Trần Đông A

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Trần Đông A (sinh năm 1941) là một giáo sư, tiến sĩ Y khoa, bác sĩ ngoại nhi và chính khách Việt Nam. Ông được Sách Kỷ lục Guinness ghi danh sau ca mổ hai cháu bé song sinh dính nhau Việt - Đức.[1]. Nhà nước Việt Nam đã trao tặng Huân chương Lao động và danh hiệu Thầy thuốc Nhân dân vì những đóng góp của ông cho nền y học Việt Nam. Ông là đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa XI và XII đại diện cho Thành phố Hồ Chí Minh.[2]

Thân thế và sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh ngày 11 tháng 6 năm 1941 tại xã Hải Châu, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định[2].

Năm 1954, ông cùng gia đình lập nghiệp tại Sài Gòn. Ông tiếp tục việc học trung học của mình tại trường Trung học Hồ Ngọc Cẩn Sài Gòn. Một bạn học cùng khóa với ông, nhưng khác lớp, về sau cũng trở thành một bác sĩ nổi tiếng là Nguyễn Đan Quế[3]

Có tiếng là học giỏi, sau khi trường Hồ Ngọc Cẩn chuyển về tỉnh Gia Định năm 1956, buổi sáng ông vẫn học lớp Đệ Ngũ tại trường Hồ Ngọc Cẩn, buổi chiều học lớp đặc biệt Ngũ + Tứ ở trường tư. Năm 1957, ông đậu bằng Trung học Đệ nhất cấp, chính thức thôi học ở trường Hồ Ngọc Cẩn, theo học lớp đặc biệt Tam + Nhị ở trường tư. Hè năm 1958, ông đậu bằng Tú tài I trước các bạn cùng lứa ở trường Hồ Ngọc Cẩn 1 năm.[3]

Sau khi tốt nghiệp Tú tài II, ông thi đậu chứng chỉ PCB của Đại học Khoa học Sài Gòn, sau đó theo học Đại học Y khoa Sài Gòn theo diện tình nguyện nhập ngũ để về sau sẽ phục vụ ngành quân y trong Quân đội Việt Nam Cộng hòa.[3]

Sau khi ra trường, ông phục vụ trong Binh chủng Nhảy dù Quân lực Việt Nam Cộng hòa, từng tham gia Trận Làng VâyTrận Khe Sanh với tư cách là một Y sĩ quân y.[4] Nổi danh là một bác sĩ phẫu thuật giỏi, dũng cảm, ông thường xuyên phải thực hiện các ca mổ ngay tại chiến trường trong các phòng mổ dã chiến và là y sĩ có số ca mổ dã chiến nhiều nhất trong Sư đoàn Dù. Ông được khen thưởng nhiều huy chương (ít nhất 5 anh dũng bội tinh) kể cả một huân chương của Sư đoàn Không kỵ Hoa Kỳ.[5]. Ông từng được gửi đi tu nghiệp phẫu thuật tại Texas để nâng cao tay nghề. Năm 1975, ông là Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn Quân y, Sư đoàn Nhảy dù Quân lực Việt Nam Cộng hòa[3] với cấp bậc Thiếu tá.

Sau khi Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam kiểm soát toàn bộ miền Nam, ông bị gọi đi học tập cải tạo 2 năm tại trại cải tạo Suối Máu. Sau khi được trả tự do, ông được phân công về công tác tại Bệnh viện Nhi đồng 2.[3]

Năm 1988, ông được ghi tên vào Sách Kỷ lục Guinness sau một ca mổ hy hữu chưa từng được ghi trong y văn: mổ cho hai cháu bé song sinh dính nhau dạng ISOCHIO - PAGUS có 3 chân, trong đó một trong hai cháu đã bị bại não.[1].

