Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh
Huy hiệu Đoàn.
Lãnh tụ Hồ Chí Minh
Bí thư Thứ nhất Nguyễn Đắc Vinh
Bí thư Thường trực Nguyễn Mạnh Dũng
Thành lập 26 tháng 3, 1931
Trụ sở Hà Nội
Thành viên (2007) 6,1 triệu
Hệ tư tưởng/
vị thế chính trị
Chủ nghĩa Marx-Lenin
Tư tưởng Hồ Chí Minh
Thuộc quốc gia Cờ Việt Nam Việt Nam
Trang web doanthanhnien.vn


Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh là tổ chức chính trị - xã hội lớn nhất của thanh niên Việt Nam. Tổ chức này do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện.[1]

Tập tin:Codoan.jpg
Lá cờ Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Hoàn cảnh ra đời[sửa | sửa mã nguồn]

Từ ngày 20 đến ngày 26 tháng 3 năm 1931, tại Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ 2, Trung ương Đảng đã dành một phần quan trọng để bàn về công tác thanh niên, đặt ra vấn đề "... tổ chức ra Thanh niên cộng sản đoàn là nhiệm vụ để thâu phục một bộ phận quan trọng của vô sản giai cấp, là một vấn đề cần kíp mà Đảng phải giải quyết", chủ trương thống nhất các tổ chức thanh niên thành Đoàn Thanh niên Cộng sản Đông Dương, nhằm thu hút thanh niên phấn đấu cho lý tưởng cộng sản chủ nghĩa.

Trên cơ sở Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 2, một số Ủy viên Trung ương Đảng được cử phụ trách các vấn đề liên quan tới thanh niên trong các cấp ủy Đảng từ Trung ương đến địa phương. Cuối tháng 4 năm 1931, từ nước ngoài, ở Trung Kỳ, Xứ ủy Đoàn được thành lập trên cơ sở các Đoàn Ủy ban Cán sự Đoàn các cấp. Ở một số tỉnh đã hình thành cấp Tỉnh ủy Đoàn và Huyện ủy Đoàn, trên cơ sở các chi bộ thanh niên thuộc đảng bộ.

Từ năm 1931 đến năm 1935, Đoàn Thanh niên Cộng sản Đông Dương tiếp tục phát triển ở Cao Bằng, Lạng Sơn, Nam Bộ. Tháng 3 năm 1935, tại Đại hội Đại biểu Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ nhất ở Ma Cao (Trung Quốc), Trung ương Đảng đã công nhận chính thức Chương trình hành động của Đoàn công bố từ 1933 và đề xuất việc triệu tập Đại hội Đoàn toàn quốc. Nhưng do tình hình thay đổi, đại hội đã không họp được.

Thời Kỳ năm 1936 đến năm 1955[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1936, Mặt trận Dân chủ Đông Dương được thành lập, một tổ chức thanh niên hoạt động công khai trên cơ sở Đoàn Thanh niên Cộng sản Đông Dương, lấy tên là Đoàn Thanh niên Dân chủ Đông Dương. Ngày 5 tháng 5 năm 1938, Đại hội đại biểu toàn quốc của Đoàn Thanh niên Dân chủ Đông Dương đã họp công khai ở Hà Nội và bầu ra Ban chấp hành Trung ương Đoàn.

Năm 1939, khi chính quyền thực dân đàn áp phong trào dân chủ Đông Dương, Đoàn Thanh niên Dân chủ Đông Dương rút vào hoạt động bí mật. Năm 1940, Trung ương Đảng đã thành lập Đoàn Thanh niên phản đế Đông Dương để tổ chức quần chúng thanh niên đấu tranh chống đế quốc.. Đoàn Thanh niên phản đế đã tham gia Khởi nghĩa Bắc Sơn, Khởi nghĩa Nam Kỳ

Trong suốt 20 năm, do điều kiện lịch sử, nhiều tổ chức thanh niên do Đảng Cộng sản Đông Dương thành lập cùng hoạt động song song. Ngày 28 tháng 9 năm 1948, Ban Thường vụ Trung ương có Chỉ thị gửi các cấp bộ Đảng "Về việc củng cố Thanh niên Cứu quốc, phát triển Đoàn thanh niên Việt Nam để thống nhất Mặt trận thanh niên". Tháng 6 năm 1949, Hội nghị Thanh vận của Đảng được tổ chức tại Việt Bắc, do ông Hoàng Quốc Việt chủ trì. Tại Hội nghị này, một quyết định thành lập Ban Chấp hành Đoàn Thanh niên Cứu quốc Trung ương được đưa ra, Nguyễn Lam được chỉ định làm Trưởng tiểu Ban thanh vận Trung ương đồng thời là Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đoàn Thanh niên Cứu quốc Việt Nam.

