mang tiểu sử riêng.

Trương Vô Kỵ[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Trương Vô Kỵ

Thành Côn[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Thành Côn

Phái Võ Đang[sửa | sửa mã nguồn]

Trương Tam Phong[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Trương Tam Phong

Tống Viễn Kiều[sửa | sửa mã nguồn]

Đại đệ tử của Trương Tam Phong và cao tuổi nhất, vì Trương Tam Phong nhiều tuổi, Tống Viễn Kiều là người đại diện phái Võ Đang toàn quyền điều hành và xử lý công việc. Ông chỉ có một người con trai bảo bối là Tống Thanh Thư, chiều chuộng rất mực. Nhưng vì say đắm vẻ đẹp của Chu Chỉ Nhược mà Tống Thanh Thư phản lại Võ Đang, giết sư thúc Mạc Thanh Cốc và có mưu đồ hạ độc vào đồ ăn thức uống để hại phái Võ Đang và Trương Tam Phong. Ông được Trương Tam Phong truyền chức chưởng môn, sau bị cách chức vì tội không giáo dục được con.

Du Liên Châu[sửa | sửa mã nguồn]

Nhị đệ tử của Trương Tam Phong. Du Liên Châu là người thâm trầm, ít nói, hiền lành lại thông minh nhưng cẩn thận và hành xử rất có chừng mực. Du Liên Châu được coi là có võ công cao cường nhất trong 7 đệ tử, thậm chí hơn cả Tống Viễn Kiều. Sau này ông được Trương Tam Phong truyền chức chưởng môn đời thứ hai.

Du Đại Nham[sửa | sửa mã nguồn]

Tam đệ tử của Trương Tam Phong. Trong một biến cố bất ngờ, Du Đại Nham bắt gặp Đồ Long đao nhưng bị trúng ám khí. Ân Tố Tố đã trả tiền nhờ Long Môn tiêu cục của Đô Đại Cẩm để đưa Du Đại Nham về Võ Đang sơn trong vòng 10 ngày (nếu sai lệnh thì cả tiêu cục sẽ chết hết). Đô Đại Cẩm đã thực hiện đúng mọi thứ ngoại trừ việc giao nhầm Du Đại Nham cho sáu kẻ thuộc hạ của Sát Hãn Nhữ Dương Vương đang tìm kiếm tung tích của Đồ Long đao. Du Đại Nham đã chịu Đại Lực Kim Cương Chỉ và tàn phế, sau này được Trương Vô Kỵ dùng Hắc ngọc đoạn tục cao do Triệu Mẫn đưa để trị bệnh.

Trương Tùng Khê (Trương Tòng Khê)[sửa | sửa mã nguồn]

Tứ đệ tử của Trương Tam Phong. Là người thông minh, đa mưu túc trí luôn được Trương Tam Phong hỏi ý kiến mỗi khi có những việc lớn cần sự tư vấn.

Trương Thúy Sơn[sửa | sửa mã nguồn]

Ngũ đệ tử của Trương Tam Phong và cũng là cha của Trương Vô Kỵ, có biệt danh là Ngân câu Thiết hoạch. Trương Thúy Sơn là người hợp ý nhất với Trương Tam Phong vì ngộ tính cao và tài hoa. Trương Thúy Sơn lấy Ân Tố Tố, con gái của ‘’Bạch Mi Ưng Vương’’ Ân Thiên Chính, sau đó cả hai cùng Tạ Tốn bị trôi dạt đến Băng Hỏa đảo. Sau khi trở lại Trung thổ sau 10 năm xa cách, Trương Thúy Sơn và vợ đã tự vẫn, phần vì cảm thấy có lỗi với Du Đại Nham, và cũng để bảo vệ tung tích của nghĩa huynh Tạ Tốn trước sức ép của Lục đại phái.

