Thám tử lừng danh Conan

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Thám tử lừng danh Conan
Detective conan cover 1.jpg
Bìa tập đầu tiên của bộ truyện (Bản Tiếng Nhật)
Thể loại Hài hước, trinh thám
Manga
Tác giả Aoyama Gōshō
Nhà xuất bản Nhật Bản Shogakukan
Đối tượng Shōnen
Tạp chí Nhật Bản Shōnen Sunday
Malaysia Weekly Comic (漫画周刊)
Thái Lan Neoz
Phát hành 1994nay
Số tập 89+ (danh sách tập)
Anime
Đạo diễn Kodama Kenji, Yamamoto Yasuichiro
Hãng phim Tokyo Movie Shinsha (TMS)
Phát sóng 18 tháng 1, 1996nay
Số tập 800+ (danh sách tập)
Anime
Kudō Shin'ichi he no Chōsenjō Sayonara Made no Joshō (prologue)
Đạo diễn Tanaka Toshizaku
Phát sóng 2 tháng 10, 200617 tháng 12, 2007
Số tập 2
Liên quan

Phim (19), OVA (12), Magic File (5)

Biểu tượng chủ đề Chủ đề Anime và Manga

Meitantei Conan名探偵コナン (?) là một bộ truyện tranh Nhật Bản (manga) thuộc loại trinh thám được vẽ và minh họa bởi Aoyama Gosho. Xê-ri này ban đầu là những chương truyện nhỏ được đăng trên tuần báo Shōnen Sunday của Shogakukan từ 19 tháng 1, 1994 sau đó được đóng thành các tập tankōbon. Tại Việt Nam bộ truyện được Nhà xuất bản Kim Đồng ấn hành dưới tựa Thám tử lừng danh Conan [1] Tác phẩm xoay quanh câu chuyện về chàng thám tử học sinh Kudo Shinichi trong một lần đang điều tra bị thành viên Tổ chức Áo Đen bắt uống thuốc độc khiến cơ thể teo nhỏ và trở thành Edogawa Conan.

Xê-ri cũng được chuyển thể thành phim hoạt hình (anime) bởi Yomiuri Telecasting Corporation và TMS Entertainment . Tiếp nối anime, nhiều tập phim chủ đề, ngoại truyện (OVA), trò chơi điện tử, đĩa nhạc, phim live action cũng được ra đời. Riêng anime được Tri Viet Media mua bản quyền và phát sóng tại Việt Nam trên kênh HTV3 với tên Conan - Thám tử lừng danh. Các tập tankōbon manga đã bán được khoảng 140 triệu bản tại Nhật Bản. Năm 2001, nhận được Giải Manga Shogakukan lần thứ 46 cho hạng mục shōnen.


Cốt truyện[sửa | sửa mã nguồn]

Kudo Shinichi là một thám tử trung thỉnh thoảng giúp cảnh sát phá giải các vụ án .[2] Trong một lần khi đang điều tra, cậu bị thành viên của Tổ chức Áo đen phát hiện. Chúng cho cậu uống thử loại độc dược tổ chức vừa điều chế ra nhưng chất độc này không giết chết cậu mà khiến cơ thể cậu trở thành hình dạng một đứa trẻ .[3] Sau đó, cậu đổi tên thành Edogawa Conan sống tại nhà thám tử Mori Kogoro. Xuyên suốt xê-ri cậu âm thầm hỗ trợ phá các vụ án bên cạnh ông Mori .[4] Đồng thời cậu cũng phải đi học lại tiểu học, kết bạn được nhiều người và lập ra Đội thám tử nhí .

Về sau một học sinh tiểu học bất đắc dĩ khác tên là Haibara Ai tiết lộ rằng cô ấy chính là người đã tạo ra thuốc teo nhỏ . Vì muốn tách khỏi băng nhóm nên bị tổ chức cho uống thuốc như Kudo.[5] Trong một vài vụ án liên quan đến Tổ chức Áo đen, Conan đã hỗ trợ các điệp viên của FBI và CIA.[6]

Năm 2007, Aoyama đã lên kế hoạch cho cái kết cho xê-ri nhưng đến hiện tại vẫn chưa ra mắt [7]

Nhân vật chính[sửa | sửa mã nguồn]

