Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Các quân khu hiện tại của Việt Nam

Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội được thành lập theo sắc lệnh số 16 của Chủ tịch nước Việt Nam ngày 16 tháng 7 năm 2008 về việc tổ chức lại Quân khu Thủ đô Hà Nội thành Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội. Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội trực thuộc Bộ Quốc phòng Việt Nam có chức năng tham mưu cho Ðảng bộ và chính quyền thành phố Hà Nội thực hiện nhiệm vụ quốc phòng toàn dân và công tác quân sự địa phương; giúp Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội thực hiện quản lý nhà nước về lĩnh vực quân sự, quốc phòng tại địa phương; tổ chức thực hiện xây dựng, quản lý, chỉ huy các đơn vị lực lượng thường trực và lực lượng dự bị động viên, dân quân tự vệ thuộc quyền...[1]

  • Trụ sở Bộ Tư lệnh: Thành phố Hà Nội
  • Tư lệnh:: Trung tướng Phí Quốc Tuấn
  • Chính ủy: Trung tướng Lê Hùng Mạnh
  • Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng: Thiếu tướng Nguyễn Doãn Anh

Lịch sử hình thành[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền thân của Bộ tư lệnh Thủ đô Hà Nội là Khu đặc biệt Hà Nội, được thành lập tháng 10 năm 1945, với mục đích tổ chức quản lý quân sự theo địa bàn khu vực Hà Nội cùng với 9 chiến khu khác trên toàn cõi Việt Nam. Đến tháng 11 năm 1946, để chuẩn cả nước được tổ chức lại thành 12 chiến khu. Hà Nội được tổ chức lại thành Chiến khu 11, còn gọi là Mặt trận Hà Nội.

Khi sự kiện 19 tháng 12 năm 1946 nổ ra, Mặt trận Hà Nội được sáp nhập vào Khu 2. Từ 1 tháng 11 năm 1948, Khu 2 đặt quyền trực thuộc của Liên Khu 3, nhưng đến tháng 5 năm 1949 thì khu Hà Nội lại được tách ra để thành lập Mặt trận Hà Nội độc lập, trực thuộc Bộ Tổng tư lệnh. Tình trạng này được duy trì cho đến sau năm 1954, khi đấy gọi là Khu Hà Nội.

Đến năm 1957, Bộ Tổng tư lệnh thành lập Thành đội Hà Nội trực thuộc Bộ Tổng tư lệnh, đến 1 tháng 8 năm 1964, đặt dưới quyền trực thuộc Quân khu 3. Tuy vậy, đến tháng 9 năm 1964 lại được chức độc lập thành Bộ tư lệnh Thủ đô.

Ngày 5 tháng 3 năm 1979, theo sắc lệnh 28-LCT, Quân khu Thủ đô được thành lập trên cơ sở Bộ tư lệnh Thủ đô, quản lý về mặt quân sự địa bàn thành phố Hà Nội. Năm 1999, địa bàn của Quân khu Thủ đô bổ sung bao gồm cả tỉnh Hà Tây cũ, nay đã sáp nhập và thành một phần của thành phố Hà Nội.

Ngày 16 tháng 7 năm 2008, theo sắc lệnh số 16 của Chủ tịch nước tổ chức lại Quân khu Thủ đô Hà Nội thành Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội.

Các cơ quan[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cục chính trị - Chủ nhiệm Chính trị: Đại tá Hồ Cảnh Thái
    • Phòng Cán bộ
    • Phòng Tổ chức
    • Phòng Tuyên huấn
    • Phòng BVAN
    • Phòng dân vận
    • Phòng Chính sách
    • Nhà Văn hóa
    • Bảo tàng B52
    • Báo quốc phòng Thủ đô
    • Viện kiểm sát quân sự
    • Ủy ban kiểm tra Đảng
  • Bộ Tham mưu
  • Cục Hậu cần
  • Cục Kỹ thuật
  • Văn phòng Bộ tư lệnh
  • Phòng Thanh Tra Quốc Phòng
  • Phòng Quân Báo
  • Phòng Đặc Công
  • Phòng Quân Huấn Nhà Trường
  • Phòng Tác Chiến
  • Phòng Điều Tra Hình Sự.....

Các đơn vị[sửa | sửa mã nguồn]

các tiểu đoàn trực thuộc Bộ Tham mưu.d18 Đặc Công,d20 Trinh Sát,d610 Thông Tin....

Chỉ huy và Lãnh đạo qua các thời kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

Khu đặc biệt Hà Nội (1945-1946)[sửa | sửa mã nguồn]

Chiến khu 11 (1946)[sửa | sửa mã nguồn]

Chiến khu 2 (1946-1949)[sửa | sửa mã nguồn]

Mặt trận Hà Nội (1949-1957)[sửa | sửa mã nguồn]

Thành đội Hà Nội (1957-1964)[sửa | sửa mã nguồn]

  • Chỉ huy trưởng:Thượng tá Vũ Văn Sự (Hùm xám Cự Đà, trong kháng chiến chống Pháp được tặng thưởng 7 huân chương Chiến Công)
  • Tham mưu trưởng: ?

Bộ tư lệnh Thủ đô (1964-1979)[sửa | sửa mã nguồn]

Quân khu Thủ đô (1979-2008)[sửa | sửa mã nguồn]

Tư lệnh[sửa | sửa mã nguồn]

Chính ủy, Phó Tư lệnh Chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thiếu tướng Chu Duy Kính (1986-1989)
  • Trung tướng Nguyễn Đăng Sáp (2007-2008)

Tham mưu trưởng, Phó Tư lệnh[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ tư lệnh Thủ đô (08/2009-)[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tư lệnh: Trung tướng Phí Quốc Tuấn
  • Chính ủy: Trung tướng Lê Hùng Mạnh
  • Phó Chính ủy: Đại tá Đỗ Căn
  • Phó tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng: Thiếu tướng Nguyễn Doãn Anh
  • Phó tư lệnh: Đại tá Nguyễn Văn Dũng

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Tổ chức lại Quân khu Thủ đô Hà Nội thành Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội
  2. ^ kiêm Chính ủy
  3. ^ phong [[Trung tướng năm 1984
  4. ^ phong Trung tướng 2003

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]