Ân Lê Đình[sửa | sửa mã nguồn]

Ân Lê Đình (bản dịch cũ: Hân Lợi Hanh) là đệ tử thứ sáu của Trương Tam Phong, là người được cho là thân thiết nhất với Trương Thúy Sơn. Ân Lê Đình là người giàu tình cảm, si tình, ban đầu yêu Kỷ Hiểu Phù phái Nga My. Ân Lê Đình ôm trong lòng mối tình với Kỷ Hiểu Phù sau khi cô chết và thù hận Dương Tiêu cũng như Minh giáo vì cho rằng Dương Tiêu đã giết Kỷ Hiểu Phù. Sau cuộc chiến trên Quang Minh đỉnh, Ân Lê Đình đau khổ biết rằng Kỷ Hiểu Phù không yêu mình trái lại đã yêu và có con với Dương Tiêu. Tủi phận, buồn rầu chàng bỏ xuống núi và bị các thuộc hạ của Triệu Mẫn dùng Đại lực Kim cương chỉ đánh gãy chân tay giống như Du Đại Nham. Sau này, nhờ có Trương Vô Kỵ dùng Hắc ngọc đoạn tục cao của Triệu Mẫn tặng, Ân Lê Đình đã khôi phục sức khỏe và võ công, đồng thời lại yêu và lấy con gái của Dương Tiêu và Kỷ Hiểu Phù là Dương Bất Hối (vừa mới lấy nhau thì Dương Bất Hối đã có thai).

Mạc Thanh Cốc[sửa | sửa mã nguồn]

Là đệ tử cuối cùng của Trương Tam Phong, trẻ tuổi nhất và tính tình ngay thẳng, có phần nóng nảy. Mạc Thanh Cốc chứng kiến Tống Thanh Thư nhòm trộm các nữ đệ tử phái Nga My nên đã định trừng phạt nhưng đã bị Tống Thanh Thư cùng với sự trợ giúp của Trần Hữu Lượng giết chết.

Tống Thanh Thư[sửa | sửa mã nguồn]

Tống Thanh Thư là con trai của Tống Viễn Kiều, người được Trương Tam Phong chọn là chưởng môn đời thứ 3 và truyền thụ võ công, khôi ngô tuấn tú, võ công cao cường nhưng lại có kết cục cay đắng. Với bản tính nông nổi, nóng vội, Tống Thanh Thư đã giết chết sư thúc mình là Mạc Thanh Cốc qua lời khiêu khích của Trần Hữu Lượng. Bất đắc dĩ phải gia nhập Cái Bang và Nga My, Tống Thanh Thư bị mọi người xem thường, khinh rẻ, gọi là gian nhân. Chu Chỉ Nhược tuy lấy Tống Thanh Thư làm chồng nhưng vẫn yêu Trương Vô Kỵ, không quan tâm đến Thanh Thư mà chỉ lợi dụng Thanh Thư để vãn hồi tình cảm với Vô Kỵ. Kết cục của Tống Thanh Thư là bị tàn phế, sau bị Trương Tam Phong một chưởng đánh chết.

Minh Giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Dương Đính Thiên[sửa | sửa mã nguồn]

Là giáo chủ đời thứ 33 của Minh Giáo, luyện tuyệt kĩ Càn khôn đại na di đến được tầng thứ 4, ông đánh bại cả ba đại sư chữ Độ của Thiếu Lâm và rất nhiều người khác. Vợ ông có tư tình với Thành Côn, ông chết do bị tẩu hỏa nhập ma khi đang luyện công vì phát hiện vợ mình và Thành Côn gian díu trong đường hầm bí mật trên Quang Minh đỉnh.

Dương Tiêu[sửa | sửa mã nguồn]

Dương Tiêu là Quang Minh Tả sứ của Minh Giáo, một trong những nhân vật quan trọng nhất của Minh Giáo, trong Minh giáo chỉ xếp sau Dương Đính Thiên, ngang hàng cùng Quang Minh Hữu sứ Phạm Dao. Dương Tiêu có một mối tình với Kỷ Hiểu Phù, nữ đệ tử yêu quý của Diệt Tuyệt sư thái phái Nga My.

Dương Tiêu đã cưỡng bức Kỷ Hiểu Phù, nhưng cô không những không oán hận Dương Tiêu mà thậm chí còn đem lòng yêu. Hiểu Phù mang thai và sinh ra một cô con gái đặt tên là Dương Bất Hối, ý muốn nói là Hiểu Phù không bao giờ hối hận khi yêu Dương Tiêu. Chính tà bất lưỡng lập, chỉ vì không chịu nghe lời sư phụ đi giết Dương Tiêu, Hiểu Phù đã chấp nhận chọn cái chết do chính sư phụ của mình ra tay. Trước lúc chết, cô đã kịp nhờ Trương Vô Kỵ đưa Bất Hối trốn đi tìm cha (tức Dương Tiêu). Trải qua bao sóng gió, cuối cùng Vô Kỵ cũng đưa được Bất Hối đến gặp cha mình. Dương Tiêu ngay khi nghe tin Hiểu Phù chết, đồng thời biết tên của con gái mang một tình yêu không ân hận của Kỷ Hiểu Phù dành cho mình, đã đau khổ tột độ. Ngay sau đó Dương Tiêu nuôi dạy Bất Hối khôn lớn tại Minh Giáo, sau này Bất Hối đã lấy Ân Lê Đình, đệ tử thứ sáu của Trương Tam Phong phái Võ Đang.

