Sakura Momoko

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Sakura Momoko
さくら ももこ
Sakura Momoko.jpg
Sakura Momoko, ảnh chụp năm 1992
Sinh(1965-05-08)8 tháng 5, 1965
Shimizu, Shizuoka, Nhật Bản
Mất15 tháng 8, 2018(2018-08-15) (53 tuổi)
Tokyo, Nhật Bản
Nguyên nhân mấtUng thư vú
Quốc tịch Nhật Bản
Lĩnh vựcMangaka, Nhà văn tiểu luận, Người viết lời bài hát
Tác phẩm chính
Nhóc Maruko, Coji-Coji
Giải thưởngGiải Manga Kodansha
Giải Thu âm Nhật Bản
Giải Tác phẩm cách tân
Phối ngẫu
  • Miyanaga Masataka (1989–1998)
  • Unno Sashimi (2003–)
Websitesakuraproduction.jp

Sakura Momoko (Nhật: さくら ももこ? bút danh, sinh ngày (1965-05-08)8 tháng 5 năm 1965 – mất ngày (2018-08-15)15 tháng 8 năm 2018) là một nữ mangaka người Nhật Bản, nguyên quán thành phố Shimizu (nay là quận Shimizu, thành phố Shizuoka), tỉnh Shizuoka. Lấy ý tưởng từ tuổi thơ của chính mình, Sakura đã sáng tác loạt manga dài kỳ nổi tiếng Chibi Maruko-chan (còn được biết đến qua nhan đề tiếng Việt là Nhóc Maruko). Phiên bản anime truyền hình chuyển thể từ Nhóc Maruko nằm trong số những bộ phim hoạt hình được theo dõi nhiều nhất và dài tập nhất Nhật Bản, phát sóng từ những năm 1990 đến tận nay. Cô bé Maruko vẫn thường được xem là một trong các biểu tượng văn hóa đại chúng của Nhật Bản, cùng với chú mèo máy Doraemon trong loạt truyện tranh cùng tên hay Edogawa Conan trong Thám tử lừng danh Conan, và có sức ảnh hưởng lớn tại nhiều quốc gia châu Á.

Bên cạnh việc sáng tác manga, Sakura còn là một người viết lời bài hát, nhà văn viết tiểu luận đã xuất bản nhiều công trình giá trị. Nét đặc trưng trong các sáng tác của Sakura là sự kết hợp giữa tiểu luận và manga, mà bà gọi là "viết luận dạng manga." Năm 1989, Sakura với tác phẩm Nhóc Maruko đã nhận giải Manga Kodansha lần thứ 31 ở hạng mục shōjo manga. Năm 1991, ca khúc kết thúc anime Nhóc Maruko, "Odoru Pompokolin" do Sakura sáng tác lời, đã giúp bà được vinh danh trong lễ trao giải Thu âm Nhật Bản lần thứ 32. Bộ ba tập tiểu luận của Sakura là Momo no Kandzume, Saru no KoshikakeTai no Okashira đều in hơn 1 triệu bản chỉ vài năm sau khi ra mắt, đưa Sakura trở thành một trong những tác giả có sách bán chạy nhất (best-seller).

Sinh thời Sakura rất ít khi tiết lộ thông tin cá nhân trước công chúng, và tên thật của bà chưa bao giờ được báo chí Nhật Bản công bố chính thức. Sau khi Sakura qua đời, liên kết với sự kiện triều đại của Thiên hoàng Akihito kết thúc vào năm 2019, truyền thông nước này gọi cái chết của bà là điềm báo cho sự cáo chung của thời kỳ Heisei.[1]

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Nhóc Maruko[sửa | sửa mã nguồn]

Sinh ra tại thành phố Shimizu cũ mà nay là một quận thuộc thành phố Shizuoka, tỉnh Shizuoka, Sakura Momoko trải qua thời nữ sinh tại trường tiểu học Shimizu Irie, trường sơ trung Shimizu số 8 và trường cao trung Shimizu Nishi (Tây Shimizu).[2][3][4] Từ 3 tuổi rưỡi bà đã bắt đầu vẽ tranh những bé gái,[1] và khi lên cấp 3 thì sáng tác những mẫu truyện tranh ngắn dưới bút danh này, đồng thời phát triển năng khiếu viết tiểu luậntự truyện của mình. Giáo viên của Sakura từng khen ngợi một trong các bài luận của bà là "phong cách không hề giống như của một học sinh trung học" và ví Sakura như "Sei Shōnagon thời hiện đại".[5][6][7] Năm 1984, khi mới là tân sinh viên khoa quốc văn của Học viện cao đẳng nữ sinh Shizuoka Eiwa (nay là trường cao đẳng thuộc Học viện đại học Shizuoka Eiwa), Sakura ra mắt manga ngắn đầu tay về tình thầy trò nhan đề Oshiete Yaru'nda Arigataku Omoe! (教えてやるんだありがたく思え!?) trên số ra quý mùa đông của tờ Ribon Original, do nhà xuất bản Shūeisha ấn hành.[8] Một số tác phẩm tự truyện khác mà bà sáng tác từ thời trung học cũng được Ribon Original và nguyệt san chị em với nó là Ribon đăng tải trong những năm 1984 và 1985.

Trong thời gian đầu sau khi tốt nghiệp vào tháng 4 năm 1986, Sakura làm việc tại một công ty xuất bản ở Tokyo. Bận rộn với các sáng tác và không thể xoay xở cả hai công việc cùng lúc, Sakura quyết định nghỉ việc sau hai tháng[9] và vào tháng 8 năm 1986, tác phẩm làm nên sự nghiệp của bà, Nhóc Maruko (ちびまる子ちゃん Chibi Maruko-chan?), đến với công chúng lần đầu tiên trong tạp chí Ribon. Theo đuổi ý tưởng "viết luận dưới dạng manga," Nhóc Maruko phác họa những tháng ngày thơ ấu của tác giả qua cuộc sống giản đơn và hồn nhiên của nhân vật Maruko (có tên thật cũng là Sakura Momoko), một cô bé lớp 3 tiểu học sống cùng với gia đình gồm sáu người trong một con phố nhỏ ở Shimizu, Shizuoka những năm 1970.[10][11] Bản thân tác giả Sakura ngày bé cũng được mẹ gọi bằng biệt danh "chibi Maruko."[12] Những người bạn cùng lớp của Maruko và các địa điểm thường xuất hiện trong tác phẩm phần lớn đều dựa trên những sự vật tương ứng ngoài đời thật. Tankōbon đầu tiên của Nhóc Maruko phát hành năm 1987 đã in kèm những sáng tác ngắn khác trong giai đoạn đầu sự nghiệp của Sakura. Manga—được đăng thường kỳ hàng tháng trên tạp Ribon đến tháng 6 năm 1996 với tổng cộng 14 tập truyện (về sau phát hành bổ sung thêm hai tập nữa vào các năm 2003 và 2009)—là một trong những loạt truyện tranh nổi tiếng và ăn khách hàng đầu Nhật Bản với hơn 32 triệu bản in đã bán ra, được mệnh danh là "Sazae-san của thời Heisei."[8][13][14]

Năm 1989, loạt manga Kami no Chikara (神のちから? tạm dịch: Quyền năng Chúa trời) của Sakura được đăng dài kỳ trên tạp chí Big Comic Spirits của Shogakukan.[15] Cùng năm, Nhóc Maruko giúp Sakura đoạt giải Manga Kodansha lần thứ 13 ở hạng mục shōjo manga.[16] Đầu năm 1990, Nhóc Maruko được chuyển thể thành anime truyền hình bởi Nippon Animation, chiếu trên kênh Fuji TV. Tháng 10 năm đó, phim ghi nhận kỷ lục 39,9% tỉ suất người xem, cao nhất trong số các chương trình hoạt hình phát sóng tại Nhật Bản lúc bấy giờ, trở thành một hiện tượng xã hội và thu hút sự quan tâm rất lớn tại châu Á.[11][17] Ca khúc kết thúc mỗi tập phim "Odoru Pompokolin" (おどるポンポコリン?) do Sakura viết lời, Oda Tetsurō sáng tác với phần thể hiện của ban nhạc B.B.Queens, đứng đầu bảng xếp hạng Oricon suốt nhiều tuần liền, bán được hơn 1,73 triệu CD, một lần nữa giúp bà được vinh danh trong lễ trao giải thưởng Thu âm Nhật Bản lần thứ 32 vào tháng 12 năm 1990.[18][19] Trừ ba năm tạm gián đoạn, Nhóc Maruko đã phát sóng liên tục đến tận ngày nay với hơn 1.100 tập phim và là anime được theo dõi nhiều thứ hai chỉ sau Sazae-san.[20][21]