Thời kỳ năm 1955 đến năm 1977[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi giành được quyền kiểm soát miền Bắc, trong phiên họp vào tháng 9 năm 1955, Bộ Chính trị chủ trương đổi tên Đoàn Thanh niên Cứu quốc Việt Nam thành Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam và tên gọi này được chính thức thông qua tại Đại hội toàn quốc lần thứ 2 của Đoàn Thanh niên Cứu quốc Việt Nam.

Tại Đại hội toàn quốc lần thứ 3 họp từ ngày 22 đến 25 tháng 3 năm 1961, các đại biểu đã quyết định lấy ngày 26 tháng 3 năm 1931 (ngày cuối của Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 2, dành để bàn bạc và quyết định những vấn đề rất quan trọng đối với công tác thanh niên) làm ngày thành lập Đoàn hàng năm.

Tại miền Nam, một tổ chức bộ phận của Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam hoạt động với tên gọi Đoàn Thanh niên Cách mạng miền Nam, là một tổ chức thành viên của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam.

Tại miền Bắc, tháng 2 năm 1970, Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam được đổi tên thành Đoàn Thanh niên lao động Hồ Chí Minh để kỷ niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa qua đời trước đó 5 tháng. Cùng thời gian này, Đoàn Thanh niên Nhân dân Cách mạng miền Nam cũng đổi tên thành Đoàn Thanh niên Nhân dân Cách mạng Hồ Chí Minh.

Sau năm 1976[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Việt Nam thống nhất, tháng 12 năm 1976, Đoàn Thanh niên Nhân dân Cách mạng Hồ Chí Minh và Đoàn Thanh niên lao động Hồ Chí Minh hợp nhất với tên gọi Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh.

Tên gọi qua các thời kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

  • Từ 26/3/1931 - 1936: Đoàn TNCS Việt Nam, Đoàn TNCS Đông Dương
  • Từ 1937 - 1939: Đoàn Thanh niên Dân chủ Đông Dương
  • Từ 9/1939 - 1941: Đoàn Thanh niên phản đế Đông Dương
  • Từ 5/1941 - 1956: Đoàn Thanh niên cứu quốc Việt Nam
  • Từ 11/11/1956 - 1970: Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam
  • Từ 3/2/1970 - 11/1976: Đoàn Thanh niên lao động Hồ Chí Minh
  • Từ 12/1976 đến nay: Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh

Cơ cấu tổ chức[sửa | sửa mã nguồn]

Theo báo cáo của Đại hội toàn quốc lần thứ VIII Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (2007) thì tại Việt Nam hiện có khoảng 6,1 triệu Đoàn viên[2]. Theo BBC thì tại Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố lớn nhất Việt Nam, vào năm 2005 có khoảng 70% thanh niên đang đứng ngoài hàng ngũ Đoàn Thanh niên Cộng sản (khoảng 390.000 Đoàn viên trên tổng số 2,3 triệu người từ độ tuổi 15 đến 30)[3].

Cơ quan lãnh đạo cao nhất là Đại hội Đại biểu toàn quốc. Cơ quan lãnh đạo của Đoàn ở mỗi cấp là Đại hội Đại biểu hoặc Đại hội Đoàn viên ở cấp đó. Giữa hai kỳ Đại hội cơ quan lãnh đạo là Ban Chấp hành do Đại hội Đoàn cùng cấp bầu ra. Giữa 2 kỳ họp Ban Chấp hành, cơ quan lãnh đạo là Ban Thường vụ do Ban chấp hành cùng cấp bầu ra.

Hệ thống tổ chức của Đoàn được tổ chức từ Trung ương xuống cơ sở.