Dương Tiêu tinh thông khá nhiều võ công các môn phái, võ học uyên bác. Dương Tiêu còn học được đến tầng thứ hai của tuyệt kỹ Càn khôn đại na di, thần công hộ giáo của Minh Giáo. Thời trẻ ông được mô tả trong Ỷ Thiên Đồ Long ký là một mỹ nam đào hoa, thích phiêu diêu tự tại. Về trung niên thì trầm tĩnh hơn, chỉ chú tâm khôi phục, đóng góp cho Minh giáo và chăm lo Dương Bất Hối.

Phạm Dao[sửa | sửa mã nguồn]

Phạm Dao là Quang Minh hữu sứ, một trong hai sứ giả của Minh giáo cùng với Quang Minh tả sứ Dương Tiêu. Trong Minh giáo, chức danh Quang Minh tả hữu sứ chỉ xếp sau giáo chủ Dương Đính Thiên.

Thời còn trẻ Phạm Dao và Dương Tiêu còn được gọi là "Tiêu Dao nhị tiên" do dung mạo hai người anh tuấn tiêu sái.

Về trung niên, sau khi giáo chủ Dương Đính Thiên qua đời, Phạm Dao vì muốn tìm ra chân nguyên hung thủ muốn phá hoại Minh Giáo nên đã hủy đi khuôn mặt thanh tú của mình và trà trộn vào Nhữ Dương Vương Phủ lấy tên là "Khổ Đầu Đà" làm thầy dạy võ cho Triệu Mẫn, qua đó cũng đã nhiều lần ra tay trợ giúp Minh Giáo trong việc giữ thanh danh (điển hình là việc quay lưng 18 tượng La hán tại chùa Thiếu Lâm có viết chữ giá họa cho Minh Giáo).

Sau khi Trương Vô Kỵ lên làm giáo chủ Minh Giáo, nhiều lần cứu Lục đại môn phái của võ lâm Trung Nguyên, Phạm Dao đã tương kiến và bộc lộ thân phận thật của mình là Hữu Sứ Giả của Quang Minh đỉnh và về phò tá cho Trương Vô Kỵ.

Về võ công: Phạm Dao tinh thông nhiều võ công trong thiên hạ, được xếp vào hàng cao thủ đương thời, sánh ngang với các cao thủ như Huyền Minh nhị lão.

Kim Hoa bà bà[sửa | sửa mã nguồn]

Kim Hoa bà bà thật ra là Tử Sam Long Vương, người đứng đầu trong Tứ đại hộ giáo Pháp vương của Minh giáo. Bà tên thật là Đại Ỷ Ty, là thánh nữ của Minh giáo Ba Tư, cũng là mẹ của Tiểu Chiêu và là sư phụ của Ân Ly. Bà sang Trung Nguyên để tìm Càn khôn đại na di, võ công thất lạc của Minh giáo Ba Tư.

Bà là một nữ nhân tuyệt sắc, sau này vì Hàn Thiên Diệp mà phản bội Minh giáo và sinh ra Tiểu Chiêu. Bà tuy dung mạo trẻ trung nhưng vì muốn trốn tránh Minh giáo nên luôn đóng giả một bà già với giọng ho đặc trưng. Võ công của bà tựa hồ cao hơn Diệt Tuyệt sư thái nhưng do không có vũ khí đối lại Ỷ Thiên Kiếm nên thành ra thất thế.