Nhà văn viết tiểu luận[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 3 năm 1991, tập tiểu luận đầu tay của Sakura là Momo no Kandzume (もものかんづめ? tạm dịch: Lon đào hộp) ra mắt, trở thành một kiệt tác với hơn 2 triệu bản in chỉ sau ba năm phát hành. Từ đó bà bắt đầu xuất bản nhiều công trình tiểu luận hơn, tiêu biểu gồm Saru no Koshikake (さるのこしかけ? tạm dịch: Cái ghế của khỉ (chơi chữ nấm tán))Tai no Okashira (たいのおかしら? tạm dịch: Đầu và đuôi cá tráp đỏ) vào năm 1992. Được viết theo lối văn dí dỏm, trình bày thế giới quan độc đáo mà sắc sảo, cả hai tác phẩm này đều in hơn 1 triệu bản, đưa Sakura trở thành một trong những nhà văn viết tiểu luận có sách bán chạy nhất (riêng Saru no Koshikake còn thắng giải Văn học cách tân (新風賞 Shimpusho?) lần thứ 27).[18][22] Từ tháng 10 năm 1991 đến tháng 9 năm 1992, bà làm phát thanh viên trong chương trình All Night Nippon của Đài Phát thanh Nippon.[23] Năm 1993, Sakura sáng tác manga Nagasawa-kun (永沢君? tạm dịch: Cậu bé Nagasawa), đăng trên Big Comic Spirits, xoay quanh cuộc sống của một nhân vật trong Nhóc Maruko;[24] và sang năm bà ra mắt manga kỳ ảo siêu thực Coji-Coji trên tạp chí Kimi to Boku của Sony Magazines.[25] Hai tác phẩm này đều được chuyển thể thành anime dài tập cũng như trò chơi điện tử. Một trung tâm triển lãm đóng vai trò như bảo tàng tác phẩm có tên Chibi Maruko-chan Land đã khai trương ngay tại Shimizu, Shizuoka vào năm 1999, trở thành điểm nhấn du lịch của thành phố.[26][27]

Khoảng cuối năm 1999 đầu năm 2000, tờ Phú Sĩ Sơn (富士山 Fujisan?) do Sakura chủ bút phát hành số đầu tiên dưới dạng mook (pha trộn giữa sách và tạp chí), ấn hành bởi Shinchosha.[28] Trong ấn phẩm này, bà đăng nhiều bài phỏng vấn và tản văn về địa phương quê hương mình, tường thuật những buổi viếng thăm nhà bà của các nghệ sĩ nổi tiếng như Kitano Takeshi.[29] Theo báo cáo doanh thu thì đến giữa năm 2000, hai số phát hành đầu tiên của Phú Sĩ Sơn đã đạt 680 nghìn bản in.[30] Tháng 9 năm 2005, nhằm vinh danh 20 năm sự nghiệp sáng tác, một cuộc triển lãm nghệ thuật mang tên Sakura Momoko World: Triển lãm kỷ niệm 20 năm được tổ chức tại Matsuya Ginza trong vòng một tuần. Triển lãm giới thiệu 150 minh họa gốc cùng một lượng lớn tranh màu, phác thảo, ý tưởng sơ khai của nhiều tác phẩm.[28][31] Năm 2006, Sakura hỗ trợ phần kịch bản của tập live action Nhóc Maruko đầu tiên,[32] tiếp đó bà ra mắt loạt manga đỉnh cao trong lối sáng tác viết luận kiểu truyện tranh của mình là Hitori Zumou (ひとりずもう? tạm dịch: Đấu sumo một người) trên Big Comic Spirits, có thể xem là phần tiếp theo của Nhóc Maruko. Manga kết hợp tiểu luận này thú vị ở chỗ tuy vẫn thể hiện dưới góc nhìn của cô bé Maruko, nó đóng vai trò như một tự truyện hoàn chỉnh của chính tác giả Sakura Momoko, về cái thời mà bà vừa hoàn thành chương trình tiểu học và đang trăn trở với ước mơ trở thành tác giả truyện tranh.[33]

Từ tháng 7 năm 2007 đến tháng 12 năm 2011, 11 nhật báo lớn phân phối toàn quốc như Chunichi Shimbun, Tokyo Shimbun, Hokkaido Shimbun, Nishinippon Shimbun, Chugoku Shimbun bắt đầu đăng các mẫu truyện Nhóc Maruko mới dạng yonkoma (4 khung tranh) mỗi sáng.[34] Khi Nhật Bản vừa trải qua thảm họa động đất và sóng thần vào tháng 3 năm 2011, Sakura đã lan truyền thông điệp động viên người dân qua các mẫu truyện này một cách ý nhị.[14] Năm 2014, Sakura cùng ca-nhạc sĩ Hinaco thành lập đơn vị âm nhạc Yellow Purple; bà giữ vai trò sáng tác và sản xuất.[35] Thời gian này một chuỗi triển lãm khác mang tên Triển lãm thế giới của Sakura Momoko nhân 30 năm hoạt động nghệ thuật của bà được tổ chức tại nhiều viện bảo tàng và phòng trưng bày trên toàn quốc trong vòng 3 năm.[36][37][38] Năm 2015, anime Nhóc Maruko đánh dấu 25 năm ra đời với hàng loạt sự kiện đại chúng và dự án đặc biệt, cùng các hoạt động kỷ niệm diễn ra tại một số nước châu Á.[39][40][41] Cùng năm, loạt truyện tranh dài kỳ hoàn chỉnh cuối cùng của Sakura là Manga Club (まんが倶楽部 Manga Kurabu?, tạm dịch: Câu lạc bộ manga) đăng trên tạp chí Grand Jump của Shūeisha.[42] Di cảo manga nhại theo Nhóc Maruko tên là Chibi Shikaku-chan (ちびしかくちゃん? tạm dịch: Nhóc Shikaku), đăng từ năm 2016, cùng bộ ONA GJ8man do Sakura lên ý tưởng, đã không kịp hoàn thành.[21][43]

Qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 27 tháng 8 năm 2018, website văn phòng đại diện của Sakura Momoko đăng một thông điệp cáo phó, theo đó bà đã từ trần vào lúc 20 giờ 29 phút (giờ Nhật Bản) ngày 15 tháng 8 do bệnh ung thư vú, hưởng dương 53 tuổi.[44] Tang lễ được tổ chức riêng tư theo nguyện vọng của gia đình và bạn bè thân thiết của Sakura. Thông điệp cáo phó đăng kèm một bức họa vẽ Maruko và nhiều nhân vật trong các tác phẩm tiêu biểu khác, cùng trích lời phát biểu của bà vào năm 2014 nhân kỷ niệm 30 năm sự nghiệp. Bà nói trong suốt 30 năm, bà đã nếm trải cả thành công lẫn thử thách, cuộc đời sáng tác của bà đầy hạnh phúc và bà biết ơn vì điều đó.[45] Bản tin cáo phó phát trong chương trình thời sự News Watch 9 của kênh truyền hình công cộng quốc gia NHK cùng ngày đã tạo nên cú sốc lớn.[12] Kênh Fuji TV cùng đội ngũ sản xuất anime Nhóc Maruko tuyên bố rằng họ vẫn sẽ thực hiện các tập tiếp theo của bộ phim.[19] Bài đăng blog gần nhất của Sakura là vào ngày 2 tháng 7, trong đó bà viết về sự cổ vũ mình dành cho Đội tuyển bóng đá quốc gia Nhật Bản thi đấu tại Giải vô địch bóng đá thế giới 2018 ở Nga.[5]