  • Cấp cơ sở gồm Đoàn cơ sở và Chi đoàn cơ sở
  • Cấp Huyện và tương đương
  • Cấp Tỉnh và tương đương
  • Cấp Trung ương

Ban Bí thư Trung ương Đoàn khóa X (Nhiệm kỳ 2012 - 2017)[sửa | sửa mã nguồn]

Bí thư Thứ nhất Trung ương Đoàn
Nguyễn Đắc Vinh; Ủy viên dự khuyết BCH Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI, Chủ nhiệm Ủy ban Quốc gia về Thanh niên Việt Nam của Chính phủ, Giám đốc Học viện Thanh thiếu niên Việt Nam. Ngoài ra, ông còn là Đại biểu Quốc hội khóa XIII.
Bí thư Thường trực Trung ương Đoàn
Nguyễn Mạnh Dũng; Bí thưthườnngg trực Ban Chấp hành Trung ương Đoàn khóa IX, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Trung ương Đoàn.
Các Bí thư Trung ương Đoàn
  1. Dương Văn An, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Trung ương Đoàn, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Đoàn, Phó chủ nhiệm thường trực Ủy ban Quốc gia về Thanh niên Việt Nam;
  2. Nguyễn Thị Hà,Trưởng Ban Công tác thiếu nhi Trung ương Đoàn, Chủ tịch Hội đồng Đội Trung ương - Đội Thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh, Ủy viên BCH Trung ương Hội Phụ nữ Việt Nam;
  3. Nguyễn Mạnh Dũng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Trung ương Đoàn, Trưởng Ban Thanh niên Công nhân và Đô thị Trung ương Đoàn, Ủy viên Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia, Ủy viên HĐQT Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam;
  4. Nguyễn Long Hải, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đoàn;
  5. Đặng Quốc Toàn, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Đoàn, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam.

6. Lê Quốc Phong, Chủ tịch Hội sinh viên Việt Nam khóa IX

Nhiệm vụ và quyền hạn[sửa | sửa mã nguồn]

Theo điều lệ đoàn thanh niên cộng sản hồ chí minh, tại điều 2 và điều 3 có quy định nhiệm vụ và quyền hạn của đoàn như sau: Nhiệm vụ của đoàn viên:[4]

1. Luôn luôn phấn đấu vì lý tưởng của Đảng và Bác Hồ. Tích cực học tập, lao động rèn luyện, tham gia các hoạt động xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

2. Gương mẫu chấp hành và vận động thanh, thiếu niên thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Tham gia xây dựng, bảo vệ Đảng và chính quyền. Chấp hành Điều lệ Đoàn và các nghị quyết của Đoàn; tích cực tuyên truyền về tổ chức Đoàn trong thanh niên; sinh hoạt đoàn và đóng đoàn phí đúng qui định.

3. Liên hệ mật thiết với thanh niên, tích cực xây dựng Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, Hội Sinh viên Việt Nam, Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh; giúp đỡ thanh niên và đội viên trở thành đoàn viên.

4.Đoàn là đội dự bị tin cậy của đảng, là đội quân xung kích cách mạng.

Quyền của đoàn viên:

1. Yêu cầu tổ chức Đoàn đại diện, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình, được giúp đỡ và tạo điều kiện để phấn đấu trưởng thành.

2. Ứng cử, đề cử và bầu cử cơ quan lãnh đạo các cấp của Đoàn

3. Được thông tin, thảo luận, chất vấn, phê bình, biểu quyết, đề nghị và bảo lưu ý kiến của mình về công việc của Đoàn.

Các kỳ đại hội toàn quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Đại hội lần thứ Thời gian Địa điểm Số đại biểu Số Uỷ viên Ban chấp hành được bầu Bí thư thứ nhất được bầu
I 7/2 - 14/2, 1950 Xã Cao Vân, huyện Đại Từ, Thái Nguyên 400 5 Nguyễn Lam
II 25/10 - 4/11, 1956 Hà Nội 479 30 Nguyễn Lam
III 23/3 - 25/3, 1961 Hà Nội 677 71 Nguyễn Lam. Sau khi Nguyễn Lam chuyển công tác (1962), Vũ Quang được bầu. Sau khi Vũ Quang chuyển công tác (1978), Đặng Quốc Bảo được bầu
IV 20/11 - 22/11, 1980 Hà Nội 623 113 Đặng Quốc Bảo. Sau khi Đặng Quốc Bảo chuyển công tác (1982), Vũ Mão được bầu.
V 27/11 - 30/11, 1987 Hà Nội 750 150 Hà Quang Dự
VI 15/10 - 18/10, 1992 Hà Nội 797 91 Hồ Đức Việt. Sau khi Hồ Đức Việt chuyển công tác (1996), Vũ Trọng Kim được bầu
VII 26/11 - 29/11, 1997 Hà Nội 899 125 Vũ Trọng Kim
VIII 8/12 - 11/12, 2002 Hà Nội 898 134 Hoàng Bình Quân. Sau khi Hoàng Bình Quân chuyển công tác, Đào Ngọc Dung được bầu. Sau khi Đào Ngọc Dung chuyển công tác, Võ Văn Thưởng được bầu.
IX 17/12 - 21/12, 2007 Hà Nội 1033 145 Võ Văn Thưởng. Sau khi Võ Văn Thưởng chuyển công tác, Nguyễn Đắc Vinh được bầu.
X 11/12 - 14/12, 2012 Hà Nội 997 151 Nguyễn Đắc Vinh.