Ân Thiên Chính[sửa | sửa mã nguồn]

Bạch Mi Ưng Vương Ân Thiên Chính là người đứng thứ hai trong Tứ đại Pháp vương sau Tử Sam Long Vương, mặc dù tuổi cao nhưng võ công cao cường nên ông là lão tướng duy nhất trong Minh Giáo và sau khi Dương Đính Thiên mất thì phản bội quy củ mà thành lập ra Thiên Ưng Giáo đối đầu với Lục đại môn phái. Bạch Mi Ưng Vương là cha của Ân Tố Tố, ông ngoại của Trương Vô Kỵ.

Võ công của ông không bằng Dương Tiêu, Phạm Dao, Tạ Tốn nhưng cao hơn Vi Nhất Tiếu, Đại Ỷ Ty, Ngũ Tản Nhân với tuyệt kĩ thành danh Ưng trảo công.

Tạ Tốn[sửa | sửa mã nguồn]

Là người đứng thứ ba trong Tứ đại hộ giáo Pháp vương, bẩm sinh râu tóc vàng như râu ngô nên có ngoại hiệu là Kim Mao Sư Vương, tuy chức vụ xếp sau Tả Hữu sứ giả nhưng trong Di thư của Cố giáo chủ Dương Đính Thiên thì ông được đề cử chức vụ Phó giáo chủ.

Bài chi tiết: Tạ Tốn

Vi Nhất Tiếu[sửa | sửa mã nguồn]

Thanh Dực Bức Vương Vi Nhất Tiếu là người thứ tư trong Tứ đại pháp vương của Minh Giáo. Ông là người vô cùng cổ quái và lập dị. Trước khi Trương Vô Kỵ lên làm giáo chủ Minh Giáo thì Vi Nhất Tiếu bị tẩu hỏa nhập ma khi luyện công, do đó khi khai triển nội công đều phải hút máu người sống, nếu không thì sẽ bị lạnh cóng toàn thân và chết (nên hình ảnh của Vi Nhất Tiếu luôn gắn liền với "Con dơi hút máu người"). Sau này nhờ Trương Vô Kỵ dùng Cửu Dương Thần Công chữa trị, nên Vi Nhất Tiếu không còn phải hút máu người sau khi vận nội công nữa. Từ đó Vi Nhất Tiếu đã trở thành một trợ thủ đắc lực cho Trương Vô Kỵ. Nhờ tài khinh công thuộc hàng đệ nhất thiên hạ của mình mà nhiều phen Vi Nhất Tiếu đã giải cứu nhóm người Trương Vô Kỵ khỏi những lúc nguy nan. Ngoài ra, ông còn có võ công Hàn băng miên chưởng.

Ân Dã Vương[sửa | sửa mã nguồn]

Là con trai cả của Bạch Mi Ưng Vương, anh trai Ân Tố Tố, cha Ân Ly và là cậu ruột của Trương Vô Kỵ. Ban đầu ông là Đường chủ Tử Vi Đường của Thiên Ưng Giáo, sau này lên Phó giáo chủ Thiên Ưng Giáo, được võ công chân truyền của cha.

Lý Thiên Viên[sửa | sửa mã nguồn]

Ông là sư đệ của Ân Thiên Chính, sư thúc của Ân Dã Vương, Ân Tố Tố, là Đường chủ Thiên Thị Đường trong Thiên Ưng Giáo, võ công của ông chỉ sau Ân Thiên Chính.

Ân Tố Tố[sửa | sửa mã nguồn]

Là con gái của Ân Thiên Chính, giữ chức đường chủ Thiên Vi Đường chỉ đứng sau cha và anh trai, võ nghệ cao cường, xinh đẹp mưu trí. Nàng chính là người đã tổ chức đại hội trên đảo Vương Bàn Sơn để khoe thanh Đồ Long Đao từ đó gây ra sóng gió giang hồ suốt mấy chục năm sau. Cũng tại đại hội võ lâm đó, nàng gặp lại Trương Thúy Sơn và Tạ Tốn. Cả ba cùng ra đảo Băng Hỏa, nàng kết thân với Trương Ngũ hiệp rồi sinh ra Vô Kỵ.

Sau khi về Trung Nguyên, do chồng mình tự sát để bảo vệ Tạ Tốn, phần vì hối hận năm xưa đã hại Du Đại Nham phái Võ Đang, phần vì bị quần hùng tra xét tung tích Tạ Tốn và Đồ Long Đao nàng đã tự vẫn trước mặt quần hùng và con trai.

Ân Ly[sửa | sửa mã nguồn]

Ân Ly còn có tên gọi khác là Thù Nhi (có bản dịch là Châu Nhi).