Sự ra đi của Sakura là một "mất mát to lớn của ngành truyện tranh Nhật Bản,"[46] để lại tiếc thương sâu sắc nơi đông đảo người hâm mộ toàn quốc, đặc biệt là người dân thành phố Shizuoka.[2][47] Các tác phẩm của bà đều bán hết nhanh chóng trong vòng 3 ngày, khiến cho nhà xuất bản Shūeisha phải cho in lần nữa 850.000 bản bao gồm Nhóc Maruko lẫn những sách tiểu luận khác.[48] Trưởng ban biên tập Ribon, ông Aida Sōichi viết trên trang web của tạp chí rằng tuy ông cảm thấy tiếc vì tác giả mất quá sớm, "nhưng nụ cười rạng rỡ của bé Maru và những người bạn sẽ mãi tỏa sáng trong lòng mọi độc giả từ trẻ em đến người lớn."[49] Seiyū gạo cội Tarako, cũng chính là người lồng tiếng cho Maruko, thảng thốt trước cái chết "quá đột ngột" của Sakura, "trong khi bà ấy vẫn đang ấp ủ nhiều dự định." Tarako nói bà đã không gặp Sakura một thời gian, vì vậy ấn tượng về nữ tác giả trong lòng bà vẫn là "một người nhỏ nhắn, đáng yêu với gương mặt tròn trịa luôn nở nụ cười," và bà sẽ tiếp tục nghiêm túc thổi hồn cho bé gái lớp 3 (Maruko) vốn là bản ngã của chính Sakura.[50] Theo nhà báo Nakamori Akio, Nhóc Maruko là biểu thị tinh thần tốt nhất cho niên hiệu Heisei, và cũng như cái chết của tác giả Tezuka Osamu vào cuối triều đại Chiêu Hòa, sự ra đi của Sakura Momoko đã báo hiệu thời đại này đến hồi cáo chung (ngụ ý việc Thiên hoàng Akihito sẽ thoái vị vào tháng 4 năm 2019).[1][11][51]

Nhiều họa sĩ manga, nghệ sĩ cùng các nhân vật tên tuổi khác như Chiba Tetsuya, Murata Yusuke, Oda Eiichiro, Matsumoto Leiji, Yoshimoto Banana, Okamoto Mayo, Ohara Sakurako, Morisako Ei, Suzuki Taku, Kuramochi Asuka, Hasegawa Kenta... đồng loạt bày tỏ sự yêu mến và kính trọng dành cho nữ tác giả.[46][51][52] Tin tác giả Nhóc Maruko từ trần nhanh chóng lan ra toàn thế giới thông qua các bản tin của NHK WorldKyodo News, đặc biệt được tường thuật bởi phương tiện truyền thông đại chúng ở Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Thái Lan... là những nơi mà tác phẩm có sức ảnh hưởng lớn và được đông đảo công chúng đón nhận.[53][54][55] Người hâm mộ Đại lục lan truyền các thông điệp trên mạng xã hội Sina Weibo, gợi nhớ manga như một phần ký ức tuổi thơ của họ.[56] Tờ China Daily thậm chí gọi Nhóc Maruko là biểu tượng văn hóa ở Nhật Bản cũng như cả châu Á nói chung.[57] Một chương trình phát sóng trên kênh 1 Đài truyền hình Việt Nam trong phần tin tường thuật đã dẫn lại sức ảnh hưởng của Nhóc Maruko, tuyên bố manga là bộ truyện tranh đầu tiên về một bé gái được xuất bản ở nước này.[58]

Cuộc sống riêng và phong cách sáng tác[sửa | sửa mã nguồn]

Sinh thời, mặc dù là một tác giả nổi tiếng nhưng Sakura Momoko rất ít khi xuất hiện trước công chúng, và do đó không nhiều người biết về đời tư hay tên thật của bà. Tuy các phương tiện truyền thông Nhật Bản chưa bao giờ công bố chính thức[7][10][59] nhưng một số trang tin lớn nước ngoài như China Daily hay Newsweek ghi chú tên thật của bà là Miura Miki (三浦 美紀?).[57][60][61] Năm 1989, bà kết hôn với Miyanaga Masataka, một biên tập viên của tạp chí Ribon, nhưng đã ly dị vào năm 1998.[62] Con trai duy nhất của hai người vào năm 2002 đã cùng mẹ và các đồng nghiệp của bà xuất bản cuốn tiểu luận Obake no Te (おばけの手? tạm dịch: Bàn tay con ma) rất được yêu thích, lúc đó anh mới 8 tuổi và dùng bút danh Sakura Melon. Quan hệ giữa hai mẹ con rất thân thiết, Sakura thường xuyên đề cập đến Melon trong các bài blog cá nhân của mình.[63] Năm 2003, bà tái hôn với Unno Sashimi, một họa sĩ vẽ tranh minh họa.[9][60] Sakura rất thần tượng cố ca sĩ Saijō Hideki, bà đã viết lời ca khúc "Hashire Shojikimono" trong đĩa đơn 66 của Saijō phát hành năm 1991. Tình cảm này từng được bà thể hiện qua nhân vật chị gái Maruko là Sakiko, cũng là một fan nhiệt thành của Saijō. Saijō mất ngày 16 tháng 5, 2018 và trùng hợp thay Sakura cũng ra đi sau ông này đúng 3 tháng, khiến dư luận Nhật Bản và truyền thông Đài Loan bình luận rằng bà đã "đi theo" ông.[1][64] Sakura cũng là bạn rất thân của Oda Eiichiro, tác giả manga One Piece nổi tiếng,[65] và nhà văn Yoshimoto Banana.[66][67]

Sakura là bạn cùng lớp tiểu học với cựu cầu thủ bóng đá mà nay là huấn luyện viên trưởng của FC Tokyo, ông Hasegawa Kenta, và nhà biên kịch truyền hình Hiraoka Hideaki; cả hai ông đều được hóa thân thành các nhân vật trong Nhóc Maruko.[68][69] Một người bạn cùng lớp khác, Noritaka Hamazaki (chính là hình tượng ngoài đời thật của cậu bé "Hamaji", bạn của cô bé Maruko), qua tự truyện của mình đã miêu tả Sakura thời tiểu học là một cô bé khá nhút nhát. Về điểm này Noritaka cho rằng người bạn là hình tượng ngoài đời thật của Honami Tamae (biệt danh "Tama-chan", bạn thân của Maruko) lại có phần giống với Maruko hơn.[70] Một nhân viên của bảo tàng Chibi Maruko-chan Land tại Shizuoka nói Sakura giống như "bé Maruko người lớn – quyến rũ và nồng hậu."[71] Một biên tập viên từng làm việc với Sakura nhận xét bà là người thân thiện, chu đáo và làm việc có nguyên tắc.[66] Mangaka Chiba Tetsuya chia sẻ ông thấy Sakura cứ như Maruko vừa bước ra khỏi trang truyện trong lần đầu gặp bà ở lễ trao giải Manga Kodansha.[66] Tình yêu Shimizu và ngọn núi Phú Sĩ được thể hiện rõ nét trong tờ báo Phú Sĩ Sơn do bà chấp bút. Sakura đã nhiều lần vẽ tranh cổ động phát triển thành phố quê hương, và sáng tác lời cho một ca khúc xúc tiến du lịch địa phương. Thị trưởng thành phố Shizuoka Tanabe Nobuhiro nói Sakura đã cống hiến rất nhiều trong việc quảng bá thành phố, "bà ấy rất thích các lễ hội, vườn thú và dành rất nhiều tình cảm cho quê hương mình."[71]

Nét đặc trưng trong các sáng tác của Sakura là lối "viết tiểu luận dạng manga," mà điển hình là Nhóc MarukoHitori Zumou, nơi bà chia sẻ và bàn luận những quan điểm và kỷ niệm trong cuộc sống thường nhật qua tranh vẽ.[33][72] Nhà phê bình Ishikawa Jun đánh giá kể từ sau Nhóc Maruko, nhiều người đã thử kết hợp tiểu luận và manga nhưng không ai có thể bắt kịp Sakura.[73] Trong tập tiểu luận Momo no Kandzume, Sakura nêu rõ bà vẽ manga "dựa trên sự chắt lọc các kỷ niệm xưa." Một ví dụ điển hình là ông của bà, Tomozou, vốn có tính hay càu nhàu và khó gần, nhưng trong Nhóc Maruko đã trở thành một người ngọt ngào và hết mực yêu thương, cưng chiều cô cháu gái. Sự chắt lọc này cũng giúp những miêu tả của bà về thời đại cũ trở nên rất sống động thậm chí với những độc giả trẻ tuổi, trong khi vẫn tạo cảm giác vô cùng thân thuộc với những ai từng trải qua những năm tháng tăng trưởng kinh tế nhanh chóng của Nhật Bản vào thế kỷ trước.[74] Bầu không khí gợi lại sự hoài niệm trong Nhóc Maruko thỉnh thoảng được so sánh là sự tiếp nối của một xê-ri nổi tiếng khác có thiết lập thời hậu Thế chiến thứ II, Sazae-san, và sau đó kế thừa bởi Shin - cậu bé bút chì.[75] Biên tập viên của Ribon lý giải sự thành công của Nhóc Maruko là nhờ "óc khôi hài xuất chúng, các nhân vật có sự liên kết và sự ấm áp mà họ được miêu tả."[59] Một chi tiết thú vị rất riêng khác trong phong cách nghệ thuật của Sakura là những đường kẻ dọc xuất hiện trên gương mặt nhân vật mỗi khi họ sửng sốt, bối rối hay không biết phải nói gì, mà nhóm sản xuất anime Nhóc Maruko gọi là "ase-tara tate-sen" (汗たら縦線? những đường kẻ đổ mồ hôi).[39] Các đường kẻ này (顔に3本線) nổi tiếng đến nỗi đã trở thành một cụm từ lóng trong giới trẻ Đài Loan, biểu thị trạng thái cảm xúc tương tự.[76]