Tên các nhân vật dưới đây theo thứ tự lần lượt là tên Nhật viết theo truyện tiếng Việt, được viết theo lối phương Tây (tên riêng rồi đến họ), tên gốc tiếng Nhật và tên theo truyện của Mỹ, Canada và Anh.
  • Kudo Shinichi (工藤 新一 Kudō Shin'ichi, Công Đằng Tân Nhất'?) / Jimmy Kudo: một thám tử học cấp III đang ở trong hình dạng của một cậu bé với bí danh Edogawa Conan ( 江戸川コナン?). Sinh ngày: 4 tháng 5. Tên Kudo Shinichi dịch sang tiếng Việt nghĩa là "Sự thật duy nhất".[8]
  • Mori Ran (毛利 蘭 Mōri Ran, Mao Lợi Lan?) / Rachel Moore: bạn thân nhất của Shinichi từ thuở nhỏ. Hai người yêu nhau nhưng họ chưa bao giờ có đủ dũng khí để thổ lộ tình cảm cho đối phương. Cô ấy có khả năng về võ thuật và là một thành viên của đội karate trường trung học Teitan. Cô giành hầu hết thời gian ở nhà để chăm sóc Conan (cô vẫn chưa biết đó chính là Shinichi) và người cha tắc trách của mình, thám tử Mori Kogoro. Tên cô bắt nguồn từ tên cha nuôi "Maurice Leblanc" của nhân vật Arsene Lupin trong truyện "Quý ông đạo tặc". Ngày sinh của Ran hiện chưa được tác giả tiết lộ.
  • Mori Kogoro (毛利 小五郎 Mōri Kogorō, Mao Lợi Tiểu Ngũ Lang?) / Richard Moore: bố của Ran, một cảnh sát bị sa thải và là một thám tử tư kém cỏi. Ông kết hôn với bà Kisaki Eri(Eva Kadan), một luật sư thành đạt và xinh đẹp. Hiện tại họ đang sống ly thân. Mặc dù có lối sống vô trách nhiệm, ông ta rất quan tâm chăm sóc đến cô con gái, và đôi khi thể hiện danh dự và đạo đức nghiêm khắc.
  • Agasa Hiroshi (阿笠 博士 - Á Lạp Bác Sỹ?) (Agasa Hiroshi, hay Agasa-hakase) - ông tiến sĩ hàng xóm của Shinichi. Ông là một thiên tài sáng chế, đã tạo ra rất nhiều phát minh giúp cho Shinichi thích ứng được với thân hình bị teo nhỏ.
  • Haibara Ai (宮野志保 Miyano Shiho, Cung Dã Chí Bảo/灰原 哀 Haibara Ai, Hôi Nguyên Ai?): Mật danh trong tổ chức Áo Đen là Sherry ((シェリー)?), tên thật là Miyano Shiho (Cung Dã Chi Bảo). Trước đây là một thành viên của Tổ chức Áo đen. Cô bị cấp trên dối gạt chế tạo loại thuốc độc APTX-4869, thực chất đó là loại thuốc giết người đã làm Shinichi bị teo nhỏ. Về sau khi phát hiện ra sự thực, cô đã tìm cách trốn khỏi Tổ chức nhưng bị chúng nhốt vào hầm tối, bắt nhịn đói khát mà chết. Rơi vào đường cùng, cô nuốt viên thuốc với ý định tự sát nhưng lại bị teo nhỏ. Trốn thoát khỏi Tổ chức với thân hình một bé gái, cô đã được tiến sĩ Agasa nhận nuôi và trở thành bạn của Edogawa Conan.
  • Siêu trộm Kid (怪盗キッド Kaitō Kiddo, Quái Đạo Kid?): Tên thật là Kaitou Kuroba, sinh ngày 21 tháng 6 (cùng ngày với tác giả). Đây là một nhân vật với khả năng biểu diễn ảo thuật đặc biệt, còn có biệt danh KID 1412 (tên do Kudo Yusaku đặt cho), trở nên nổi tiếng với 134 vụ trộm cắp 152 món đồ quý giá. Là siêu trộm bị cảnh sát khắp thế giới truy lùng. Anh có biệt tài trong việc cải trang, thay đổi giọng nói và không bao giờ để lại dấu vết gì trong các vụ trộm. Kid và Conan cùng truy đuổi một tổ chức chính là bọn Mafia Nhật (Yakuza).

Manga[sửa | sửa mã nguồn]

Truyện tranh Thám tử lừng danh Conan lần đầu tiên xuất hiện là vào ngày 19 tháng 1 năm 1994 trên tuần san Shōnen Sunday của Shogakukan, thời điểm lên ngôi của manga trinh thám sau khi loạt truyện Thám tử Kindaichi ra mắt [9][10][11] . Tác giả Aoyama đã lấy cảm hứng cho câu truyện của mình từ Arsène Lupin, Sherlock Holmes, và loạt phim về samurai của Akira Kurosawa .[12] . Ông nói rằng ông thường dành ra 4 tiếng để nghĩ cốt truyện cho một vụ án bình thường, và 12 tiếng cho những vụ phức tạp [7][13] . Mỗi vụ thường kéo dài trong nhiều chương, và cuối cùng thường được giải quyết khi các nhân vật giải thích động cơ và thủ đoạn của thủ phạm [14] . Một trang chủ có chứa mọi thông tin về các vụ án, nhân vật trong toàn thể bộ truyện đã được mở vào năm 2007 [15][16] .

Trong số những bộ manga dài nhất Nhật Bản, Thám tử lừng danh Conan đứng ở vị trí thứ 22 với gần 900 chương đã được phát hành. Các chương này được tập hợp lại thành từng tập truyện, tập đầu tiên phát hành vào ngày 18 tháng 6 năm 1994 [17]. Các phụ tá của Aoyama Gosho cũng tự vẽ và phát hành 36 tập truyện Conan, mà ở Việt Nam gọi là "Thám tử lừng danh Conan - bộ đặc biệt". [18][19]

Cho đến nay, bộ truyện đã được phát hành tại các quốc gia: Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam, Indonesia, Thái Lan, Anh, Pháp, Đức, Áo, Thụy Sĩ, Thụy Điển, Na Uy, Phần Lan, Đan Mạch, Italia, Tây Ban Nha, Hoa Kỳ, Canada...