Ân Ly là con gái của Ân Dã Vương, cháu nội của Bạch Mi Ưng Vương Ân Thiên Chính. Trương Vô Kỵ gọi thân thiết Ân Ly là biểu muội. Ân Ly từng là một cô gái có khuôn mặt xinh xắn, vóc dáng thon thả. Tính cách Ân Ly khá phức tạp, có phần tà giáo manh động.

Do có thù với cha ruột có mới nới cũ, Ân Ly đã hạ sát dì ghẻ. Cô luyện môn tà công Thiên Thù Vạn Độc Thủ nên dung mạo bị hủy hoại, khuôn mặt sưng vù, cực kỳ xấu xí (cái tên Thù Nhi cũng từ đây mà có). Cô gặp Trương Vô Kỵ khi cùng Kim Hoa bà bà đến Hồ Điệp Cốc và có cảm tình với Vô Kỵ, sau cũng vì Vô Kỵ mà phản bội sư phụ là Kim Hoa bà bà.

Suốt đời Ân Ly chỉ mang duy nhất hình bóng của Trương Vô Kỵ, nhưng là một thằng bé Vô Kỵ năm xưa đã hắt hủi, chửi mắng, cắn vào tay cô, chứ không phải chàng trai Trương Vô Kỵ hiền lành tốt bụng mà sau này Ân Ly đã nhận ra.

Dương Bất Hối[sửa | sửa mã nguồn]

Dương Bất Hối là nữ nhân vật có cá tính, mạnh mẽ, dám nghĩ dám làm, dám yêu dám hận. Cô là con gái của Dương Tiêu và Kỷ Hiểu Phù. Chuyện tình cha mẹ cô lắm trắc trở, bị ngăn cấm rất nhiều, tuy vậy cô vẫn được sinh ra và được Hiểu Phù đặt tên là Bất Hối, ý nói mẹ cô đến chết cũng không hối hận vì đã gặp cha cô.

Kỷ Hiểu Phù chết khi Bất Hối còn nhỏ, cô đã được Trương Vô Kỵ dắt đi từ Trung Nguyên sang Tây Vực để tìm cha là Dương Tiêu, sau đó cha con được đoàn tụ, Dương Tiêu đã hết lòng yêu thương và chăm sóc Bất Hối.

Nhiều năm trôi qua, Bất Hối - giờ đã thành thiếu nữ - tình cờ gặp được Ân Lê Đình, người yêu mẹ cô năm xưa nhưng không được đáp lại. Lúc đầu cô muốn thay mẹ bù đắp lại nỗi đau mẹ đã gây ra cho Ân Lê Đình, nhưng dần cô đã yêu ông. Ân Lê Đình cũng nhờ gặp được Bất Hối mà vết thương lòng của ông cũng được hồi phục. Tuy giữa 2 người có sự khác biệt về tuổi tác và hơn nữa cha cô và Ân Lê Đình còn từng là kẻ thù, nhưng nhờ có tình yêu, họ đã vượt qua được tất cả mà đến với nhau.

Ngũ tản nhân[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thuyết Bất Đắc: Còn gọi là "Bố Đại Hòa Thượng". Ông vốn là một vị tăng, vũ khí là bao cà sa Phật dùng để bắt nhốt người. Rất thích ngao du thiên hạ.
  • Chu Điên: Là một người tính tình nóng nảy, ăn nói rất lỗ mãng, rất thích cãi nhau với mọi người, đặc biệt là Dương Tiêu.
  • Lãnh Khiêm: Còn gọi là "Lãnh Diện Tiên Sinh", tính ít nói, mở miệng ra là không nói quá 1 câu. Nhưng làm việc thì rất kỷ luật, chu đáo, sau được Trương Vô Kỵ giao chức chấp pháp trong Minh giáo. Vũ khí là những cây bút nhỏ bằng bạc.
  • Bành Oánh Ngọc: cũng là một hòa thượng. Ông thông minh, nhiều mưu kế như Dương Tiêu.
  • Trương Trung: còn gọi là "Thiết quan Đạo nhân".

