Đoàn Trí Hưng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Đoàn Trí Hưng
段智興
Hoàng đế Đại Lý
Tại vị1172 - 1200
Tiền nhiệmĐoàn Chính Hưng
Kế nhiệmĐoàn Trí Liêm
Thông tin chung
Niên hiệu
  • Lợi Trinh (1172–1175)
  • Thịnh Đức (1176–1180)
  • Gia Hội (1181–1184)
  • Nguyên Hanh (1185–1195)
  • An Định (1195–1200)
Thụy hiệu
Công Cực Đế
Miếu hiệu
Tuyên Tông
Hoàng tộcVương quốc Đại Lý
Thân phụĐoàn Chính Hưng

Đoàn Trí Hưng (?-?) là một Hoàng đế nước Đại Lý, tại vị từ năm 1172 - 1200.

Trong lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Những ghi chép về Đoàn Trí Hưng không có nhiều. Năm sinh và năm mất của ông đều không rõ, chỉ biết ông lên ngôi Hoàng đế Đại Lý năm 1172 và từ ngôi năm 1200, tại vị 28 năm. Trong thời gian trị vì, ông đã có năm lần đổi niên hiệu: Lợi Trinh (1172-1175), Thịnh Đức (1176-1180), Gia Hội (1181-1184), Nguyên Hanh (1185-1197), An Định (1198-1200).

Cũng như nhiều vị vua khác của Đại Lý, Đoàn Trí Hưng tôn sùng Phật giáo. Trong thời gian trị vì, ông ít quan tâm đến quốc sự, chỉ lo đại tu chùa chiền, xây dựng mới 60 tự viện, đối với một tiểu quốc như Đại Lý, đã làm hao tổn quốc lực không ít. Năm 1200 ông thoái vị và nhường ngôi cho con mình là Đoàn Trí Liêm. Khác với hình tượng trong tiểu thuyết, ông không trở thành một nhà sư mà chỉ là một cư sĩ tại gia.

Không rõ ông mất năm nào. Sau khi mất, ông được tôn thụy là Công Cực đế, miếu hiệu là Tuyên Tông.

Hình tượng trong tiểu thuyết[sửa | sửa mã nguồn]

Đoàn Trí Hưng
Sáng tạo ra bởi Kim Dung
Xuất hiện trong Anh hùng xạ điêu,
Thần điêu hiệp lữ
Thông tin cá nhân
Ngoại hiệu "Nam đế" (南帝),
"Nam tăng" (南僧)
Tên khác "Nhất Đăng Đại Sư" (一燈大師)
Giới Nam
Vợ/Chồng Anh Cô (phi tần)
Kết giao
Bang, phái Đại Lý
Đệ tử Võ Tam Thông,
Chu Tử Liễu,
Từ Ân (Cừu Thiên Nhận)
Võ công
Nội công Tiên Thiên Công,
Vài phép trong Cửu âm chân kinh
Phép quyền cước Nhất Dương Chỉ

Trong tiểu thuyết võ hiệp Anh hùng xạ điêu của Kim Dung, Đoàn Trí Hưng là một nhân vật khá quan trọng. Ông cũng tiếp tục xuất hiện trong tiểu thuyết tiếp theo Thần điêu hiệp lữ. Ông là cháu nội đời sau của vợ chồng Đoàn DựMộc Uyển Thanh trong tác phẩm "Thiên Long Bát Bộ".

Kết thúc Hoa Sơn luận kiếm lần thứ nhất, Đoàn Trí Hưng trở thành một trong Thiên hạ ngũ tuyệt hiệu là Nam đế, ông có võ công rất cao, nổi tiếng với tuyệt kỹ gia truyền Nhất dương chỉ.

Sau này, Vương Trùng Dương dẫn sư đệ Chu Bá Thông tới thăm ông, bàn bạc tìm cách đối phó với Âu Dương Phong. Trong thời gian đó, Chu Bá Thông tư thông với Anh Cô, một phi tần rất được sủng ái của Đoàn Trí Hưng, sinh ra một đứa con. Vì việc này Đoàn Trí Hưng hết sức tức giận. Tiếp đó, Cừu Thiên Nhận lại tìm đến đánh đứa bé một chưởng rất nặng nhằm khiến Đoàn Trí Hưng hao tổn nội lực để cứu nó nhưng vì ghen tuông, ông đã không cứu đứa bé. Tức giận, Anh Cô đâm chết đứa bé rồi bỏ đi. Đoàn Trí Hưng đau đớn, hối hận quyết định thoái vị đi tu lấy hiệu là Nhất Đăng đại sư. Bốn vị đại thần trong triều cũng từ quan đi theo ông gọi là Ngư (nguyên Thuỷ Quân đô đốc Điểm Thương Ngư Ẩn), Tiều (nguyên Đại tướng quân, Kim Dung không nói rõ tên họ), Canh (nguyên Tổng quản ngự lâm quân Võ Tam Thông), Độc (nguyên Đại thừa tướng Chu Tử Liễu).

Về sau, ông đã dùng công phu Nhất Dương Chỉ của mình cứu sống Hoàng Dung nhưng nhờ có khẩu quyết của Cửu Âm chân kinh mà không bị tổn hao công lực. Cuối cùng trên đỉnh Hoa Sơn, Nhất Đăng đại sư đã làm Cừu Thiên Nhận giác ngộ, khiến y tự nguyện quy y, lấy hiệu là Từ Ân.

Tiếp tục sang tiểu thuyết Thần điêu hiệp lữ, Nhất Đăng Đại sư lại xuất hiện giúp Tiểu Long Nữ khi này đang bị trọng thương kéo dài cuộc sống rồi cùng sư đệ của mình đến Tuyệt tình cốc để tìm thuốc giải độc Hoa tình.

Cuối truyện, ông, Chu Bá Thông và Anh Cô hoá giải những oán hận trước đây, tham gia vào cuộc chiến bảo vệ thành Tương Dương.

Tại Hoa Sơn luận kiếm lần thứ ba, Nhất Đăng Đại Sư tiếp tục được bầu vào Thiên hạ ngũ tuyệt, hiệu là Nam Tăng.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]