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Suốt hơn 30 năm sự nghiệp sáng tác, Sakura Momoko xuất bản nhiều loạt manga dài kỳ, bài tiểu luận, tự truyện, tạp chí đồng thời viết lời cho rất nhiều ca khúc. Danh sách dưới đây chỉ tổng hợp một số tác phẩm chính được xuất bản hoàn chỉnh của bà, không bao gồm những bài ký đăng rải rác trên các tạp chí và báo.

Manga[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách tác phẩm manga chính[77]
Tựa đề Năm Ghi chú
Oshiete Yaru'nda Arigataku Omoe! (教えてやるんだありがたく思え!?) 1984 Đăng trên Ribon Original
Xuất bản bởi Shūeisha, về sau in kèm trong Chibi Maruko-chan tập 1
Chibi Maruko-chan (ちびまる子ちゃん?) 1986–96 Đăng trên Ribon
Xuất bản bởi Shūeisha, 16 tập được phát hành
Kami no Chikara (神のちから?) 1989–92 Đăng trên Big Comic Spirits
Xuất bản bởi Shogakukan, 1 tập được phát hành
Chibi Maruko-chan: Ono-kun to Sugiyama-kun (ちびまる子ちゃん―大野君と杉山君?) 1990 Đăng trên Ribon
Xuất bản bởi Shūeisha, 1 tập được phát hành
Nagasawa-kun (永沢君?) 1993–95 Đăng trên Big Comic Spirit
Xuất bản bởi Shogakukan, 1 tập được phát hành
Coji-Coji (コジコジ?) 1994–97 Đăng trên Kimi to Boku
Xuất bản bởi Sony Magazines, 3 tập được phát hành
Super 0-kun (スーパー0くん?) 2003 Xuất bản bởi Shogakukan, 1 tập được phát hành
Kami no Chikarakko Shimbun (神のちからっ子新聞?) 2004–08 Đăng trên Big Comic Spirits
Xuất bản bởi Shogakukan, 4 tập được phát hành
Hitori Zumou (ひとりずもう?) 2006–08 Đăng trên Big Comic Spirits
Xuất bản bởi Shogakukan, 3 tập được phát hành
4-koma Chibi Maruko-chan (4コマ ちびまる子ちゃん?) 2007–11 Đăng trên 11 nhật báo địa phương
Shogakukan tổng hợp, biên tập và phát hành thành 13 tập
Tenko Mori!! Nagasawa-kun (てんこ盛り!! 永沢君?) 2013 Xuất bản bởi Shogakukan, 1 tập được phát hành
Chibi Maruko-chan: Kimi o Wasurenai yo (ちびまる子ちゃん キミを忘れないよ?) 2015 Đăng trên Ribon
Xuất bản bởi Shūeisha, 1 tập được phát hành
Manga Kurabu (まんが倶楽部?) 2015–16 Đăng trên Grand Jump
Xuất bản bởi Shūeisha, 1 tập được phát hành
Chibi Shikaku-chan (ちびしかくちゃん?) 2016– Đăng trên Grand Jump
Xuất bản bởi Shūeisha, 1 tập được phát hành
Không thể hoàn thành do tác giả qua đời

Tiểu luận[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tựa đề Nhà xuất bản ISBN
1991 Momo no Kandzume (もものかんづめ?) Shūeisha 978-4-08-772783-8
1992 Umi no Sakana & Takarabune Hourai no Makunouchi Bento (うみのさかな&宝船蓬莱の幕の内弁当?)
(Bút danh Umi no Sakana, đồng tác giả với Takarabune Hourai)
Kadokawa Shoten 978-4-04-189901-4
Momoko no Shaberi Kotoba (ももこのしゃべりことば?) Đài phát thanh Nippon 978-4-594-00939-7
Saru no Koshikake (さるのこしかけ?) Shūeisha 978-4-08-775159-8
Tai no Okashira (たいのおかしら?) Shūeisha 978-4-08-747551-7
1994 Momoko no Iki Mono Zukan (ももこのいきもの図鑑?) Magazine House 978-4-08-748779-4
1995 Sou Iu Fu ni Dekiteiru (そういうふうにできている?) Shinchosha 978-4-10-138821-2
1996 Ano Koro (あのころ?) Shūeisha 978-4-08-747674-3
1997 Momoko no Sekai Atchi Kotchi Meguri (ももこの世界あっちこっちめぐり?) Shūeisha 978-4-08-774276-3
Maruko Datta (まる子だった?) Shūeisha 978-4-08-747796-2
Akachan Nikki―First year memories (赤ちゃん日記?) Shogakukan 978-4-09-311232-1
1998 Momoko no Hanashi (ももこの話?) Shūeisha 978-4-08-746021-6
Akogare no Mahoutsukai (憧れのまほうつかい?) Shinchosha 978-4-10-138822-9
1999 Momoko no Omoshiro Kenkou Techou (ももこのおもしろ健康手帖?) Gentosha 978-4-87728-300-1
Sakura Biyori (さくら日和?) Shūeisha 978-4-08-746135-0
2000 Nohohon Enikki (のほほん絵日記?) Shūeisha 978-4-08-747737-5
2001 TsuchiKen Momoko Ragen (ツチケンモモコラーゲン?)
(Đồng tác giả với Tsuchiya Kenji)
Shūeisha 978-4-08-747848-8
Momoko no Tondemo Daibouken (ももこのトンデモ大冒険?) Tokuma Shoten 978-4-19-892105-7
2002 Sakura Ebi (さくらえび?) Shinchosha 978-4-10-138823-6
Momoko no Houseki Monogatari (ももこの宝石物語?) Shūeisha 978-4-08-746076-6
2003 Momoko no Omoshiro Houseki Techou (ももこのおもしろ宝石手帖?) Gentosha 978-4-344-40992-7
Matatabi (またたび?) Shinchosha 978-4-10-138824-3
Sakura Meru (さくらめーる?) Shūeisha 978-4-08-775329-5
2004 Momoko no 70-nendai Techou (ももこの70年代手帖?) Gentosha 978-4-344-00691-1
2005 Hitori Zumou (ひとりずもう?) Shogakukan 978-4-09-386152-6
MOMOKO TIMES Shūeisha 978-4-08-774779-9
2006 Yakisoba Ueda (焼きそばうえだ?) Shogakukan 978-4-09-386158-8
Onbu ni Dakko (おんぶにだっこ?) Shogakukan 978-4-09-386174-8
2007 Sakura Yokocho (さくら横丁?) Shūeisha 978-4-08-775376-9

Ngoài ra còn có hai loạt tiểu luận dạng nhật ký: Momoko no 21 Seiki Nikki (ももこの21世紀日記?) dài 8 tập phát hành bởi Gentosha từ năm 2002 đến 2008,[78][79]Momoko no Mannen Nikki (ももこのまんねん日記?) phát hành đều đặn mỗi năm một quyển từ 2010 đến 2012 bởi Shūeisha.[80][81][82]

Âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Dưới đây là những nhạc phẩm mà Sakura Momoko đã sáng tác phần lời (sắp xếp theo thứ tự thời gian):