Thống kê số lượng Đoàn viên[sửa | sửa mã nguồn]

Theo báo cáo của Đại hội toàn quốc lần thứ VIII Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (2007) thì tại Việt Nam hiện có khoảng 6,1 triệu Đoàn viên[2].

Theo BBC, năm 2005 là năm có tỷ lệ thanh niên được kết nạp vào Đoàn và đoàn viên vào Đảng cao nhất từ trước đến nay [3]. Theo đó, năm 2005, toàn Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh kết nạp hơn 1,1 triệu đoàn viên mới (tăng 7.68% so với năm 2004); 91.997 người được kết nạp Đảng. Nhưng riêng tại TP. HCM, lại có đến 70% thanh niên đang đứng ngoài hàng ngũ Đoàn TNCS [3]. Theo đó, ước tính số thanh niên trong độ tuổi 15 đến 35 ở TP. HCM hiện là 2.3 triệu, nhưng trong đó chỉ có gần 390.700 là đoàn viên TNCS [3].

Hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Logo chương trình mùa hè xanh

Khắp các Tỉnh thành, các trường Đại học, các công ty Việt Nam, đều có cơ sở Đoàn. Hằng năm, Đoàn TNCS tổ chức chiến dịch tình nguyện Mùa hè xanh.

Mùa hè xanh[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa hè xanh là một hoạt động thường niên, do Hội Sinh viên Việt Nam tổ chức, nhằm hướng sinh viên đến các hoạt động công ích xã hội, như: làm đường, làm cầu, xây nhà tình thương, tham gia xóa mù chữ và xóa mù tin học,... Hoạt động này được đông đảo sinh viên tham gia, và hầu hết các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp ở Việt Nam đều tham gia.

Ngoài chiến dịch Mùa hè xanh kể trên với lực lượng nòng cốt là sinh viên thì còn phải kể đến các chiến dịch sau nằm trong các hoạt động Hè tình nguyện diễn ra trong ba tháng 6,7,8 như:

Chiến dịch Hoa phượng đỏ dành cho giáo viên trẻ và học sinh trung học phổ thông.

Chương trình Tiếp sức mùa thi hỗ trợ phụ huynh và thí sinh các tỉnh về thành phố dự thi đại học cao đẳng.

Chiến dịch Hành quân xanh với sự tham gia của chiến sĩ lực lượng vũ trang.

Chiến dịch Kỳ nghỉ hồng của thanh niên công nhân.[5]

Sự kiện và hoạt động cụ thể[sửa | sửa mã nguồn]

- Năm 1956: Phong trào "Lao động kiến thiết Tổ quốc" - Năm 1960: Phong trào "Thi đua trở thành người lao động tiên tiến" - Năm 1961: Phong trào "Những người tình nguyện vượt mức kế hoạch 5 năm lần thứ nhất" - Năm 1964: Phong trào "Ba sẵn sàng" ở miền Bắc: 1. Sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu dũng cảm và sẵn sàng gia nhập các lực lượng vũ trang nhân dân. 2. Sẵn sàng khắc phục khó khăn, đẩy mạnh sản xuất, học tập trong bất kỳ tình huống nào. 3. Sẵn sàng đi bất cứ nơi nào, làm bất cứ việc gì mà Tổ quốc cần đến. - Năm 1965: Phong trào "Năm xung phong" ở miền Nam: 1. Xung phong tiêu diệt thật nhiều sinh lực địch. 2. Xung phong tòng quân giết giặc. 3. Xung phong trong các cuộc đấu tranh chính trị ở nông thôn cũng như đô thị. 4. Xung phong phục vụ tiền tuyến, vào các đội thanh niên xung phong công tác phục vụ chiến trường. 5. Xung phong sản xuất nông nghiệp trong nông thôn. - Năm 1976: "Ba mũi tên tiến công tiêu cực và toàn Đoàn tham gia xây dựng Đảng" - Năm 1982 - 1983: "3 chương trình hành động cách mạng của tuổi trẻ" (lương thực, tiết kiệm, việc làm) - Năm 1983: Cuộc "Hành quân theo bước chân những người anh hùng" - Năm 1984: Nghị quyết 7 (khoá IV) bổ sung và đề ra 5 chương trình hành động Cách mạng của tuổi trẻ. - Năm 1985: Cuộc "Vận động xây dựng nếp sống xã hội chủ nghĩa" trong thanh niên - Năm 1987: Với các phong trào: "Tuổi trẻ xung kích sáng tạo, xây dựng vào bảo vệ Tổ quốc" trên mặt trận kinh tế chính sách xã hội, an ninh và học tập tiến quân vào khoa học kỹ thuật. - Năm 1992: Cuộc vận động xây dựng chi đoàn mạnh và 4 phong trào: 3 mục tiêu dân số và kế hoạch hoá gia đình; Phấn đấu xây dựng bộ đội cụ Hồ; Sản xuất kinh doanh giỏi; Thực hiện 5 điều Bác Hồ dạy. - Năm 1997: Phong trào lớn: "Thanh niên lập nghiệp" và "Tuổi trẻ giữ nước" - Năm 2002: Phát triển phong trào: "Tuổi trẻ thi đua tình nguyện, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc". - Năm 2007: Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tập trung triển khai hai phong trào lớn là: "5 xung kích phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc" và "4 đồng hành với thanh niên lập thân, lập nghiệp".