Chuyển thể[sửa | sửa mã nguồn]

Anime[sửa | sửa mã nguồn]

Truyện được chuyển thể thành Anime dài tập bởi TMS Entertainment và Yomiuri Telecasting Corporation, do Kenji Kodama và Yasuichiro Yamamoto đạo diễn [20][21] .Mỗi tập thường kéo dài khoảng 25 phút, tuy nhiên cũng có những tập đặc biệt kéo dài 1 giờ, 2 giờ, hoặc 2,5 giờ. Tập đầu tiên được phát sóng trên Nippon Television Network System (NTV) (Nhật Bản) vào ngày 8 tháng 1 năm 1996 [22][23][24]. Cho đến nay, hơn 800 tập đã được phát sóng, đưa bộ phim này lên vị trí thứ 15 trong số những phim hoạt hình nhiều tập nhất tại Nhật Bản [25] [26]. Ban đầu, khoảng từ tháng 6 năm 1996 đến tháng 10 năm 2006, sau khi phim được chiếu trên truyền hình, Shogakukan sẽ tập hợp chúng lại và phát hành dưới dạng các băng cát sét VHS. 426 tập phim đã được phát hành theo dạng này cho đến khi Shogakukan quyết định ngừng lại để chuyển sang phát hành ở dạng đĩa DVD, bắt đầu từ tập đầu tiên [27]. Để kỉ niệm 15 năm ra mắt, xê-ri cũng được cung cấp trên video on demand [28][29]

Tháng 7 năm 2003, nhà xuất bản FUNimation tuyên bố họ sẽ cấp bản quyền phát hành Thám tử lừng danh Conan tại Bắc Mĩ, dưới tên gọi "Case Closed", do tên gọi Conan trùng với tên nhân vật của một bộ truyện khác mang tên "Conan the Barbarian" (Conan, Kẻ thô lỗ), mặc dù Conan ở đây chỉ là tên gọi thường như trong trường hợp Conan O'Brien vậy. Phim cũng được ra mắt trong nhiều ngôn ngữ khác như tiếng Pháp, Đức và Ý [30][31][32]. Trên kênh Cartoon Network trong chương trình Adult Swim 50 tập được Funimation pháp sóng vào 24 tháng 5, 2004 do tỉ lệ người xem thấp [33][34]. Kênh truyền hình YTV của Canada đã lên sóng 22 tập phim từ 7 tháng 4, 2006 đến 2 tháng 9, 2006 [35][36][37]. Funimation đã chiếu xê-ri trên kênh [[Funimation Channel]] ngày sau kênh này thành lập vào tháng 11, 2005 và tạm thời được Funimation Channel cung cấp trên Colours TV [38][39]. Một phiên bản tiếng Anh riêng lẻ của Animax Asia ra mắt tại Philippines vào ngày 18 tháng 1, 2006, dưới tên Detective Conan [40][41]. Vì Animax không có mua thêm bản quyền phát sóng nên phiên bản này chỉ gồm 52 tập [42]. Sau đó được chiếu đi chiếu lại cho đến ngày 7 tháng 8, 2006 được gỡ xuống [43]. Funimation cũng đã phát hành DVD phiên bản gốc từ 24 tháng 8, 2004 [44]. Ban đầu, các DVD được phát hành dưới dạng đĩa đơn nhưng sau được phát hành trong hộp chia theo mùa; có tổng cộng 130 tập đã được phát hành. [45]

Phim điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Có 19 phim chủ đề dưạ trên Thám tử lừng danh được công chiếu. Các phim do TMS Entertainment tạo hình và được sản xuất bởi Yomiuri Telecasting Corporation, Nippon Television, ShoPro và Toho.[46] Bảy tập phim đầu tiên được đạo diễn bởi Kenji Kodama từ tập 8 đến 18 được đạo diễn bởi Yasuichiro Yamamoto, và từ tập 16 trở đi được đạo diễn bởi Kobun Shizuno. Phim được công chiếu định kì vào tháng tư hằng năm với phim đầu tiên là Thám tử Conan: Quả bom chọc trời 1997.[47] và phim thứ 18 Thám tử Conan: Sát thủ bắn tỉa không tưởng được công chiếu vào 19 tháng 4, 2014.[48] Phim thứ hai lọt vào danh sách 20 phim anime có doanh thu cao nhất tại Nhật Bản [49][50] Lợi nhuận từ doanh thu của phim được Toho tài trợ cho các dự án điện ảnh khác .[51] Mỗi phim được chuyển thể thành truyện tranh phát hành vào quý tư cùng năm.[52][53] Funimation đã phát hành sáu phim đầu tiên phiên bản lồng tiếng Anh DVD ở Khu vực 1 từ 3 tháng 10, 2006 đến 16 tháng 2, 2010.[54][55]

Ngoại truyện (OVA)[sửa | sửa mã nguồn]

Hai tập OVA được TMS Entertainment, Nippon Television và Yomiuri Telecasting Corporation sản xuất. Mỗi năm Xê-ri OVA Shōnen Sunday Original Animation được Weekly Shōnen Sunday đặt hàng.[56]Ban đầu Shōnen Sunday Original Animation nằm trong số phát hành thứ 26 năm 2000 của Weekly Shōnen Sundayvới 11 tập OVA được phát hành vào năm 2011.[57][58] Chín tập OVA đầu tiên sau này được tập hợp thành bốn DVD mang tựa Secret Files được phát hành từ tháng 3 , 2006 đến 9 tháng 4, 2010.[59][60] OVA thứ hai Magic File được phát hành dưới dạng direct-to-DVD. Magic File đầu tiên được phát hành vào ngày 11 tháng 4, 2007, gồm 4 tập.[61] Từ Magic File tiếp theo bao nội dung có liên quan đến cốt truyện gốc .[62]