  • "Odoru Pompokolin" (おどるポンポコリン? trình bày: B.B.Queens – ca khúc chủ đề truyền thống của anime Nhóc Maruko)
  • "Hashire Shojikimono" (走れ正直者? trình bày: Saijō Hideki)
  • "Daisuki" (だいすき? trình bày: Takahashi Yumiko)
  • "Enka Hagure Tori" (演歌はぐれ鳥? trình bày: Fujikawa Naomi)
  • "Ureshii Yokan" (うれしい予感? trình bày: Watanabe Marina – một trong các ca khúc mở đầu của anime Nhóc Maruko)
  • "Akke ni Torareta Toki no Uta" (あっけにとられた時のうた? trình bày: Tama – một trong các ca khúc kết thúc của anime Nhóc Maruko)
  • "Humming ga Kikoeru" (演歌はぐれ鳥? trình bày: Kahimi Karie – một trong các ca khúc mở đầu của anime Nhóc Maruko)
  • "Coji-Coji Ginza" (コジコジ銀座? trình bày: Hoff Dylan – ca khúc mở đầu của anime Coji-Coji)
  • "Chibi Maruko Ondo" (ちびまる子音頭? trình bày: ManaKana – một trong các ca khúc kết thúc của anime Nhóc Maruko)
  • "Jaga Buttercorn-san" (じゃがバタコーンさん? trình bày: ManaKana – một trong các ca khúc kết thúc của anime Nhóc Maruko, Sakura cũng sáng tác phần nhạc cùng với Oyamada Keigo)
  • "Johnny, Johnny Shinu Hodo Koishite" (死ぬほど恋して? trình bày: Kaji Hideki)
  • "KinKi no Yaruki Man Man Song" (KinKiのやる気まんまんソング? trình bày: KinKi Kids)
  • "Koushite Iyou" (こうしていよう? nhạc phẩm sáng tác cho cuộc thi NHK Đồng ca học đường toàn Nhật Bản, khối sơ trung; Asakawa Tomoyuki soạn)
  • "Uchū Dai Shuffle" (宇宙大シャッフル? trình bày: Love Jets – một trong các ca khúc kết thúc của anime Nhóc Maruko)
  • "Arara no Jumon" (アララの呪文? trình bày: Chibi Maruko-chan (Tarako) và Bakuchu Mondai – một trong các ca khúc kết thúc của anime Nhóc Maruko))
  • "Majikaru Majikaru Tejina-nya" (まじかる まじかる てじなーにゃ? trình bày: Anh em Yamagami)
  • "100-man Nen no Shiawase!!" (100万年の幸せ!!? trình bày: Kuwata Keisuke – một trong các ca khúc kết thúc của anime Nhóc Maruko)
  • "Ano Hi no Kimi" (あの日のキミ? trình bày: Matsuyuki Yoh)
  • "Bye Bye Baby" (バイバイベイビー? trình bày: Lime with Coji-Coji Band)
  • "Hana wa Tada Saku" (花はただ咲く? trình bày: Sakamoto Fuyumi with M2)
  • "Maru-chan no Shizuoka Ondo" (まるちゃんの静岡音頭? trình bày: Pierre Taki – ca khúc quảng bá thành phố Shizuoka)
  • "Let's GO Shizuoka" (レッツGOしずおか? trình bày: Matsuyuki Yoh – ca khúc quảng bá thành phố Shizuoka)
  • "Subarashiki Hito yo" (すばらしき人よ? trình bày: Wada Akiko, Sakura cũng sáng tác phần nhạc cùng với Yamazaki Yoh)
  • "Romantic Time" (ロマンティックタイム? trình bày: Yellow Purple (đơn vị âm nhạc Sakura lập cùng với Hinaco)
  • Loop (trình bày: Yellow Purple (đơn vị âm nhạc Sakura lập cùng với Hinaco))
  • "Shiawase no Hajimari" (幸せのはじまり? trình bày: MACO)
  • "Wan Nyan Paradise" (ワンニャンパラダイス? trình bày: Keiko)
  • "Oi!!" (おーい!!? trình bày: Ulfuls)
  • "Kimi o Wasurenai yo" (キミを忘れないよ? trình bày: Ohara Sakurako – ca khúc nền trong phim điện ảnh anime Chibi Maruko-chan: Italia Kara Kita Shōnen)
  • "Bokura" (ボクら? trình bày: Johnny's West)
  • "GJ8man no Theme" (GJ8マンのテーマ? trình bày: BOB Hiro – ca khúc mở đầu ONA GJ8man)
  • "Nagaragawa Tetsudou no Yoru" (長良川鉄道の夜? trình bày: Yamatarou – ca khúc kết thúc ONA GJ8man)
  • Chùm ca khúc trong album năm 2007 One Week (Một tuần):
    • "Getsuyoubi no Asa" (月曜日の朝? "Sáng thứ Hai", trình bày: Odani Misako)
    • "Kayoubi no Hiru" (火曜日の昼? "Trưa thứ Ba", trình bày: Karashima Midori)
    • "Suiyoubi no Yugata" (水曜日の夕方? "Chiều tối thứ Tư", trình bày: Aoba Ichiko)
    • "Mokuyoubi wa Ame" (木曜日は雨? "Ngày mưa thứ Năm", trình bày: Yanagihara Yōichirō)
    • "Kinyoubi no Yume: Asa ka Yoru ka no Monogatari (金曜日の夢 ~朝か夜かの物語~? "Giấc mơ thứ Sáu: Câu chuyện của sáng hoặc tối", trình bày: Ego-Wrappin')
    • "Doyoubi no Koibito" (土曜日の恋人? "Tình nhân thứ Bảy", trình bày: Ōta Hiromi)
    • "Nichiyoubi no Hirusagari" (日曜日の昼下がり? "Xế trưa Chủ Nhật", trình bày: Harada Ikuko)
  • "Susume Nonsense" (すすめナンセンス? trình bày: Puffy AmiYumi)

Tác phẩm khác[sửa | sửa mã nguồn]

Sakura Momoko đã tham gia thực hiện hoặc sáng tác nhiều sản phẩm khác ở đa dạng lĩnh vực, tiêu biểu gồm:

  • Bộ phim truyền hình Sakura Momoko Land: Taniguchi Rokuzou Shoten (さくらももこランド・谷口六三商店?) dài 13 tập do Sakura biên kịch, phát sóng trên kênh TBS từ tháng 4 đến tháng 6 năm 1993.
  • Tham gia dịch loạt sách về chú chó Snoopy do Shūeisha phát hành năm 1997.
  • Thiết kế nhân vật cho trò chơi Sakura Momoko Gekijō Coji-Coji (さくらももこ劇場コジコジ?) trên hệ máy Dreamcast, phát hành bởi Marvelous Entertainment vào năm 2000.
  • Thiết kế nhân vật cho trò chơi Sakura Momoko no Ukiuki Carnival (さくらももこのウキウキカーニバル?) trên hệ máy Game Boy Advance, phát hành bởi Nintendo vào năm 2002.
  • Tập thơ và phê bình thơ Maru Mushichou (まるむし帳?) do Shūeisha ấn hành năm 2003.
  • Dịch tác phẩm Peanuts của Charles M. Schulz, Asahi Shimbunsha phát hành năm 2004.
  • Phú Sĩ Sơn (富士山 Fujisan?), loạt 5 quyển tạp chí lai sách hoàn toàn do Sakura làm chủ bút, Shūeisha ấn hành từ năm 2000 đến 2002.
  • Obake no Te (おばけの手?), tập sách tranh kết hợp tiểu luận mà bà cùng con trai và các đồng nghiệp thực hiện, in năm 2002 bởi Gentosha.
  • Maruko to Coji-Coji (まる子とコジコジ?), sách tranh thiếu nhi với sự xuất hiện của hai nhân vật chính trong hai tác phẩm quan trọng nhất của bà, dài 2 tập, in năm 2003 bởi Gentosha.
  • Thiết kế nhân vật cho trò chơi Every Party (エブリパーティ?) trên hệ máy Xbox 360, phát hành bởi Microsoft Game Studios vào năm 2005.[60]
  • Ấn phẩm Omedetou (おめでとう?) nhân kỷ niệm 30 năm sáng tác (2014), tổng hợp nhiều bài phỏng vấn, phác thảo manga, tiểu luận cùng nhiều minh họa khác, do Shūeisha ấn hành.
  • Anime mạng (ONA) GJ8man do Sakura lên ý tưởng sau khi bà tham quan thành cổ Gujo Hachiman ở tỉnh Gifu, phát sóng từ năm 2016, bị ngưng do bà qua đời.[43][83]

