Trường Sa Lớn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Thực thể địa lí tranh chấp
Đảo Trường Sa
Tên khác: Trường Sa Lớn
Spratly Islands-Vietnamese.PNG
Quần đảo Trường Sa
Vị trí của đảo Trường Sa
Vị trí của đảo Trường Sa
đảo
Trường Sa
Địa lý
Vị trí Biển Đông
Tọa độ 8°38′30″B 111°55′55″Đ / 8,64167°B 111,93194°Đ / 8.64167; 111.93194 (đảo Trường Sa)Tọa độ: 8°38′30″B 111°55′55″Đ / 8,64167°B 111,93194°Đ / 8.64167; 111.93194 (đảo Trường Sa)
Diện tích khoảng 0,13 hoặc 0,15 km2
Chiều dài 630 mét
Chiều rộng 300 mét
Quốc gia quản lý  Việt Nam
Tranh chấp giữa
Quốc gia  Đài Loan

Quốc gia

 Trung Quốc

Quốc gia

 Việt Nam
Quang cảnh một phần đảo Trường Sa nhìn từ phía cầu tàu

Đảo Trường Sa (tiếng Anh: Spratly Island/Storm Island; Trung văn giản thể: 南威岛; bính âm: Nánwēi dǎo; Hán-Việt: Nam Uy đảo) là một đảo san hô thuộc cụm Trường Sa của quần đảo Trường Sa. Đảo này nằm cách Cam Ranh khoảng 254 hải lí (470,4 km) và cách Vũng Tàu hơn 500 km đường biển.[1][2]

Đảo Trường Sa là đối tượng tranh chấp giữa Việt Nam, Đài LoanTrung Quốc.[Chú 1] Nằm dưới sự kiểm soát của Việt Nam, đảo này có tên gọi chính thức được thể hiện trong bản đồ hành chính Việt Nam và tháp chủ quyền do nước này dựng trên đảo là Trường Sa dù rằng người ta cũng sử dụng rất rộng rãi biệt danh Trường Sa Lớn.

Địa lí và môi trường[sửa | sửa mã nguồn]

Đảo Trường Sa có dạng hình tam giác vuông với có cạnh huyền nằm theo hướng đông bắc-tây nam. Theo tài liệu của Cục Chính trị thuộc Bộ Tư lệnh Hải quân (Việt Nam), đảo này dài 630 m, rộng tối đa 300 m và có diện tích 0,15 km2 (xếp thứ tư trong quần đảo); một số tài liệu nước ngoài cung cấp con số diện tích nhỏ hơn là 0,13 km2.[3] Bề mặt đảo cao khoảng 3,4 đến 5 m so với mực nước biển khi thuỷ triều xuống thấp nhất. Vành san hô bao quanh đảo cũng nhô lên khỏi mặt nước khi nước triều xuống. Thủy triều ở khu vực này tuân theo chế độ nhật triều.[1]

Khí hậu ở đảo mang nét đặc trưng của quần đảo Trường Sa với mùa hè mát và mùa đông ấm. Từ tháng 2 đến tháng 5 là mùa khô; từ tháng 5 đến tháng 1 năm sau là mùa mưa. Trong mùa khô, nhiệt độ cao được duy trì từ 4 giờ 30 phút đến 19 giờ nhưng sóng yên biển lặng. Vào mùa mưa, nhiệt độ trong ngày thấp hơn nhưng dông bão thường xuyên xảy ra.[1]

Đảo Trường Sa có giếng nước lợ có thể dùng để tắm, giặt và tưới cây. Thực vật nơi đây chủ yếu là các cây bàng vuông, muống biển, phi lao, phong ba, xương rồng và một số loài cỏ lau thân mềm, cỏ lá kim nhưng sinh trưởng và phát triển kém do khí hậu khắc nghiệt.[1] Người trên đảo trồng thêm chuối, đu đủ, ớt và nhiều loại rau xanh, rau gia vị. Họ còn nuôi hàng trăm con chó và rất nhiều gia cầm như gà, vịt, ngan và ngỗng.[4]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thời Pháp thuộc, đảo Trường Sa vừa được gọi là Spratly, vừa được gọi là île de (la) Tempête (tạm dịch là "đảo Bão Tố").[5] Thực chất tên gọi này bắt nguồn từ tên Horsburgh's Storm Island trong tiếng Anh, vốn do nhà thuỷ văn học người Scotland James Horsburgh đặt ra. Riêng danh xưng Spratly có từ năm 1843 khi nhà du hành Richard Spratly đi qua quần đảo Trường Sa và đặt tên cho đảo Trường Sa là Spratly's Sandy Island.[6] Trong quá khứ, Nhật Bản gọi đảo Trường Sa là Nishi torishima (西鳥島 (Tây Điểu đảo) nghĩa là "đảo chim ở phía tây"?).[7]