  • 5 xung kích phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc:

1. Xung kích lao động sáng tạo, phát triển kinh tế - xã hội; 2. Xung kích, tình nguyện vì cuộc sống cộng đồng; 3. Xung kích bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội; 4. Xung kích thực hiện cải cách hành chính; 5. Xung kích trong hội nhập kinh tế quốc tế.

  • 4 đồng hành với thanh niên lập thân, lập nghiệp:

1. Đồng hành với thanh niên trong học tập, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ; 2. Đồng hành với thanh niên trong nghề nghiệp và việc làm; 3. Đồng hành với thanh niên trong nâng cao sức khỏe thể chất và đời sống văn hoá tinh thần; 4. Đồng hành với thanh niên trong phát triển kỹ năng xã hội.

Chính khách xuất thân từ lãnh đạo Đoàn[sửa | sửa mã nguồn]

Từ vị trí Bí thư thứ nhất[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nguyễn Lam: Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn khóa 1 và giữ chức vụ này liên tục 12 năm. Sau khi thôi chức Bí thư thứ nhất TW Đoàn thanh niên cộng sản, ông tham gia nhiều công tác trong bộ máy Chính phủ và Đảng: Bí thư Thành ủy Hà nội, Bộ trưởng Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước (1969 - 1973), Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước (1973 - 1974), (1981 - 1982), Trưởng ban Công nghiệp TW, Phó Thủ tướng (1980 - 1982), Bí thư TW Đảng khóa IV, khóa V, Trưởng ban Kinh tế TW.
  • Vũ Quang: Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn khóa 2 và giữ chức vụ này liên tục 16 năm. Sau khi thôi chức bí thư thứ nhất TW Đoàn thanh niên cộng sản, ông tham gia nhiều công tác ở các Ban của TW Đảng, Trưởng ban dân vận TW Đảng, Trưởng ban Đối ngoại TW Đảng, Ủy viên Hội đồng nhà nước; Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội; Ủy viên Đoàn Chủ tịch UBTƯMTTQVN; Phó trưởng ban Công nghiệp TW Đảng; Phó trưởng ban Kinh tế TW Đảng; Trưởng ban Tôn giáo Chính phủ..
  • Đặng Quốc Bảo: Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn khóa 3. Sau rời cương vị Bí thư thứ nhất, chuyển công tác, làm Phó Giáo sư, Thiếu tướng, Hiệu trưởng Trường Đại học Kỹ thuật Quân sự, Thứ trưởng Bộ Giáo dục, Ủy viên Trung ương Đảng khóa IV, Trưởng ban Khoa giáo Trung ương.
  • Vũ Mão: Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn khóa 4. Sau khi thôi chức Bí thư thứ nhất, ông tham gia nhiều công tác ở các Ban của TW Đảng, sau đó là ở các Ủy ban của Quốc hội như Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội. Chức vụ cao cấp cuối cùng mà ông đảm nhận là Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội.
  • Hà Quang Dự: Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn khóa 5. Người dân tộc Tày. Sau khi rời công tác Đoàn và nhậm một số chức vụ khác, ông làm Bộ trưởng phụ trách công tác thanh niên và thể dục thể thao của Chính phủ, Chủ nhiệm Ủy ban Thể dục Thể thao rồi nghỉ hưu.
  • Hồ Đức Việt: Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn khóa 6. Từng là Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Tổ chức TW Đảng Cộng sản Việt Nam khóa 10. Ở Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam IX, ông là Ủy viên TW, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học – Công nghệ và Môi trường của Quốc hội. Trước đó, sau khi rời cương vị Bí thư thứ nhất TW Đoàn, ông Việt được điều động làm Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ninh, Phó ban thường trực Ban Tổ chức TW một thời gian ngắn, rồi sau đó là Bí thư Tỉnh ủy Thái Nguyên trước khi quay trở lại Hà Nội nhận nhiệm vụ tại Quốc hội.
  • Vũ Trọng Kim: Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn khóa 7. Sau khi rời ghế Bí thư thứ nhất TW Đoàn, ông được điều động về tỉnh Quảng Trị làm Bí thư Tỉnh ủy. Còn cách Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam X một thời gian ngắn, ông về Hà Nội nhậm chức Phó Trưởng ban Thường trực Ban Dân vận TW, kiêm nhiệm Bí thư Đảng uỷ khối cơ quan Dân vận TW. HIện nay ông là Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
  • Hoàng Bình Quân: Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn khóa 8. Sau khi rời cương vị Bí thứ thứ nhất Trung ương Đoàn, ông được đưa về làm Bí thư Tỉnh ủy Tuyên Quang ngay. Hiện đang là Trưởng ban Đối ngoại TW.
  • Đào Ngọc Dung: Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn khóa 8. Sau khi vi phạm quy chế thi nghiên cứu sinh tại hội đồng thi Học viện Hành chính Quốc gia (tháng 5/2006 - chỉ sau khi bầu là Trung ương Ủy viên Đảng cộng sản Việt Nam 1 tháng) đã được điều về làm Bí thư Ban cán sự Đảng ngoài nước. Tháng 7/2007, khi sắp xếp lại hệ thống tổ chức Đảng ở các cơ quan TW, ông được điều về làm Phó Ban phụ trách vấn đề Tây Bắc và sau đó là Bí thư tỉnh ủy Yên Bái, trúng cử Ban chấp hành TW Đảng khóa XI.
  • Võ Văn Thưởng: Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn khóa 9. Sau khi rời cương vị Bí thư thứ nhất, ông được đưa về làm Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi.

Các bí thư trung ương khác[sửa | sửa mã nguồn]