Đặc biệt[sửa | sửa mã nguồn]

Tập đặc biệt phát sóng trên truyền hình hai tiếng với tên Lupin III đối đầu Thám tử Conan (ルパン三世VS名探偵コナン Rupan Sansei Vāsasu Meitantei Konan?) sản xuất bởi TMS Entertainment, Nippon Television và Yomiuri Telecasting Corporation vào ngày 27 tháng 3, 2009.[63] Bộ phim được thông báo lần đầu trong số phát hành thứ 9 của Weekly Shōnen Sunday năm 2009.[64] Nội dung kể về Kudo khi còn là thám tử trung học điều tra về cái chết của Nữ hoàng Vespania trong lúc Arsène Lupin III từ xê-ri Lupin III đang cố gắng đánh cắp vương miện nữ hoàng. Tập đặc biệt này thu hút đến 19.5% tỉ lệ hộ gia đình xem tại Nhật Bản .[65] VAP đã phát hành trong tập đặc biệt này trong định dạng DVD và đĩa Blu-ray vào ngày 24 tháng 7, 2009.[66][67]

Trò chơi điện tử[sửa | sửa mã nguồn]

Một trong những đột phá của Thám tử lừng danh Conan là tham gia vào ngành công nghiệp trò chơi điện tử. Vào ngày 27 tháng 12, 1996, Detective Conan: Chika Yuuenchi Satsujin Jiken được Game Boy phát hành.[68] Sau đó, 20 trò chơi cùng với Detective Conan: Kako Kara no Zensōkyoku Prelude được Nintendo DSPlayStation Portable đặt hàng vào mùa xuân 2012 .[69] Hiện tại,các trò chơi chính chỉ phát hành tại Nhật Bản mặc dù Nobilis đã bản địa hóa Thám tử Conan: Tsuioku no Gensou cho khu vực PAL.[70] Hầu hết các trò chơi Detective Conan được phát hành trên Game Boy, Sony, WonderSwan và Nintendo DS được Bandai phát triển.[71][68][72][73][74] Banpresto phát triển thương hiệu Thám tử lừng danh trên Game Boy ColorGame Boy Advance còn Marvelous Entertainment phát triển Thám tử Conan: Tsuioku no Gensou .[70][75][76]

CD nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Ono Katsuo đã phổ nhạc và phối khí các bài hát trong hoạt hình Thám tử lừng danh Conan; sau đó phát hành thành nhiều đĩa CD.[20][77][78][79] Hai album có hình gồm các bài hát do diễn viên lồng tiếng nhân vật trong phim thể hiện cũng đã được phát hành .[80][81]Nhiều ca khúc chủ đề được thể hiện bởi các ca sĩ hoặc nhóm dòng nhạc pop như B'z, ZardGarnet Crow. Bốn bài hát đầu được Universal Music Group phát hành và tất cả những ca khúc về sau do Being Inc. phát hành[82][83]

Phim người đóng (Live Action)[sửa | sửa mã nguồn]

Bốn phim live action đặc biệt và một phim truyền hình không dựa trên xê-ri này được Yomiuri Telecasting Corporation và TMS entertainment tạo ra.[84] Hai tập đặc biệt đầu tiên phát sóng vào năm 2006 và 2007 trong phim Oguri Shun thủ vai chàng trai Kudo Shinichi và Kurokawa Tomoka vai Mori Ran.[84][85] Phim đặc biệt thứ ba và thứ tư được ra mắt vào năm 2011 và 2012 với Mizobata Junpei vai Shinichi và Ran do Kutsuna Shioli đóng.[86] Bảng phân vai này được sử dụng cho tập đặc biệt truyền hình phát sóng từ 7 tháng 7, 2011 đến 29 tháng 9, 2011.[87][88]

Tin liên quan[sửa | sửa mã nguồn]

Trong lễ kỉ niệm 50 của Weekly Shōnen SundayWeekly Shōnen Magazine, hai công ty đã hợp tác xuất bản tạp chí mười hai tuần một lần gồm các chương truyện của Thám tử lừng danh Conan của Weekly Shōnen SundayThám tử Kindaichi của Weekly Shōnen Magazine.[89] Tạp chí bắt đầu hoạt động từ 10 tháng 4, 2008 đến 25 tháng 9, 2008.[90][91]

Shogakukan cũng sản xuất nhiều quyển sách được chuyển thể từ xê-ri. Năm mươi tập truyện dài được phát hành ở Nhật Bản từ tháng 6, 1996 đến tháng 8, 2000, bao gồm 143  tập anime đầu tiên, dù nhiều tập được lược bỏ.[92][93][94][95] Năm truyện thêm mang tên 5 Juuyou Shorui (5重要書類?, lit. 5 Important Documents) được xuất bản từ tháng 7, 2001 đến tháng 1, 2002 và gồm các tập chọn lọc từ tập 162–219.[96][97] Mười ba sách chỉ dẫn chính thức được xuất bản từ tháng 6, 1997 đến tháng 4, 2009.[98][99] Shogakukan cũng xuất bản các tiểu thuyết,[100] sách về tiêu hoá,[101] sách giáo dục,[102] và sách đố vui.[103]