Ngũ Hành Kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nhuệ Kim Kỳ: Chưởng kỳ sứ là Trang Tranh, bị chết vì Ỷ Thiên kiếm, Phó kỳ sứ là Ngô Kình Thảo. Nhuệ Kim Kỳ có tài rèn đúc vũ khí (sau này đã rèn lại Đồ Long đao). Vũ khí thường sử dụng là thương giáo, đao búa, cung tên.
  • Cự Mộc Kỳ: Chưởng kỳ sứ là Văn Thương Tùng. Cự Mộc Kỳ có tài chặt gỗ, xẻ cây, vũ khí sử dụng là những cây gỗ lớn bịt sắt lập thành trận pháp, đánh theo lối "công thành".
  • Hồng Thủy Kỳ: Chưởng kỳ sứ là Đường Dương. Hồng Thủy Kỳ thiên về sử dụng nước, lúc lâm địch thì phun nước có pha chất độc.
  • Liệt Hỏa Kỳ: Chưởng kỳ sứ là Tân Nhiên. Liệt Hỏa Kỳ chuyên về sử dụng lửa, thường mang theo dầu lửa, lưu hoàng hỏa thạch, các chất dễ cháy để tấn công kẻ địch.
  • Hậu Thổ Kỳ: Chưởng kỳ sứ là Nhan Viên, là người có thần lực nhất trong đám giáo chúng. Hậu Thổ Kỳ có tài đào hầm lấp đất, thuật độn thổ không ai sánh kịp.

Thánh Giáo Ba Tư[sửa | sửa mã nguồn]

Đại Ỷ Ty[sửa | sửa mã nguồn]

Là Tử Sam Long Vương của Minh Giáo, còn gọi là Kim Hoa bà bà, đến Trung Nguyên để tìm tuyệt kỹ Càn Khôn Đại Na Di. Sau yêu Hàn Thiên Diệp và hai người cùng ra sống ở Linh Xà đảo rồi sinh ra Tiểu Chiêu.

Tiểu Chiêu[sửa | sửa mã nguồn]

Tiểu Chiêu (chữ Hán: 小昭; bính âm: xiăo zhào) là con gái của Tử Sam Long Vương Đại Ỷ Ty (Trong bản dịch cũ, Nguyễn Duy Chính dịch tên là Tiểu Siêu).

Tiểu Chiêu xuất hiện trong truyện là một cô gái mới 15 tuổi, nhưng đã tiềm ẩn nét đẹp của một mỹ nhân, như một bông hoa mới chớm nở, cô cũng có những nét đẹp riêng của con gái Ba Tư (da trắng, mũi cao, mắt xanh biếc) được di truyền từ mẹ. Cô được mẹ là Kim Hoa bà bà cài vào Minh giáo, giả trang làm một tỳ nữ xấu xí của Dương Bất Hối nhằm tìm kiếm võ công thất lạc Càn Khôn Đại Na Di.

Tại đây Tiểu Chiêu đã gặp Trương Vô Kỵ, và cảm động trước sự bảo bọc chân thành của Vô Kỵ, cô đã có cảm tình với chàng. Tình yêu của cô đối với Vô Kỵ lặng lẽ, trong sáng, chân thành, vô tư, không bao giờ ghen tuông hay tỏ ra giận hờn.

Tiểu Chiêu còn là một cô gái rất thông minh, nhanh nhạy, kiến thức võ học khá uyên thâm và rất có bản lĩnh. Cô đã từng đứng ra cứu nguy cho các đại cao thủ Minh Giáo (lúc đó bị trúng độc) khỏi cuộc ám sát của quân đội Nhữ Dương Vương, và nhiều lần sát cánh cùng Trương Vô Kỵ vượt qua nhiều tình huống khó khăn nan giải.

Tuy nhiên, số phận của Tiểu Chiêu lại khiến cho người ta cảm thấy bùi ngùi, thương cảm. Là một cô gái còn nhỏ nhưng đã phải lặn lội giang hồ, chịu nhiều khổ cực, vừa có mối tình đầu đời với Trương Vô Kỵ đã phải sớm lìa xa chàng, phải trở về Ba Tư thay mẹ làm Thánh nữ, đến cái nguyện vọng nhỏ nhoi với Trương Vô Kỵ "suốt đời tiểu muội nguyện làm con hầu cho Giáo chủ ca ca" cũng đã không thành. Tiểu Chiêu là một hình mẫu của một cô gái vừa thông minh xinh đẹp, vừa hiền dịu đảm đang nhưng lại có số phận đáng thương.

