Linh dương sừng cao

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Impala
Impala mutualim with birds wide.jpg
Con đực trẻ ở Serengeti, Tanzania
Female impala.jpg
Con cái ở vườn quốc gia Mikumi, Tanzania
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Mammalia
Bộ (ordo) Artiodactyla
Họ (familia) Bovidae
Phân họ (subfamilia) Aepycerotinae
Gray, 1872
Chi (genus) Aepyceros
Sundevall, 1847
Loài (species) A. melampus
Danh pháp hai phần
Aepyceros melampus
(Lichtenstein, 1812)
Phân bố của linh dương sừng cao  Đỏ =A. m. melampus  Xanh =  A. m. petersi
Phân bố của linh dương sừng cao
Đỏ =A. m. melampus
Xanh = A. m. petersi
Subspecies
  • A. m. petersi
  • A. m. melampus

Linh dương sừng cao, impala (Aepyceros melampus tiếng Hy Lạp αιπος, aipos "cao" κερος, ceros "sừng" + melas "black" pous "chân") là một loài linh dương châu Phi. Tên gọi impala có nguồn gốc từ tiếng Zulu nghĩa là "linh dương gazen". Chúng được tìm thấy ở thảo nguyên và thảo nguyên cây bụi ở Kenya, Tanzania, Swaziland, Mozambique, bắc Namibia, Botswana, Zambia, Zimbabwe, nam Angola, đông bắc Nam PhiUganda. Linh dương sừng cao có thể tập hợp thành đàn lên đến 2 triệu con ở châu Phi.[2]

Miêu tả[sửa | sửa mã nguồn]

Linh dương sừng cao dị hình giới tính[3]. Chúng cao 75 và 95 cm (30 và 37 in). Khối lượng trung bình con đực là 40 đến 75 kg (88 170 lb), trong khi con cái nặng khoảng 30 đến 50 kg (66 đến 110 lb). Bộ lông ngắn và bóng, bình thường màu nâu đỏ (vì vậy tên Afrikaans rooibok, không nên nhầm lẫn với rhebok có sườn nhẹ hơn và dưới bụng trắng với dấu chữ "M" ở phía sau[4].

Chỉ có những con đực có các sừng hình đàn lia, có thể lên tới 45–92 cm (18–36 in) chiều dài. Con cá không có sừng[4]. Nó có sọc màu đen và trắng đặc biệt chạy xuống mông và đuôi[3]. Linh dương sừng cao đen, được tìm thấy ở những nơi rất ít ở châu Phi, là một loại cực kỳ hiếm. Một gen lặn làm chúng có màu đen ở loài động vật này[5]. Linh dương sừng cao có tuyến mùi hương được nằm dưới lớp lông ở các bàn sau và tuyến bã nhờn trên đầu[6].

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ IUCN SSC Antelope Specialist Group (2008). Aepyceros melampus. 2008 IUCN Red List of Threatened Species. IUCN 2008. Truy cập ngày 18 January 2009. Database entry includes a brief justification of why this species is of least concern
  2. ^ http://www.iucnredlist.org/apps/redlist/details/full/550/0
  3. ^ a ă Lundrigan, Barbara. “Sproull, Karen”. University of Michigan Museum of Zoology. Animal Diversity Web. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2012. 
  4. ^ a ă Huffman, Brent. “Impala”. Ultimate Ungulate. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2012. 
  5. ^ Carnaby, Trevor (2006). Beat about the bush: mammals. Johannesburg: Jacana. tr. 39. ISBN 978-1-77009-240-2. 
  6. ^ Armstrong, project editor, Marian (2007). Wildlife and plants. (ấn bản 3). New York: Marshall Cavendish. tr. 538-9. ISBN 978-0-7614-7693-1. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]