Phản hồi[sửa | sửa mã nguồn]

Truyện Thám tử lừng danh Conan bán được hơn 140 triệu quyển trên thị trường toàn cầu đánh dấu là xê-ri manga bán chạy nhất thứ 15 [104]. Ở Nhật Bản, các tập riêng lẻ thường xuất hiện trên danh sách các manga bán chạy nhất[105][106]. Là bộ truyện bán chạy nhất thứ 19 vào năm 2011 với 2,120,091 bản [107]. Tạp chí Nikkei Entertainment đã liệt kê tác giả bộ truyện vào top 50 người đứng đầu sáng tạo manga được bán từ tháng 1, 2010 cho đến số ra tháng 9, 2011; Aoyama Gosho, tác giả Thám tử lừng danh Conan xếp hạng thứ 16 với 3,320,000 bản bán ra[108]. Vào năm 2012 là manga thứ 17 bán chạy nhất với 2,430,572 bản [109]. Năm 2013 trở thành manga bán chạy nhất thứ 24 với triệu bản được bán ra [110]. Tác phẩm nhận được Giải Manga Shogakukan lần thứ 46 cho hạng mục shōnen vào năm 2001 [111] và trong cuộc thăm dò trực tiếp đối với công dân Nhật Bản ở giữa độ tuổi hai mươi thì mọi người bình chọn Thám tử lừng danh Conan là một trong ba manga mà mọi người muốn được tiếp tục xuất bản [112][113][114]. Tập đầu tiên bộ truyện từng ba lần xuất hiện trong danh sách top 10 bán chạy ngay sau khi ra mắt [115]. Tập này cũng từng xuất hiện trên danh sách xếp hạng của Diamond Comic Distributors. Các tập xuất bản sau cũng từng xuất hiện trên Danh sách manga nhiều người mua nhất trên New York Times [116][117][118][119]. Ở Pháp, xê-ri từng được đề cử cho giải truyện tranh trong Liên hoan Angoulême [120].


