Thích Phổ Tuệ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Hòa thượng
Thích Phổ Tuệ
釋普慧
Hoạt động tôn giáo
Tôn giáoPhật giáo
Trường pháiPhật giáo Bắc tông
Tông pháiLâm Tế tông
Xuất gia1923
chùa Quán
Khánh Phú, Yên Khánh, Ninh Bình
Thọ giớiSa di
1925
chùa Bút Tháp
Thuận Thành, Bắc Ninh
 Tỳ kheo và Bồ tát
1937
chùa Bút Tháp
Thuận Thành, Bắc Ninh
Nhiệm kỳ1961 – nay
Tiền nhiệmThích Quảng Tốn
Kế nhiệmđương nhiệm
Vị tríchùa Quang Lãng
Phú Xuyên, Hà Nội
Nhiệm kỳ2007 – nay
Tiền nhiệmThích Tâm Tịch
Kế nhiệmđương nhiệm
Thông tin cá nhân
SinhBùi Văn Quý
12 tháng 4, 1917 (103 tuổi)
Khánh Tiên, Yên Khánh, Ninh Bình
Quốc tịch Việt Nam
Trao tặngVietnam Hochiminh Order ribbon.png Huân chương Hồ Chí Minh
DharmaWheelGIF.gif Chủ đề:Phật giáo

Đại lão Hòa thượng Thích Phổ Tuệ (sinh năm 1917) là Đệ tam Pháp chủ (pháp chủ đời thứ ba) Hội đồng Chứng minh Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Quê ông là xã Khánh Tiên, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Đại lão Hòa thượng Thích Phổ Tuệ thế danh là Bùi Văn Quý, sinh ngày 12 tháng 4 năm 1917 tại thôn Phùng Thiện, xã Khánh Tiên, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình.[1] Sư xuất gia năm 1923, tại chùa Quán, xã Khánh Phú, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình. Khi 8 tuổi thụ Sa di giới, 20 tuổi thụ Đại giới Tỳ kheoBồ tát giới tại Đại giới Đàn chùa Bút tháp - Thuận Thành - Bắc Ninh năm 1937, cùng đàn thọ giới còn có người bạn thân thiết Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Bích, Sư đi sam học ở hầu hết các sơn môn lớn thời bấy giờ như: Tế Xuyên, Hương Tích... cuối cùng dừng chân tại Đa bảo sơn môn danh tiếng thứ 2 như câu ca dao " Nhất Đọi, Nhì Đa (đa bảo), thứ ba khê Hồi"

Sơn môn Viên Minh - Đa Bảo do Pháp Sư Nguyên Uẩn sáng lập năm 1900, sau đó do đệ Nhị tổ Thích Quảng Tốn trụ trì, năm 1961 HT. Thích Quảng Tốn viên tịch, Đại lão HT. Thích Phổ Tuệ về kế vị thầy tổ của mình làm trưởng sơn môn thứ ba của sơn môn Viên Minh - Đa bảo.

Không theo trào lưu du học Nhật bản những năm 1950 như các vị tăng thời đó, ông tu hành ẩn cư nơi thôn dã tại làng Ráng - Phú Xuyên - Hà Nội, sau 50 năm thọ đại giới năm 1987 pháp chủ đương thời phái 3 cao tăng: Kim Cương tử, Thích Thiện Siêu, Thích Tâm Thông tới trụ xứ mời ông lên Hà Nội đảm trách các chức vụ của giáo hội và chủ trì hiệu đính Đại Tạng Kinh Điển.