STT Họ tên Khóa Các chức vụ từng nắm giữ Ghi chú
1 Hồ Trúc 1, 2, 3 Bí thư Quận ủy quận V Hà Nội năm 1947, nguyên Tổng thư ký Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Bộ Giáo dục, Phó trưởng ban Khoa giáo TW, Hội trưởng Hội Cờ Việt Nam, Phó Chủ tịch Ủy ban Quốc gia UNESCO Việt Nam
2 Lê Xuân Đồng 2, 3 Ủy viên Ban thường vụ TW Đoàn khóa II, nguyên Phó trưởng ban Tuyên huấn TW, Phó trưởng ban Thường trực Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương
3 Hoàng Minh Chính 2 Tổng Đoàn trưởng Đoàn Thanh niên Việt Nam, Tổng Thư ký Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, Tổng thư ký Đảng Dân chủ Việt Nam, Viện trưởng Viện Triết học Mác-Lênin
4 Lê Bình 3  ?
5 Lê Đức Chỉnh 3 Bí thư tỉnh ủy Thái Nguyên, Phó bí thư tỉnh ủy Hà Tĩnh, Khu ủy viên Khu tự trị Tây Bắc, Tổng cục trưởng Tổng cục thể dục thể thao, Chủ tịch Ủy ban Olympic Việt Nam tên thật Hoàng Ngọc Chương
6 Lưu Minh Châu 3  ?
7 Nguyễn Văn Đệ 3  ?
8 Nguyễn Tiên Phong 3, 4 Phó Ban dân vận Trung ương Đảng còn gọi là Lê Đỗ An
9 Tạ Quang Chiến 3 Tổng cục trưởng Tổng cục Thể dục Thể thao, Chủ tịch Ủy ban Olympic Việt Nam, Đại biểu Quốc hội, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Y tế Xã hội của Quốc hội khóa VII
10 Phan Minh Tánh 3 Bí thư Đoàn Thanh niên Cách mạng miền nam, Ủy viên Ủy ban quân quản TP HCM, Giám đốc Sở Nông nghiệp TP HCM, Ủy viên Thường vụ Thành ủy TP HCM, Phó chủ tịch UBND TP HCM, Phó bí thư thành ủy TP HCM, Ủy viên TƯ Đảng khóa VII, Trưởng Ban dân vận TW, Ủy viên Ủy ban thường vụ Quốc hội
11 Nguyễn Thị Ngọc Khanh 3  ?
12 Trần Lê Dũng 3  ? còn gọi là Trần Mậu Minh
13 Nguyễn Đức Toàn 3  ?
14 Lương Văn Nghĩa 3 Anh hùng Lao động, Ủy viên dự khuyết TW Đảng khóa IV, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp
15 Nguyễn Thị Hằng 3, 4 Ủy viên Ủy ban đối ngoại của Quốc hội, Thứ trưởng và Bộ trưởng Bộ Lao động Thương binh xã hội, Ủy viên TW Đảng, hiện là Chủ tịch Hội Dạy nghề Việt Nam
16 Lê Thanh Đạo khóa 3, 4 Chủ tịch Hội đồng Đội TW khóa 1. Trung tá Không quân, Anh hùng lực lượng vũ trang năm 29 tuổi, Ủy viên Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa V, Ủy viên Hội đồng Nhà nước, Chủ nhiệm Ủy ban thanh thiếu niên và nhi đồng của Quốc hội, Ủy viên TW Đảng khóa VII, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Phó Ban dân vận TW.
17 Phạm Công Khanh 3, 4  ?
18 Lê Quang Vịnh 4 Chủ tịch Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, Bí thư quận ủy Côn Đảo, nguyên Trưởng ban Tôn giáo Chính phủ
19 Phan Văn Chương 4 Phó ban đối ngoại TW, Chủ tịch Uỷ ban Việt Nam Đoàn kết và hợp tác Á - Phi - Mỹ La Tinh