Phiên bản hoạt hình chuyển thể từ xê-ri cũng khá thành công ở Nhật Bản, hiện nằm trong top 6 xếp hạng truyền hình Nhật Bản mọi thời đại [121][122]. Theo một cuộc bình chọn do tạp chí Animage tổ chức từ năm 1996 đến năm 2001 phim nằm top 20 còn theo một cuộc bình chọn do mạng lưới truyền hình TV Asahi tổ chức vào năm 2005-2006 thì phim nằm ở vị trí thứ 23 trong top 100 anime.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Meitantei Conan trên trang web chính thức của NXB Kim Đồng”. Nhà xuất bản Kim Đồng. Truy cập 5 tháng 1, 2016. 
  2. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên FAQ
  3. ^ Aoyama, Gosho (7 tháng 9 năm 2004). “File 2”. Case Closed 1. Viz Media. tr. 44. ISBN 1-59116-327-7. 
  4. ^ Aoyama, Gosho (7 tháng 9 năm 2004). “File 2”. Case Closed 1. Viz Media. tr. 56–57. ISBN 1-59116-327-7. 
  5. ^ Aoyama, Gosho (17 tháng 1 năm 1998). “File 8. コードネーム・シェリー” [File 8. Code Name Sherry]. 名探偵 コナン [Detective Conan] (bằng tiếng Nhật). Volume 18. Shogakukan. ISBN 4-09-125048-3. 
  6. ^ Aoyama, Gosho (18 tháng 7 năm 2007). “File 7. 姉弟” [File 7. Older Sister and Younger Brother]. 名探偵 コナン [Detective Conan] (bằng tiếng Nhật). Volume 58. Shogakukan. ISBN 978-4-09-121155-2. 
  7. ^ a ă 「名探偵コナン、最終回の構想できている」 [Detective Conan's ending made] (bằng tiếng Nhật). Sankei Shimbun. 2 tháng 10 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 2 năm 2008. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2010. 
  8. ^ “Thám tử Conan và những khám phá lý thú cho tín đồ ghiền truyện trinh thám”. 
  9. ^ Furukawa, Takuya; Gene, Tim (25 tháng 3 năm 2008). The Case Closed Casebook: An Essential Guide. DH Publishing. ISBN 1-932897-30-5. 
  10. ^ Weekly Shōnen Sunday (bằng tiếng Nhật) (Shogakukan) 1994 (5).  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  11. ^ Detective Conan Official manga website” (bằng tiếng Nhật). Shogakukan. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2009. 
  12. ^ Case Closed- Profiles”. Viz Media. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2009. 
  13. ^ “Sankei Shimbun interview translated”. Anime News Network. 2 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2010. 
  14. ^ Amano, Masanao; Wiedemann, Julius (tháng 9 năm 2004). Manga Design. Volume 1. Taschen. ISBN 978-3-8228-2591-4. 
  15. ^ “Database Opens for Every Detective Conan's Case Closed”. Anime News Network. 29 tháng 5 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2009. 
  16. ^ Detective Conan database” (bằng tiếng Nhật). Shogakukan. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2010. 
  17. ^ Detective Conan Vol. 1” (bằng tiếng Nhật). Shogakukan. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2009. 
  18. ^ Detective Conan Special Edition 1” (bằng tiếng Nhật). Shogakukan. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2010. 
  19. ^ Detective Conan Special Edition 38” (bằng tiếng Nhật). Shogakukan. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2010. 
  20. ^ a ă Detective Conan staff” (bằng tiếng Nhật). Yomiuri Telecasting Corporation. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2009. 
  21. ^ “Detective Conan”. TMS Entertainment. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2010. 
  22. ^ Detective Conan airdates” (bằng tiếng Nhật). Stingray Co. Ltd. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2010. 
  23. ^ Detective Conan on Animax” (bằng tiếng Nhật). Animax. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2010. 
  24. ^ Detective Conan on YTV” (bằng tiếng Jepang). Yomiuri Telecasting Corporation. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2010. 
  25. ^ “YTV: Animation on the Web" (bằng tiếng Nhật). Yomiuri Telecasting Corporation. 18 tháng 2,2010. Truy cập 29 tháng 3, 2011.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)
  26. ^ “Detective Conan episode archive” (bằng tiếng Nhật). Yomiuri Telecasting Corporation. Truy cập 5 tháng 12, 2010. 
  27. ^ “Detective Conan Part 1" (bằng tiếng Nhật). Being Inc. Truy cập 8 tháng 12, 2012. 
  28. ^ “[Celebrate! 15th anniversary]” (bằng tiếng Nhật). Yomiuri Telecasting Corporation. Truy cập 27 tháng 11, 2010. 
  29. ^ “Detective Conan Video on Demand" (bằng tiếng Nhật). Yomiuri Telecasting Corporation. Truy cập 27 tháng 11, 2010. 
  30. ^ “Detective Conan by AB International" (bằng tiếng Pháp). AB International. Truy cập 31 tháng 3, 2011. 
  31. ^ “Detective Conan by M4E" (bằng tiếng Pháp). M4E. Truy cập 31 tháng 3, 2011. 
  32. ^ “Detective Conan "”. Mediaset.  Đã bỏ qua văn bản “ http://www.webcitation.org/5xbA9Ave6” (trợ giúp);
  33. ^ "Cartoon Network Upcoming Premieres". Anime News Network. 18 tháng 4, 2004. Truy cập 5 tháng 5, 2009. 
  34. ^ "Adult Swim Anime Plans". Anime News Network. 22 tháng 1, 2005. Truy cập 5 tháng 5, 2009. 
  35. ^ "Case Closed – Anime on YTV". YTV. Truy cập 13 tháng 4, 2009. 
  36. ^ "The Click April 8th – April 14th". Anime News Network. Truy cập 5 tháng 12, 2010. 
  37. ^ "The Click August 26th – September 1st". Anime News Network. Truy cập 5 tháng 12, 2010. 
  38. ^ "Funimation Channel". Funimation. Truy cập 5 tháng 12, 2010. 
  39. ^ "Funimation Channel Debuts On Dish Network & LA 18". ICv2.com. Truy cập 5 tháng 12, 2010. 
  40. ^ “Detective Conan on Animax Asia". Animax Asia. Truy cập 5 tháng 12, 2010. 
  41. ^ "Animax Philippines schedule" (PDF). Animax Asia. Truy cập 5 tháng 12, 2010. 
  42. ^ "Animax FAQ". AXN Asia. Truy cập 5 tháng 12, 2010. 
  43. ^ "Animax Philippines schedule” (PDF). Animax Asia. Truy cập 5 tháng 12, 2010. 
  44. ^ "Case Closed 2: Deadly Illusions". Barnes & Noble. Truy cập 5 tháng 5, 2009. 