Nhữ Dương Vương Phủ[sửa | sửa mã nguồn]

Triệu Mẫn[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Triệu Mẫn

Huyền Minh nhị lão[sửa | sửa mã nguồn]

Huyền Minh nhị lão, 1 hắc 1 bạch nổi tiếng với võ công Huyền Minh Thần Chưởng là loại công phu độc tính âm hàn rất lợi hại (chỉ có luyện Cửu Dương chân kinh mới chữa được), rất trung thành với Triệu Mẫn. Hai người được Triệu Mẫn tin tưởng, luôn cho đi theo hộ vệ, và cất giữ thuốc giải Thập Hương Nhuyễn Cân Tán.

Lộc Trượng Khách: Là lão bạch trong Huyền Minh nhị lão, người khá cẩn thận, nhưng có tính mê gái. Vũ khí sử dụng là cây trượng sừng huơu.

Hạc Bút Ông: Lão hắc trong Huyền Minh nhị lão, là người đơn giản, ham rượu thịt nhậu nhẹt. Vũ khí sử dụng là cây thiết bút. Năm xưa chính Hạc Bút Ông là người bắt và đánh Trương Vô Kỵ 1 chưởng âm độc khiến Vô Kỵ dở sống dở chết.

Thần tiễn Bát hùng[sửa | sửa mã nguồn]

Là 8 cao thủ sở trường tiễn pháp, đi theo bảo vệ Triệu Mẫn.

Vương phủ: Nhữ Dương Vương, Thế tử Vương Bảo Bảo, Vương phi...

Phái Kim Cương (bàng phái Thiếu Lâm ở Tây Vực)[sửa | sửa mã nguồn]

Năm xưa tại chùa Thiếu Lâm có 1 tên Hỏa công đầu đà, chuyên lo việc nấu bếp trong chùa, do bị ức hiếp nên đã lén học võ công Thiếu Lâm. Về sau y đánh bại được rất nhiều cao thủ trong chùa. Chủ tọa Đạt Ma Đường là Khổ Trí thiền sư cũng chết dưới bàn tay y. Các cao thủ trong phái Thiếu Lâm tranh chấp đến mức Khổ Tuệ thiền sư phải bỏ chùa sang Tây Vực, lập ra Thiếu Lâm Tây Vực (Phan Thiên Canh, Phương Thiên Lao, Vệ Thiên Vọng là 3 cao thủ của Thiếu Lâm Tây Vực xuất hiện trong phần đầu của bộ truyện)

Còn Hỏa công đầu đà trên cũng chạy sang Tây Vực, lập ra phái Kim Cương môn. Nổi tiếng với võ công Đại Lực Kim Cương Chỉ.

A Đại[sửa | sửa mã nguồn]

A Đại hiệu là "Bát Tí Thần Kiếm Phương Đông Bạch", trước kia là trưởng lão của Cái Bang, nhưng giả chết vì bệnh trốn sang Tây Vực, gia nhập Phái Kim Cương. Y có thân hạc xác ve, mặt nhiều nếp nhăn, vừa gầy vừa cao. Sở trường về kiếm pháp, kiếm thuật tinh kỳ danh vang thiên hạ, nổi tiếng xuất kiếm cực nhanh chẳng khác nào có bảy tám cánh tay. Tại núi Võ Đang, y bị Trương Vô Kỵ dùng Thái cực kiếm đánh bại.

A Nhị[sửa | sửa mã nguồn]

A Nhị là truyền nhân của Hỏa công đầu đà, kẻ năm xưa ở chùa Thiếu Lâm học lén võ công, đả thương vô số tăng lữ trong chùa, sau đó chạy sang Tây Vực lập môn hộ. A Nhị đầu bị hói, người gầy gò, dáng thấp. A Nhị là một dị nhân trong môn phái Kim Cương, vốn có thần lực trời sinh, từ ngoại công biến ngược trở lại thành nội công, đi theo một đường riêng luyện thành một người nội công cực kỳ thâm hậu, tài năng còn hơn xa cả tổ sư hỏa công đầu đà năm xưa. Chính y là chủ mưu đánh Ân Lê Đình bị trọng thương đứt hết gân cốt. Tại núi Võ Đang, y đấu nội lực thua Trương Vô Kỵ và bị trọng thương.