Sakura cũng vẽ nhiều tranh cổ động, áp phích sự kiện, bảng quảng cáo trên xe buýt nhằm phục vụ cho quảng bá du lịch thành phố Shizuoka,[2] cũng như bìa album và đĩa nhạc theo lời mời của các nghệ sĩ. Sau khi Sakura qua đời, hãng mỹ phẩm Nivea công bố kế hoạch bán mẫu mã kem dưỡng da mới có dùng minh họa do bà thực hiện, ban đầu vốn là phiên bản giới hạn nhằm kỷ niệm 50 năm mặt hàng này xuất hiện tại Nhật Bản, nhưng giờ đây có ý nghĩa như một di sản của nữ họa sĩ.[84]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b “Death of Chibi Maruko-chan Creator Marks End of Era” [Cái chết của tác giả Nhóc Maruko đánh dấu sự kết thúc của một thời đại]. NHK World (bằng tiếng Anh). Tập đoàn Truyền hình Nhật Bản. 29 tháng 8 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2018. 
  2. ^ a ă â 地元・静岡市に献花台 早すぎる死、悲しみ広がる [Nỗi buồn thương lan tỏa, thành phố quê nhà Shizuoka với những vòng hoa tang dành cho người ra đi quá sớm]. Mainichi Shimbun (bằng tiếng Nhật). 28 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2018. 
  3. ^ 「地元愛あふれた方」静岡惜しむ声 [Những lời buồn từ Shizuoka: "Bà ấy rất yêu địa phương này"]. Mainichi Shimbun (bằng tiếng Nhật). 27 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2018. 
  4. ^ さくらももこさん 心からご冥福をお祈りいたします [Chúng tôi chân thành cầu nguyện cho Sakura Momoko] (bằng tiếng Nhật). Trường trung học Shimizu Nishi tỉnh Shizuoka. 30 tháng 8 năm 2018. Bản gốc lưu trữ 31 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2018. 
  5. ^ a ă さくらももこさん逝く「ちびまる子ちゃん」作者、53歳 国民的キャラ残し… [Tác giả quốc dân của Nhóc Maruko đã ra đi vĩnh viễn ở tuổi 53...]. Sports Nippon (bằng tiếng Nhật). 28 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2018. 
  6. ^ Gotou Yuki; Kawashima Yukari; Matsuo Yuko (tháng 11 năm 1995). “Famous Japanese – Sakura Momoko” [Người Nhật nổi tiếng – Sakura Momoko] (bằng tiếng Anh). Đại học Kyoto Sangyo. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2018. 
  7. ^ a ă さくらさん「現代の清少納言」高校時代から独特視点 [Thế giới quan độc đáo của Sakura từ trung học, "Sei Shōnagon thời hiện đại"]. Nikkan Sports (bằng tiếng Nhật). 28 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2018. 
  8. ^ a ă さくらももこさん 53歳=ちびまる子ちゃん原作者 [Sakura Momoko 53 tuổi: Mẹ đẻ của Nhóc Maruko]. Mainichi Shimbun (bằng tiếng Nhật). 27 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2018. 
  9. ^ a ă さくらももこさんの人生 仕事、家族、郷土愛、飲尿健康法他 [Cuộc đời Sakura Momoko: Sự nghiệp, gia đình, tình duyên, liệu pháp uống nước tiểu, v.v...]. News Post Seven (bằng tiếng Nhật). Shogakukan. 31 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2018. 
  10. ^ a ă さくらももこさん、乳がんで死去 「ちびまる子ちゃん」 [Sakura Momoko, "Nhóc Maruko", qua đời vì bệnh ung thư vú]. Asahi Shimbun (bằng tiếng Nhật). 27 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2018. 
  11. ^ a ă â 昭和の日常描く「ちびまる子ちゃん」平成を駆け抜けた [Cuộc sống thường nhật từ thời Showa đến Heisei nơi Nhóc Maruko]. Asahi Shimbun (bằng tiếng Nhật). 28 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2018. (cần đăng ký (trợ giúp)). 
  12. ^ a ă 「ちびまる子ちゃん」原作者・さくらももこさん、死去 乳がんのため53歳で… [Tác giả Nhóc Maruko, Sakura Momoko, qua đời vì bệnh ung thư vú]. Sports Hochi (bằng tiếng Nhật). 28 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2018. 
  13. ^ さくらももこさん、ありがとう 地元に悲しみ広がる まる子ちゃん施設に記帳台 書店には特設コーナーも [Cảm ơn bà Sakura Momoko, các hiệu sách địa phương dành một góc riêng chia buồn cùng Maruko]. FNN Prime (bằng tiếng Nhật). Fuji News Network. 28 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2018. 
  14. ^ a ă さくらももこさん死去、53歳 「ちびまる子ちゃん」 [Sakura Momoko, tác giả Nhóc Maruko, qua đời ở tuổi 53]. Chunichi Shimbun (bằng tiếng Nhật). 28 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2018. 
  15. ^ 【訃報】さくらももこさんが「ちびまる子ちゃん」以外に遺した名作の数々を振り返る! [[Tin tức] Nhìn lại những kiệt tác khác ngoài Nhóc Maruko của Sakura Momoko]. Middle Edge (bằng tiếng Nhật). DOM Inc. 28 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2018. 
  16. ^ Komatsu Mikikazu (28 tháng 8 năm 2018). “Chibi Maruko-chan Manga Author Momoko Sakura Passes Away at 53” [Tác giả manga Nhóc Maruko, Sakura Momoko, đã qua đời ở tuổi 53] (bằng tiếng Anh). Crunchyroll. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2018. 
  17. ^ 漫画家のさくらももこさん死去、53歳 「ちびまる子ちゃん」など [Họa sĩ manga Sakura Momoko qua đời ở tuổi 53, tác giả của Nhóc Maruko và nhiều tác phẩm khác]. Sankei Shimbun (bằng tiếng Nhật). 27 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2018. 
  18. ^ a ă さくらももこさん、作詞・エッセイ…漫画以外でも多才な活躍 [Sakura Momoko, tài năng đã lĩnh vực từ viết lời nhạc đến tiểu luận, không chỉ là tác giả manga] (bằng tiếng Nhật). Oricon. 27 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2018. 
  19. ^ a ă Yoshida Reiji (27 tháng 8 năm 2018). “Momoko Sakura, creator of ‘Chibi Maruko-chan,’ dies of breast cancer” [Sakura Momoko, tác giả của Nhóc Maruko, mất vì bệnh ung thư vú]. The Japan Times (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2018. 
  20. ^ Loo, Egan (20 tháng 1 năm 2012). “Chibi Maruko-chan's 1,000th Episode to Air in February” [Tập phim thứ 1.000 ngàn của Nhóc Maruko sẽ lên sóng vào tháng Hai] (bằng tiếng Anh). Anime News Network. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2018. 
  21. ^ a ă Pineda, Rafael Antonio (4 tháng 10 năm 2016). “Chibi Maruko-chan Creator to Launch Chibi Shikaku-chan Parody Manga Series” [Tác giả Nhóc Maruko ra mắt loạt manga nhại theo, Shikaku-chan] (bằng tiếng Anh). Anime News Network. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2018. 
  22. ^ 新風賞受賞作一覧 [Danh sách tác phẩm đoạt giải Văn học cách tân] (bằng tiếng Nhật). Shoten Shimpu-kai. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2018. 
  23. ^ 故 さくらももこさんを偲んで「さくらももこのオールナイトニッポン」の音声を放送 [Những hồi ức cuối cùng về Sakura Momoko qua chương trình phát thanh "All Night Nippon cùng Sakura Momoko"] (bằng tiếng Nhật). Đài Phát thanh Nippon. 28 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2018. 
  24. ^ さくらももこ氏ご逝去の報に際しまして [Thông tin về tác giả Sakura Momoko qua đời]. Big Comic Spirits (bằng tiếng Nhật). Shogakukan. 28 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2018. 
  25. ^ 「コジコジは、コジコジだよ」。名言の数々に、さくらももこさんの哲学が詰まっていた。 ["Coji-Coji là cozy cozy (ấm cúng) đấy. Nhiều dấu ấn trong triết lý của Sakura Momoko] (bằng tiếng Nhật). The Huffington Post Japan. 27 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2018. 