  45. ^ "Case Closed Season 5 Box Set". Barnes & Noble. Truy cập 28 tháng 11, 2010. 
  46. ^ Detective Conan: The Lost Ship in the Sky (bằng tiếng Nhật). Toho. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2010. 
  47. ^ Detective Conan movie archives” (bằng tiếng Nhật). Conan-movie.jp. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2011. 
  48. ^ “Detective Conan: Ijigen no Sniper Film Opens in April”. Anime News Network. 29 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2013. 
  49. ^ “Highest grossing movies of 1998 in Japan” (bằng tiếng Nhật). Motion Picture Producers Association of Japan. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2008. 
  50. ^ “Highest grossing movies of 2011 in Japan”. Motion Picture Producers Association of Japan. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2012. 
  51. ^ Berra, John (1 tháng 6 năm 2010). “Contemporary Blockbuster”. Directory of World Cinema: Japan. Intellect Ltd. ISBN 978-1-84150-335-6. 
  52. ^ Detective Conan Movie: The Time-Bombed Skyscraper Part 1” (bằng tiếng Nhật). Shogakukan. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2010. 
  53. ^ Detective Conan Movie: The Lost Ship in the Sky Part 2” (bằng tiếng Nhật). Shogakukan. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2011. 
  54. ^ “Case Closed: The Time Bombed Skyscraper - The Movie”. Barnes & Noble. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2010. 
  55. ^ “Case Closed Movie 6: The Phantom of Baker Street DVD (Hyb)”. The Right Stuf International. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2010. 
  56. ^ “New Conan vs. Kaitō Kid story in mail-away offer to readers”. Anime News Network. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2010. 
  57. ^ Weekly Shōnen Sunday (bằng tiếng Nhật) (Shogakukan) 2000 (46).  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  58. ^ “『名探偵コナン』特製DVD ~ロンドンからの㊙指令~特製DVD ~ロンドンからの㊙指令~” [Detective Conan Special DVD: The Secret Order from London] (bằng tiếng Nhật). Shogakukan. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 4 năm 2011. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2011. 
  59. ^ “名探偵コナン Secret File 1” [Detective Conan Secret File 1] (bằng tiếng Nhật). Toho. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2011. 
  60. ^ “名探偵コナン Secret File 4” [Detective Conan Secret File 4] (bằng tiếng Nhật). Toho. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2011. 
  61. ^ “名探偵コナン Magic File” [Detective Conan Magic File] (bằng tiếng Nhật). Visionare Corporation. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 6 năm 2008. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2011. 
  62. ^ “名探偵コナン Magic File 2” [Detective Conan Magic File 2] (bằng tiếng Nhật). Visionare Corporation. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2011. 
  63. ^ Lupin the 3rd vs. Detective Conan (bằng tiếng Nhật). Nippon Television. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2009. 
  64. ^ Weekly Shōnen Sunday (bằng tiếng Nhật) (Shogakukan) 2009 (9).  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  65. ^ “Japanese Anime TV Ranking, March 23–29”. Anime News Network. 6 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2011. 
  66. ^ Lupin III vs. Detective Conan (DVD)” (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2010. 
  67. ^ Lupin III vs. Detective Conan (Blu-Ray)” (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2010. 
  68. ^ a ă Detective Conan: Chika. GameSpot. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2010. 
  69. ^ Detective Conan: Prelude from the Past official website” (bằng tiếng Nhật). Namco Bandai Holdings. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2012. 
  70. ^ a ă “Case Closed: Mirapolis Investigation”. IGN. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2010. 
  71. ^ 名探偵コナン 〜夕暮れの皇女〜 [Detective Conan: Twilight Princess] (bằng tiếng Nhật). Bandai. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2010. 
  72. ^ 名探偵コナン 最高の相棒 [Detective Conan: Best Partner] (bằng tiếng Nhật). Bandai. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2010. 
  73. ^ 名探偵コナン 大英帝国の遺産 [Detective Conan: Legacy of the British Empire] (bằng tiếng Nhật). Bandai. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2010. 
  74. ^ Detective Conan: Detective Trainer. IGN. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2010. 
  75. ^ Detective Conan 1: Kakakuri Jin Satsujin Jiken. IGN. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2010. 
  76. ^ Detective Conan: Nerai Wareta Tantei. IGN. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2010. 
  77. ^ 「名探偵コナン」オリジナル・サウンドトラック 4〜急げ!少年探偵団〜 [Detective Conan Original Soundtrack 4 (Let's Go! Detective Boys)] (bằng tiếng Nhật). MSN. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2010. 
  78. ^ 名探偵コナンオリジナル サウンドトラック スーパーベスト 2 [Detective Conan: Original Soundtrack Super Best 2] (bằng tiếng Nhật). Universal Music Group. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2010. 
  79. ^ Detective Conan TV Original Soundtrack Selection Best. Neowing.co.jp. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2010. 
  80. ^ “ぼくがいる〜TVアニメ「名探偵コナン」イメージソングアルバム” [Detective Conan Image Song Album] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2010. 
  81. ^ 名探偵コナン・キャラクター・ソング集 帝丹小学校に全員集合!! [Detective Conan All Character Best Songs in School] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2010. 
  82. ^ “胸がドキドキ (Single)” [My Heart Pounds] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2010. 