20 Hồ Anh Dũng 4 Ủy viên Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu thanh niên, nguyên Ủy viên TW Đảng, Tổng Giám đốc Đài truyền hình Việt Nam, Uỷ viên Đảng đoàn Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam, hiện là Phó chủ tịch Hội hữu nghị Việt Nga, Chủ tịch Ủy ban Việt Nam đoàn kết với nhân dân Palextin
21 Vũ Quốc Hùng 4 Chủ tịch Hội Sinh viên, Phó chủ tịch Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, Ủy viên TW Đảng khóa VII, khóa VIII, khóa IX, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra TW
22 Trần Phương Thạc 4 Bí thư tỉnh đoàn Quảng Trị, Chủ tịch Ủy ban Cách mạng lâm thời Thị xã Đông Hà năm 1973, nguyên Phó trưởng Ban cán sự Đảng ngoài nước
23 Lương Công Đoan 4 Thư ký Liên hiệp Công đoàn tỉnh Phú Yên, Bí thư Tỉnh ủy Phú Yên
24 Lưu Minh Trị 4 Bí thư Thành đoàn Hà Nội, Ủy viên Thường vụ Thành ủy Hà Nội, Phó chủ tịch UBND TP Hà Nội hiện là Chủ tịch Hội Di sản văn hóa Thăng Long - Hà Nội
25 Phạm Chánh Trực 4 Bí thư Thành đoàn TP HCM, Phó chủ tịch UBND TP Hồ Chí Minh, Phó Bí thư thường trực Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, Phó ban Kinh tế TW, Trưởng ban quản lý Khu công nghệ cao TP HCM, hiện là Chủ tịch HĐQT Công ty CP Chíp Sáng
26 Phan Thế Hùng 4 Ủy viên TW Đảng, Bí thư tỉnh ủy Vĩnh Phúc, Phó ban Nội chính TW
27 Nguyễn Minh Triết 4 Bí thư Tỉnh ủy Sông Bé, Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, Chủ tịch nước, Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng an ninh Quốc gia
28 Huỳnh Đảm 4 Phó bí thư tỉnh Đoàn Cà Mau, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, Chủ tịch HĐND Thành phố Hồ Chí Minh, Phó Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, hiện là Ủy viên TW Đảng, Chủ tịch Ủy ban TW Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
29 Nguyễn Thước 4 nguyên Thường vụ Đảng ủy, Chủ nhiệm Chính trị quân chủng Không quân, nguyên trưởng Ban Thanh Niên Quân Đội
30 Vũ Xuân Hồng 5 Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam, Tổng thư ký Hội Việt Mỹ, hiện là Chủ tịch Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam
31 Phạm Phương Thảo 5, 6 Bí thư Thành đoàn TP HCM, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, Bí thư TW Đoàn khóa V, khóa VI, Chủ tịch Hội đồng Đội TW khóa 3, Phó chủ tịch UBND TP HCM, Trưởng ban Tư tưởng Văn hóa Thành ủy TP HCM, Phó bí thư Thành ủy TP HCM, Chủ tịch HĐND TP HCM (đã nghỉ hưu)
32 Trịnh Tố Tâm 5 Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, từng là Thứ trưởng Bộ Lao động Thương binh và Xã hội
33 Nguyễn Duy Hùng 5 Chánh Văn phòng Ban Tổ chức TW, Giám đốc - Tổng Biên tập Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
34 Phùng Ngọc Hùng 5 Chủ tịch Hội đồng Đội TW khóa 2, nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em, nguyên Thứ trưởng Bộ Lao động Thương binh và Xã hội