  26. ^ 「ちびまる子ちゃん」90年にアニメ歴代1位の視聴率39・9%記録 [Nhóc Maruko: Anime có tỷ suất khán giả cao nhất lịch sử vào năm 1990: 39,9%]. Sports Nippon (bằng tiếng Nhật). 28 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2018. 
  27. ^ Osawa Kimie (30 tháng 12 năm 2015). 静岡市が生んだ名作アニメの世界を体験「ちびまる子ちゃんランド」 [Trải nghiệm Chibi Maruko-chan Land, thế giới của kiệt tác anime ở thành phố Shizuoka] (bằng tiếng Nhật). Matcha. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2018. 
  28. ^ a ă エッセー漫画、ひとり雑誌…思いつきで仕事ハハハ…インタビュー(下) [Manga tiểu luận, tạp chí đơn, công việc từ những ý tưởng (cười)... phỏng vấn (bài cuối)]. Sakura Momoko Shimbun. Yomiuri Shimbun (bằng tiếng Nhật). 8 tháng 9 năm 2005. tr. 4. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2018. 
  29. ^ 富士山 第3号 [Phú Sĩ Sơn kỳ 3] (bằng tiếng Nhật). Books Seikindo. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2018. 
  30. ^ 「ワンマン雑誌」花盛り 作者の多面性伝える魅力 目立つホームページ感覚. Yomiuri Shimbun (bằng tiếng Nhật). 10 tháng 6 năm 2000. tr. 4. 
  31. ^ [id=22361 デビュー20年記念 「さくらももこワールド~20年の軌跡展」 [Kỷ niệm 20 năm debut: "Sakura Momoko World: Triển lãm kỷ niệm 20 năm"]] (bằng tiếng Nhật). Internet Museum Office. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2018. 
  32. ^ 「ちびまる子ちゃん」の実写ドラマ化決定です! [Quyết định sản xuất phim live action Nhóc Maruko] (bằng tiếng Nhật). Nippon Animation. 22 tháng 3 năm 2006. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2018. 
  33. ^ a ă Fujita Ryūichi (29 tháng 8 năm 2018). さくらももこさんが逝去 漫画家としてのルーツを「ひとりずもう」で知る [Sakura Momoko đã mất, tìm về cội rễ nghiệp vẽ manga của bà qua "Hitori Zumou"]. Zaikei Shimbun (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2018. 
  34. ^ Nakata Bonbe (7 tháng 3 năm 2015). あなたはどれを読んでた? 各新聞社の朝刊4コマの歴史「コボちゃん」「アサッテ君」「サザエさん」 [Bạn đang đọc báo nào? Lịch sử đăng 4-koma "Kobo-chan", "Asatte-kun", "Sazae-san" trên các báo buổi sáng] (bằng tiếng Nhật). Excite Japan. tr. 2. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2018. 
  35. ^ さくらももこ×シンガー琵奈子による新ユニット“イエローパープル”初ライブ記念特集 [Buổi hòa nhạc kỷ niệm đầu tiên của đơn vị "Yellow Purple" (Sakura Momoko × ca sĩ hinaco)]. Billboard Japan (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2018. 
  36. ^ デビュー30周年記念 さくらももこの世界展 ["Triển lãm thế giới của Sakura Momoko" kỷ niệm 30 năm] (bằng tiếng Nhật). Internet Museum Office. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2018. 
  37. ^ デビュー30周年記念「さくらももこの世界展」が新潟市新津美術館で開催 ["Triển lãm thế giới của Sakura Momoko" kỷ niệm 30 năm debut được tổ chức ở Bảo tàng Mỹ thuật Niitsu, thành phố Niigata]. Fashion Press (bằng tiếng Nhật). Carlin. 1 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2018. 
  38. ^ デビュー30周年記念 さくらももこの世界展 ["Triển lãm thế giới của Sakura Momoko" kỷ niệm 30 năm] (bằng tiếng Nhật). Bảo tàng Manga Kitakyushu. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2018. 
  39. ^ a ă Ichihara Shoji (16 tháng 7 năm 2015). “Chibi Maruko-chan: 25 years of happy TV hijinks” [Nhóc Maruko: 25 năm TV hạnh phúc]. AsiaOne (bằng tiếng Anh). Singapore Press Holdings. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2018. 
  40. ^ Takahashi Katsunori (12 tháng 6 năm 2015). 台湾に「ちびまる子ちゃん」の大型イベント アニメ化25周年記念展の開催決定 [Sự kiện lớn "Nhóc Maruko" đang đến Đài Loan; tổ chức triển lẫm kỷ niệm 25 năm anime ra đời]. AnimeAnime.jp (bằng tiếng Nhật). IID. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2018. 
  41. ^ “Chibi Maruko-chan 25th anniversary exhibition in Macao” [Triển lãm kỷ niệm 25 năm Nhóc Maruko ở Macao]. China Daily (bằng tiếng Anh). 1 tháng 7 năm 2016. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2018. 
  42. ^ さくらももこ、『グランドジャンプ』で10月より新連載 [Sakura Momoko có tác phẩm mới vào tháng 10 trên Grand Jump] (bằng tiếng Nhật). Oricon. 22 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2018. 
  43. ^ a ă Pineda, Rafael Antonio (29 tháng 8 năm 2018). “Momoko Sakura's GJ8 Man Anime Goes on Hiatus Until October After Her Passing” [Anime GJ8man của Sakura Momoko không thể tiếp tục sau sự ra đi của bà] (bằng tiếng Anh). Anime News Network. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2018. 
  44. ^ 『ちびまる子ちゃん」作者さくらももこさん、乳がんで死去 享年53 [Tác giả Nhóc Maruko, Sakura Momoko, qua đời ở tuổi 53 vì bệnh ung thư vú] (bằng tiếng Nhật). Oricon. 27 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2018. 
  45. ^ “Tác giả "Nhóc Maruko" qua đời”. NHK World. Tập đoàn Truyền hình Nhật Bản. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2018. 
  46. ^ a ă ちばてつや「漫画界に大きな損失」 [Chiba Tatsuya: "Mất mát to lớn của ngành truyện tranh Nhật Bản]. Mainichi Shimbun (bằng tiếng Nhật). 27 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2018. (cần đăng ký mua (trợ giúp)). 
  47. ^ さくらももこさん死去に、悲しみの声相次ぐ [Sakura Momoko qua đời, liên tiếp những thông điệp thương tiếc]. Sports Hochi (bằng tiếng Nhật). 28 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2018. 
  48. ^ さくらさん、増刷85万部 「ちびまる子ちゃん」など [In tiếp 850.000 bản Nhóc Maruko và những tác phẩm khác của Sakura]. Nihon Keizai Shimbun (bằng tiếng Nhật). 31 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2018. 
  49. ^ まる子の類いまれなギャグ、雑誌を越えた りぼん編集長 [Nét chấm phá gây cười của Maruko vượt qua khuôn khổ một tạp chí, từ trưởng ban biên tập Ribon]. Asahi Shimbun (bằng tiếng Nhật). 27 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2018. 
  50. ^ さくらももこさん死去 まる子声優TARAKO沈痛「早すぎます」【コメント全文】 [Sakura Momoko qua đời, diễn viên lồng tiếng Maruko, Tarako, thảng thốt: "Quá đột ngột" [Toàn văn]] (bằng tiếng Nhật). Oricon. 27 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2018. 
  51. ^ a ă さくらさん悼む投稿続々 岡本真夜さん、吉本ばななさん [Liên tiếp các thông điệp thương tiếc Sakura: Okamoto Mayo, Yoshimoto Banana]. Asahi Shimbun (bằng tiếng Nhật). 28 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2018. 
  52. ^ Sherman, Jennifer (28 tháng 8 năm 2018). “Industry Responds to Chibi Maruko-chan Manga Creator Momoko Sakura's Death” [Ngành công nghiệp phản ứng trước cái chết của Sakura Momoko, tác giả manga Nhóc Maruko] (bằng tiếng Anh). Anime News Network. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2018. 
  53. ^ “Chinese fans mourn death of creator of anime "Chibi Maruko-chan"” [Người hâm mộ Trung Quốc thương tiếc sự ra đi của tác giả anime Nhóc Maruko] (bằng tiếng Anh). Kyodo News. 28 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2018. 
  54. ^ 漫画家 さくらももこさん死去 海外からも哀悼の声 [Tác giả manga Sakura Momoko, lời chia buồn từ nước ngoài] (bằng tiếng Nhật). Tập đoàn Truyền hình Nhật Bản. 28 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2018. 