    “Feel your Heart (Single)” (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2010. 

    “Step by Step (Single)” (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2010. 

    “迷宮のラヴァーズ (Single)” [Lovers of Labyrinth] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2010. 

    “Happy Birthday (Single)” (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2010. 

  83. ^ Detective Conan Theme Songs” (bằng tiếng Nhật). Being Inc. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2010. 
  84. ^ a ă Detective Conan: Shinichi Kudo's Written Challenge official website plot” (bằng tiếng Nhật). Yomiuri Telecasting Corporation. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 7 năm 2006. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2011. 
  85. ^ Detective Conan Drama 2 DVD” (bằng tiếng Nhật). HMV Group. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2011. 
  86. ^ “溝端淳平、実写版SPドラマ『名探偵コナン』で"2代目"工藤新一役に抜擢” [Mizohata Juntaira, Detective Conan TV Live action drama, Junpei Mizobata chosen as second generation Kudo] (bằng tiếng Nhật). Oricon. 9 tháng 2 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2011. 
  87. ^ “Kudo Shinichi he no Chosenjo episode 1” (bằng tiếng Nhật). Yomiuri Telecasting Corporation. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2011. 
  88. ^ “Kudo Shinichi he no Chosenjo episode 13” (bằng tiếng Nhật). Yomiuri Telecasting Corporation. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2011. 
  89. ^ “Shōnen Magazine, Shōnen Sunday Mark 50th Anniversary”. Anime News Network. 18 tháng 3 năm 2008. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2010. 
  90. ^ 名探偵コナン & 金田一少年の事件簿 [Detective Conan & Kindaichi Case Files] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2011. 
  91. ^ 名探偵コナン&金田一少年の事件簿(12) [Detective Conan & Kindaichi Case Files (12)] (bằng tiếng Nhật). Kodansha. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2011. 
  92. ^ “VS版 名探偵コナン1” [Detective Conan vol.1 (VS version)] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2011. 
  93. ^ “VS版 名探偵コナン25” [Detective Conan vol.25 (VS version)] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2011. 
  94. ^ “VS版 名探偵コナン Part II-1” [Detective Conan Part II-1 (VS version)] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2011. 
  95. ^ “VS版 名探偵コナン Part II-20” [Detective Conan Part II-20 (VS version)] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2011. 
  96. ^ “VS版 名探偵コナン 5つの重要書類1” [Detective Conan 5 important documents File 1 (VS version)] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2011. 
  97. ^ “VS版 名探偵コナン 5つの重要書類5” [Detective Conan 5 important documents (VS version) File 5] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2011. 
  98. ^ 名探偵コナン ミステリーミュージアム [Detective Conan Mystery Museum] (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2011. 
  99. ^ “ラブ・コナン the movie '09” [Conan, Love the movie '09] (bằng tiếng Nhật). Shogakukan. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2011. 
  100. ^ 小説 名探偵コナン [Detective Conan novels] (bằng tiếng Nhật). Shogakukan. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2010. 
  101. ^ スーパーダイジェストブック 名探偵コナン [Detective Conan super digest books] (bằng tiếng Nhật). Shogakukan. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2010. 
  102. ^ 名探偵コナン推理ファイル 人類の謎 [Detective Conan Mystery Human File] (bằng tiếng Nhật). Shogakukan. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2011. 
  103. ^ Detective Conan maze book” (bằng tiếng Nhật). Amazon.co.jp. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2011. 
  104. ^ “名探偵コナン : 謎の「黒ずくめ」に迫る新章開幕  豪華オールスターで” (bằng tiếng Nhật). Mantan Web. Truy cập 28 tháng 11, 2013.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  105. ^ "2008's Top-Selling Manga in Japan, #1–25". Anime News Network. 19 tháng 12, 2008. Truy cập 18 tháng 10, 2010. 
  106. ^ “Top-Selling Manga in Japan by Volume: 1st Half of 2010". Anime News Network. 2 tháng 6, 2010. Truy cập 18 tháng 10, 2010. 
  107. ^ "Top-Selling Manga in Japan by Series:2011". Anime News Network. Truy cập 18 tháng 11, 2013. 
  108. ^ "Top 50 Manga Creators by Sales Since 2010". Anime News Network. Truy cập 18 tháng 11, 2013. 
  109. ^ "30 Top-Selling Manga in Japan by Series: 2012". Anime News Network. Truy cập 18 tháng 11, 2013. 
  110. ^ "Top-Selling Manga in Japan by Series: 2013". Anime News Network. 1 tháng 12, 2013. Truy cập 1 tháng 1, 2014. 
  111. ^ “小学館漫画賞:歴代受賞者” [Shogakukan Manga Award: Winners] (bằng tiếng Jepang). Shogakukan. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2009. 
  112. ^ “小学館漫画賞: 歴代受賞者 [Shogakukan Manga Award: Winners] (in Japanese)” (bằng tiếng Nhật). Shogakukan. Truy cập 17 tháng 12, 2009. 
  113. ^ “【男性編】最終回を迎えてほしくないマンガラン キング [(Men's Edition) Which do you not want to see end Manga Poll]” (bằng tiếng Nhật). COBS online. Truy cập 23 tháng 1, 2011. 
  114. ^ “【女性編】最終回を迎えてほしくないマンガラン キング [(Women's Edition) Which do you not want to see end Manga Poll]” (bằng tiếng Nhật). COBS online.  Đã bỏ qua văn bản “accessdate23 tháng 1, 2011” (trợ giúp)
  115. ^ "Spiegelman's 'No Towers' Tops BookScan List". ICv2. 4 tháng 10, 2004. Truy cập 1 tháng 1, 2013. 
  116. ^ "Best Sellers Manga". The New York Times. Bản gốc lưu trữ |url lưu trữ= cần |ngày lưu trữ= (trợ giúp). Truy cập 27 tháng 10, 2010. 
  117. ^ “Best Seller Manga”. The New York Times. 1 tháng 5, 2011. Truy cập 30 tháng 9, 2012. 
  118. ^ “Best Seller Manga”. The New York Times. 1 tháng 5, 2011. Truy cập 30 tháng 9, 2012. 
  119. ^ “Best Seller Manga”. The New York Times. 1 tháng 5, 2011. Truy cập 30 tháng 9, 2012. 
  120. ^ "Compétition officielle — Sélection Jeunesse 2011" [Official Competition — Youth Selection 2011]” (bằng tiếng Pháp). Angoulême International Comics Festival. Truy cập 2 tháng 1, 2011. 
  121. ^ "Japanese Anime TV Ranking, April 23–29". Anime News Network. 8 tháng 5, 2007. Truy cập 7 tháng 12, 2010. 
  122. ^ "Japanese Anime TV Ranking, November 22– 28". Anime News Network. 5 tháng 12, 2010. Truy cập 7 tháng 12 , 2010.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]