A Tam[sửa | sửa mã nguồn]

A Tam cũng là truyền nhân của Hỏa công đầu đà, học được Đại Lực Kim Cương Chỉ, thân hình rắn chắc, mạnh về quyền. Y từng đánh bại Không Tính Đại Sư (Thiếu Lâm Tự) nổi tiếng với tuyệt kỹ Long Trảo Thủ. A Tam cũng chính là kẻ đánh trọng thương đứt hết gân cốt Du Đại Nham tại núi Võ Đang. Y bị Trương Vô Kỵ dùng Thái cực quyền đánh gãy hết tay chân.

Phái Nga My[sửa | sửa mã nguồn]

Chu Chỉ Nhược[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Chu Chỉ Nhược

Diệt Tuyệt Sư Thái[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Diệt Tuyệt Sư Thái

Kỷ Hiểu Phù[sửa | sửa mã nguồn]

Là ái đồ của Diệt Tuyệt sư Thái, là người có đính ước với Ân Lê Đình lục hiệp phái Võ Đang nhưng thất thân với Tả Sứ Minh giáo Dương Tiêu nên sau đó sinh ra Dương Bất Hối, bị trục xuất sư môn và bị Diệt Tuyệt thanh lý môn hộ tại Hồ Điệp cốc trước mắt cô con gái nhỏ và Trương Vô Kỵ.

Đinh Mẫn Quân[sửa | sửa mã nguồn]

Là sư tỷ của Kỷ Hiểu Phù, tính tình điêu ngoa ác độc, luôn ganh ghét với những đệ tử được Diệt Tuyệt sư thái sủng ái.

Thiếu Lâm Tự[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phương trượng: Khổ Thừa thiền sư, Thiên Minh thiền sư, Không Kiến thần tăng, Không Văn thần tăng.
  • Cao thủ: Khổ Trí, Vô Sắc, Vô Tướng, Giác Viễn, Tâm Thiền Đường thất lão, Độ Ách, Độ Kiếp, Độ Nạn, Không Trí, Không Tính, các hoàng y lão tăng trong Đạt Ma viện...
  • Môn hạ: Viên Âm, Viên Nghiệp, Tuệ Thông, Tuệ Quang...
  • Môn Hạ tục gia: Đa hùng tí Đô Đại Cẩm - Long Môn tiêu cục Tổng tiêu đầu.

Phái Côn Lôn[sửa | sửa mã nguồn]

  • Chưởng môn: Côn Lôn tam thánh Hà Túc Đạo, Hà Thái Xung.
  • Cao thủ: Tưởng Đào, Cao Tắc Thành, Thiểm Điện nương nương Ban Thục Nhàn...

Phái Không Động[sửa | sửa mã nguồn]

  • Là một phái lớn trên giang hồ, Tạ Tốn ăn cắp tuyệt kĩ Thất thương quyền của phái này rồi tu luyện để báo thù Thành Côn, tuy thế trong phái không có nhân tài kiệt xuất.
  • Chưởng môn: Đường Văn Lượng.
  • Cao thủ: Không Động ngũ lão.

Phái Hoa Sơn[sửa | sửa mã nguồn]

  • Chưởng môn: Tiên Vu Thông.

Phái Cổ Mộ[sửa | sửa mã nguồn]

Phái này xuất hiện từ thời Bắc Tống, tổ sư là Lâm Triều Anh võ công trác tuyệt nhưng giang hồ ít ai biết đến, nó là gạch nối giữa 2 bộ truyện Anh hùng xạ điêu và Thần điêu hiệp lữ, thậm chí là cả Ỷ thiên đồ long ký. Trong truyện này phái này rất mờ nhạt nhưng lại quan trọng vô cùng khi xuất hiện nhân vật "Hoàng Sam nữ tử" ra tay can thiệp, lúc kết chuyện nhắc lại uyên nguyên của cả hai báu vật Đồ Long Đao, Ỷ Thiên Kiếm.

Các Phái khác[sửa | sửa mã nguồn]

Hải Sa bang, Cự Kình bang, Thần Quyền phái, Ngũ Phượng Đao cửu môn, Lương Thuyền bang, Thanh Long phái, Tam Giang bang, Long Môn tiêu cục, Hổ Cứ tiêu cục, Yến Vân tiêu cục, Tấn Dương tiêu cục, Vu Sơn bang...

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]