  55. ^ 海外からも さくらももこさん追悼 “まるちゃん”人気アジアに [Tưởng nhớ Sakura Momoko ở nước ngoài, "Maru-chan" nổi tiếng tại châu Á]. FNN Prime (bằng tiếng Nhật). Fuji News Network. 28 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2018. 
  56. ^ さくらももこさん死去、中国でも速報、ネットは悲しみに包まれる=「つらい…」「思い出をありがとう」 [Sakura Momoko qua đời, tin tức lan rộng cả ở Trung Quốc, Internet tràn ngập những "buồn thương", "cảm ơn những kỷ niệm"] (bằng tiếng Nhật). Record China. 27 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2018. 
  57. ^ a ă Trương Hành Kiện (28 tháng 8 năm 2018). “Internet pours sorrow to death of 'Chibi Maruko-chan' creator” [Internet chìm trong nỗi buồn vì cái chết của tác giả Nhóc Maruko]. China Daily (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2018. 
  58. ^ Ban Thời sự (28 tháng 8 năm 2018). “Tác giả truyện tranh "Nhóc Maruko" qua đời”. Đài Truyền hình Việt Nam. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2018. 
  59. ^ a ă “Creator of "Chibi Maruko-chan" manga dies of breast cancer” [Tác giả manga Nhóc Maruko qua đời vì ung thư vú] (bằng tiếng Anh). Kyodo News. 27 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2018. 
  60. ^ a ă â Jackson, Dory (27 tháng 8 năm 2018). “Manga Author Momoko Sakura, Creator of 'Chibi Maruko Chan,' Dead at 53” [Tác giả manga Sakura Momoko, mẹ đẻ của Nhóc Maruko, qua đời ở tuổi 53]. Newsweek (bằng tiếng Anh). Newsweek Media Group. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2018. 
  61. ^ Vũ Nghiên (27 tháng 8 năm 2018). 日本人氣漫畫「櫻桃小丸子」作者癌逝 官網感謝讀者溫馨支持 [Tác giả của manga nổi tiếng Nhóc Maruko qua đời, trang web chính thức cảm ơn độc giả vì đã luôn ủng hộ tác phẩm]. Taiwan News (bằng tiếng Trung). Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2018. 
  62. ^ さくらももこ、音楽好きで尊敬するマンガ家はガロ系……知られざる”サブカルクィーン”な素顔 (bằng tiếng Nhật). Cyzo. 28 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2018. 
  63. ^ さくらももこさん死去 ファン心配する最愛の息子めろんの傷心. Josei Jishin (bằng tiếng Nhật). Kobunsha. 28 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2018. 
  64. ^ ちびまる子ちゃんファン涙 西城秀樹さんに続き、さくらももこさんまで… [Người hâm mộ Nhóc Maruko khóc: "Sakura Momoko đã đi theo Saijō Hideki"]. Sports Nippon (bằng tiếng Nhật). 27 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2018. 
  65. ^ 「尾田っち」「ももちゃん」…イラストで“仲間”送る ["Odatchi", "Momochan"... tranh vẽ "bằng hữu"]. Nikkan Sports (bằng tiếng Nhật). 29 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2018. 
  66. ^ a ă â まるい笑顔 輝いた 子どもの日常 絶妙な笑い [Người tạo nên những tiếng cười tinh tế mỗi ngày nơi trẻ nhỏ]. Tokyo Shimbun (bằng tiếng Nhật) (Chunichi Shimbun). 28 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2018. 
  67. ^ 吉本ばなな「まるちゃんをありがとう」 [Yoshimito Banana: "Cảm ơn bé Maru"]. Mainichi Shimbun (bằng tiếng Nhật). 27 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2018. 
  68. ^ Sakura Momoko (tháng 5 năm 1992). ももこのしゃべりことば [Lời nói của Momoko] (bằng tiếng Nhật). Đài phát thanh Nippon. ISBN 978-4-594-00939-7. 
  69. ^ FC東京・長谷川健太監督、さくらももこさん追悼 小学校の同級生で『ちびまる子』にも登場 [Ông Chủ FC Tokyo Hasegawa Kenta tưởng nhớ Sakura Momoko; ông là bạn cùng lớp tiểu học và cũng xuất hiện trong Nhóc Maruko] (bằng tiếng Nhật). Oricon. 27 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2018. 
  70. ^ Noritaka Hamazaki (2002). 僕、はまじ。 [Boku, Hamaji.] (bằng tiếng Nhật). Sakura Momoko minh họa. Saizusha. ISBN 978-4-88392-244-4. 
  71. ^ a ă “Sadness expressed in Chibi Maruko-chan creator’s hometown; Chinese fans also react” [Quê nhà của tác giả Nhóc Maruko chìm trong nỗi buồn; fan Trung Quốc cũng bày tỏ cảm xúc]. The Japan Times (bằng tiếng Anh). 28 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2018. 
  72. ^ さくらももこさん、落語家になりたかった 幻に終わった小朝への弟子入り [Sakura Momoko từng mơ ước làm một người kể chuyện rakugo và thành đệ tử của Koasa]. Sports Hochi (bằng tiếng Nhật). 28 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2018. 
  73. ^ ほのぼの世界、ほのかな毒気 さくらももこさんを悼む いしかわじゅんさん、中森明夫さん. Asahi Shimbun (bằng tiếng Nhật). 30 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2018. 
  74. ^ “RIP Momoko Sakura, creator of manga ‘Chibi Maruko-chan’” [Vĩnh biệt Sakura Momoko, tác giả Nhóc Maruko]. Vox Populi. Asahi Shimbun (bằng tiếng Anh). 29 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2018. 
  75. ^ Lee, William (2000). “From Sazae-san to Crayon Shin-chan: Family Anime, Social Change, and Nostalgia in Japan” [Từ Sazae-san đến Shin - cậu bé bút chì: Anime gia đình, chuyển biến xã hội và sự hoài niệm ở Nhật Bản]. Trong Craig, Timothy J. Japan Pop: Inside the World of Japanese Popular Culture [Bên trong thế giới của văn hóa đại chúng Nhật Bản] (bằng tiếng Anh). Armonk, New York: M. E. Sharpe. tr. 195–199. ISBN 978-0-585-38331-6. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2018. 
  76. ^ 漫画家 さくらももこさん死去 「ちびまる子ちゃん」の作者 [Mangaka Sakura Momoko, tác giả Nhóc Maruko, qua đời] (bằng tiếng Nhật). Tập đoàn Truyền hình Nhật Bản. 27 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2018. 
  77. ^ 著者:さくらももこ [Tác giả: Sakura Momoko]. Media Arts Database (bằng tiếng Nhật). Nhật Bản: Cục Văn hóa. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2018. 
  78. ^ ももこの21世紀日記 [Momoko no 21 Seiki Nikki] (bằng tiếng Nhật). Gentosha. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2018. 
  79. ^ ももこの21世紀日記 N’08 [Momoko no 21 Seiki Nikki N'08] (bằng tiếng Nhật). Gentosha. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2018. 
  80. ^ ももこのまんねん日記 [Momoko no Mannen Nikki] (bằng tiếng Nhật). Shūeisha. Tháng 3 năm 2010. ISBN 978-4-08-771330-5. 
  81. ^ ももこのまんねん日記 2011 [Momoko no Mannen Nikki 2011] (bằng tiếng Nhật). Shūeisha. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2018. 
  82. ^ ももこのまんねん日記 2012 [Momoko no Mannen Nikki 2012] (bằng tiếng Nhật). Shūeisha. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2018. 
  83. ^ Hodgkins, Crystalyn (9 tháng 10 năm 2016). “Momoko Sakura's 'GJ8 Man' Character Gets English-Subtitled Net Anime Series” [GJ8 Man của Sakura Momoko có anime mạng phụ đề tiếng Anh] (bằng tiếng Anh). Anime News Network. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2018. 
  84. ^ Masuda Hiroki (28 tháng 8 năm 2018). 遺作イラストの「ニベア」9月発売 [Nivea công bố sản phẩm có di sản minh họa vào tháng 9]. Mainichi Shimbun (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2018. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]