35 Trần Hoàng Thám 5 Ủy viên Ban thường vụ Thành uỷ TP HCM, Trưởng ban An ninh Nội chính Thành ủy TP HCM, Trưởng ban chỉ đạo cải cách tư pháp TP HCM, Đại biểu Quốc hội, Trưởng đoàn Đại biểu quốc hội TP HCM, hiện là Phó Chủ tịch Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam
36 Thái Hiền Lương 5 Cục trưởng Cục hành chính Quản trị Văn phòng 2, Văn phòng Chính phủ
37 Trương Thị Mai 6, 7 Chủ tịch Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam; Phó Chủ nhiệm Ủy ban các vấn đề Xã hội của Quốc hội, Ủy viên TW Đảng, hiện là Chủ nhiệm Ủy ban Về các Vấn đề Xã hội của Quốc hội
38 Trần Lưu Hải 6 Chủ tịch UBND tỉnh Hòa Bình, Bí thư tỉnh ủy Hòa Bình, hiện là Ủy viên TW Đảng, Phó trưởng Ban Tổ chức TW
39 Ngô Văn Triển 6 Phó Bí thư Quận ủy quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, hiện là Phó Ban thường trực Ban dân vận Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh
40 Vũ Văn Tám 7 Phó chủ tịch UBND tỉnh Ninh bình, Thứ trưởng Bộ Thủy sản, hiện là Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
41 Nông Quốc Tuấn 8 Chủ tịch Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, Phó chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc, Phó Bí thư Tỉnh ủy Bắc Giang, Bí thư Tỉnh ủy Bắc Giang hiện là Ủy viên TW Đảng, Phó chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc
42 Bùi Đặng Dũng 8 Chủ tịch Hội Sinh viên Việt Nam, hiện là Đại biểu Quốc hội, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính Ngân sách của Quốc hội
43 Bùi Văn Cường 8 Ủy viên dự khuyết BCH TW Đảng, Phó bí thư tỉnh ủy Gia lai, hiện là Phó Ban Dân vận Trung ương
44 Lê Mạnh Hùng 8 Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra TW Đoàn, Bí thư tỉnh đoàn Phú Thọ, Phó bí thư tỉnh ủy Yên Bái, hiện là Phó Bí thư Thường trực Đảng uỷ khối CQTW
45 Đoàn Văn Thái 8 Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội Chữ Thập đỏ Việt Nam
46 Nguyễn Thành Phong 8 Tiến sĩ kinh tế, đại biểu Quốc hội khóa XI, nguyên Bí thư Thành Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 1999 - 2002, Thành ủy viên Thành ủy TP HCM, Bí thư Quận ủy Quận 2 TP Hồ Chí Minh, Phó bí thư tỉnh ủy Bến Tre, hiện là Ủy viên TW Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre
47 Nguyễn Lam 8 Chủ tịch Hội đồng Đội TW khóa V, nguyên tỉnh ủy viên, Bí thư tỉnh đoàn - Chủ tịch Hội liên hiệp thanh niên tỉnh Thanh Hóa, hiện là Phó chủ tịch Ủy ban TW Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
48 Lâm Phương Thanh 9 Hiện là Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương
49 Nguyễn Hoàng Hiệp 9 Hiện là Phó Chủ tịch chuyên trách Ủy ban An toàn Giao thông Quốc gia

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Trụ Sở: 65 , Bà Triệu, Hoàn Kiếm, Hà Nội

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]