Ca mổ tách rời Việt-Đức đã trở thành một sự kiện quốc tế. Báo chí nước ngoài bình luận: Ca mổ Việt-Đức ngoài tài năng của ê kíp phẫu thuật (ca mổ có 62 y, bác sĩ), còn là bài học về những điều kỳ diệu của cuộc sống, bài học về sự can đảm của cháu Đức, bài học về lòng kiên định, sự quyết tâm của ngành y tế Việt Nam, bởi ca mổ đã được thực hiện trong hoàn cảnh cực kỳ khó khăn của Việt Nam, về mọi mặt...[6], sau này khi Nguyễn Đức lấy vợ, ông cũng đến chung vui[7].

Liên tiếp trong các năm sau đó, ông luôn có mặt trong những ca bệnh nhi hiểm nghèo hiếm gặp nhất ở Việt Nam và trở thành hiện tượng của y học Việt Nam. Với uy tín của mình, ông trúng cử Đại biểu Quốc hội 2 khóa liên tiếp XI và XII, đồng thời là Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa VI[8]. Ông được chính Thủ tướng Võ Văn Kiệt giới thiệu kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam.[cần dẫn nguồn]

Sau khi rời khỏi chức vụ Phó Giám đốc Bệnh viện Nhi Đồng 2, ông vẫn tiếp tục hành nghề y. Hiện ông đang phụ trách chương trình thành lập Trung tâm ghép tạng trẻ em Bệnh viện Nhi đồng 2, Chủ nhiệm bộ môn ngoại nhi Trung tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ y tế và Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh[9].

Vợ ông là bà Lê Thị Minh Tâm, Tổng giám đốc của Khu nghỉ mát Seahorse tại Phan Thiết.[10]

Thành tựu nghiên cứu[sửa | sửa mã nguồn]

Tiêu biểu nhất trong các công trình nghiên cứu khoa học của Bác sĩ Trần Đông A chính là Công trình nghiên cứu về giãn đường mật chính ở trẻ em Việt Nam - một căn bệnh mà từ trước đến nay, y giới quốc tế vẫn cho là bệnh đặc biệt của người Nhật.[6]

Tấm gương về y đức[sửa | sửa mã nguồn]

Trên mọi phương diện, ông là một tấm gương lớn về y đức, về tài năng và nỗ lực không ngừng vượt lên "cái bóng của chính mình". Như lời nhận xét của nữ đạo diễn Nguyễn Hải Anh - người đã thực hiện rất thành công bộ phim tài liệu về Bác sĩ Trần Đông A: "Ở bác sĩ Trần Đông A, tôi nhận ra nơi ông một thày thuốc với tất cả y đức cao cả. Ông làm việc không tiếc công sức, không biết mệt mỏi, luôn khao khát có thêm những đóng góp lớn hơn cho y học Việt Nam, nhất là trong chữa trị bệnh trẻ em. Với tôi, ông đáng để người thời nay, thời sau phải ngã mũ kính phục hơn bất cứ bác sỹ Nhi khoa nào"[1].

Khen thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

...và nhiều bằng khen khác[9].

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a b c BS Trần Đông A: Trái tim lớn, trí tuệ lớn, tài năng lớn
  2. ^ a b TÓM TẮT TIỂU SỬ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI
  3. ^ a b c d e Tuyển tập "Ngôi trường ba mươi năm", mục "Người cũ, trường xưa Hồ Ngọc Cẩn"
  4. ^ Hồi ức của Bác sĩ Trần Đức Tường, Y sỹ trưởng Tiểu đoàn 3 Nhảy dù và Đại úy Trần Đạt Minh, Sĩ quan hành chính Tiểu đoàn Quân y, Sư đoàn Nhảy dù Quân lực Việt Nam Cộng hòa.
  5. ^ Hồi ức của Xuân Đỗ. "Trần Đông A, Ông Là Ai?"
  6. ^ a b Đơn giản vì tôi là Trần Đông A
  7. ^ Cuộc hội ngộ đầy ắp tình người
  8. ^ Danh sách các Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa VI
  9. ^ a b TÓM TẮT TIỂU SỬ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘi
  10. ^ Hồng Trinh (30 tháng 3 năm 2009). “Trò chuyện với chủ nhân “Resort được yêu thích nhất””. Báo Bình Thuận. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]