Từ năm 1953 đến 1958, HT. Thích Phổ Tuệ hoạt động Phật sự tại chùa Kim Đới, huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng. Từ năm 1987 đến nay, ông giữ nhiều chức vụ trong Phật giáo Việt Nam, Giáo hội Phật giáo Việt Nam:

  • Trụ trì Tổ đình Viên Minh Hà Tây;
  • Trưởng ban Trị sự Phật giáo tỉnh Hà Tây (1993 - 2008);
  • Hiệu trưởng trường Trung cấp Phật học tỉnh Hà Tây (1993 - 2008);
  • Ủy viên Kiểm soát Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam;
  • Phó chủ tịch Thường trực Hội đồng trị sự (1997 - 2007);
  • Viện trưởng Phân viện NCPHVN tại Hà Nội (2003 - 2007);
  • Tổng Biên tập tạp chí NCPH (2003 - 2007);
  • Phó Trưởng ban Giáo dục tăng ni trung ương;
  • Phó ban Ban Tăng sự trung ương (1997 - 2007);
  • Phó Pháp chủ kiêm Chánh Thư ký Hội đồng Chứng minh Giáo hội Phật giáo Việt Nam (2002 - 2007);
  • Pháp chủ Hội đồng Chứng minh Giáo hội Phật giáo Việt Nam (2007- nay);

Ông là người nổi tiếng tinh thông kim cổ và là người có đóng góp không nhỏ trong việc biên soạn và dịch thuật nhiều tác phẩm về Phật họcViệt Nam. Hiện sư đang trụ trì Viên Minh Tự (tên tục là chùa Ráng) huyện Phú Xuyên, Hà Nội. Ông nhiều năm liền giữ ngôi Đường Chủ của các trường hạ tại Hà Nội, Hưng Yên... cũng như Ngôi Hoà thượng đầu đàn trong rất nhiều Đại Giới Đàn ở các tỉnh.

Tại Đại hội Đại biểu Phật giáo Toàn quốc lần thứ VI (2007), HT. Thích Phổ Tuệ được Đại hội suy tôn ngôi vị Pháp chủ Hội đồng Chứng minh Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, trở thành Pháp chủ thứ ba của Giáo hội Phật giáo Việt Nam (Sau Đại lão Hòa thượng Thích Đức Nhuận và Đại lão Hòa thượng Thích Tâm Tịch).

Ngày 24 tháng 11 năm 2012, Đại hội Đại biểu Phật giáo Toàn quốc lần thứ VII đã thống nhất tái suy tôn Đại Trưởng lão Hòa thượng Thích Phổ Tuệ giữ ngôi vị Thiền gia Pháp chủ Hội đồng Chứng minh Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam.[2]

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Ông đóng góp lớn trong nhiều công trình nghiên cứu, biên soạn, dịch thuật về Phật học như: Đại từ điển Phật học, Đại Luật, Đại tạng kinh Việt Nam, Đề cương Kinh Pháp Hoa, Kinh Bách Dụ, Phật Tổ Tam Kinh, Phật học là tuệ học.

Phát biểu[sửa | sửa mã nguồn]

"Muốn sống lâu trước hết phải sạch sẽ từ thân đến tâm ... Về tinh thần, cần tu tâm dưỡng tính, tiết chế mọi ham muốn dục vọng, sống trong tinh thần lục hòa thì sẽ tăng được tuổi thọ. Nhưng dù sao, cũng không thể loại trừ được vô thường của sinh lão bệnh tử, vì đó là quy luật của mọi kiếp nhân sinh." [4]

"Suốt đời tôi chỉ mong được niệm Phật, cầu kinh, không mong cầu danh lợi... Xin các vị đừng gọi tôi là Pháp chủ mà hãy cứ nhìn tôi như một lão tăng thanh bần sống trong ngôi chùa làng là tôi mãn nguyện."[4]

"Sư là khuôn mẫu, mô phạm của loài người, chí ít là trong một cộng đồng người. Nếu không có đạo hạnh, không có trí tuệ thì lấy gì mà dạy người? Lấy gì làm gương tốt để mọi người noi theo?" [5]

Tôn vinh[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền nhiệm:
Thích Tâm Tịch
Pháp chủ
2007nay
Kế nhiệm:
-

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]