Tháng 4 năm 1930, Pháp gửi tàu thông báo la Malicieuse đến quần đảo và treo cờ Pháp trên một gò đất cao thuộc đảo Trường Sa,[8] và dù nhìn thấy ngư dân Trung Quốc trên đảo này nhưng Pháp không tìm cách trục xuất họ.[9] Cuối tháng 7 năm 1933, Bộ Ngoại giao Pháp ra thông báo về hành động chiếm các đảo thuộc Trường Sa và liệt kê một danh sách kèm theo, trong đó ghi rằng họ chiếm đảo Trường Sa ngày 13 tháng 4 năm 1930.[10]

Đầu thập niên 1960, Quân lực Việt Nam Cộng hoà có vài lần viếng thăm đảo Trường Sa. Năm 1963, ba tàu gồm HQ-404 Hương Giang, HQ-01 Chi Lăng và HQ-09 Kì Hoà đã ghé thăm và xây dựng lại các bia đánh dấu một cách có hệ thống trên một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa. Ngày 19 tháng 5 năm 1963, họ dựng bia trên đảo này.[11] Từ năm 1974, Việt Nam Cộng hoà cho quân đồn trú lâu dài trên đảo. Ngày 29 tháng 4 năm 1975, Quân đội Nhân dân Việt Nam tiếp quản đảo và hiện diện tại đây cho đến nay.

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Đảo Trường Sa đóng vai trò đảo chính trong số các thực thể địa lí thuộc Trường Sa do Việt Nam kiểm soát. Năm 2007, chính phủ Việt Nam thành lập thị trấn Trường Sa thuộc huyện Trường Sa, tỉnh Khánh Hòa trên cơ sở đảo Trường Sa và các đảo, đá, bãi phụ cận[12] thuộc cụm Trường Sa và cụm An Bang (cụm Thám Hiểm) như đảo An Bang, đá/bãi Thuyền Chài,...[13] Trên đảo này có trụ sở Uỷ ban Nhân dân huyện Trường Sa.[14]

Dân cư[sửa | sửa mã nguồn]

Trẻ em nô đùa trên đảo Trường Sa

Trên đảo Trường Sa có bảy hộ gia đình từ huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa ra sinh sống từ năm 2008. Mỗi gia đình sống tại một căn hộ gồm hai phòng; bếp và nhà tắm tách riêng; phía sau có mảnh vườn trồng rau.[15] Hiện thời, sau khi hoàn tất chương trình tiểu học thì học sinh trên đảo sẽ chuyển vào đất liền để tiếp tục chương trình trung học cơ sở.[16].

Cơ sở hạ tầng[sửa | sửa mã nguồn]

Đường băng trên đảo được làm mới với tiêu chuẩn sân bay cấp ba, cho phép các loại máy bay cánh bằng chở khách hạ/cất cánh. Đường băng và sân đỗ máy bay mới có ba lớp kết cấu gồm lớp nền móng tạo phẳng được lu lèn chặt, lớp móng gia cố xi măng và lớp bê tông xi măng cường độ cao dày 25 cm.[17] Cảng cá trên đảo được định hướng tới năm 2020 sẽ có thể đón được tàu có công suất tối đa 1.000 CV, phục vụ 90 lượt tàu cá/ngày và tổng lượng thuỷ sản lưu thông qua cảng là 10.000 tấn/năm.[13] Điện năng trên đảo lấy từ hệ thống pin mặt trờitua bin gió.

Trạm Khí tượng Hải văn Trường Sa là một bộ phận của đài Khí tượng Thuỷ văn Nam Trung Bộ. Được xây dựng từ năm 1977, đây là một trong hai mươi sáu trạm phát báo quốc tế với số hiệu 48920 do Tổ chức Khí tượng Thế giới cấp.[18] Bảy nhân viên của trạm đo đạc và xử lí các thông số tám lần rồi báo về đất liền theo tần suất ba giờ/lần (bình thường) hoặc ba mươi phút/lần (thời tiết bất thường), liên tục từ 1 giờ đến 22 giờ mỗi ngày.[19]

Trạm xá đảo Trường Sa là trạm cấp một với các trang thiết bị như thiết bị khám cơ bản, siêu âm, điện tâm đồ, máy thở,...[19] Một trường tiểu học cao hai tầng - có diện tích trên 200 m², gồm hai phòng học, hai phòng công vụ, một phòng vui chơi và một thư viện - đã khánh thành vào tháng 4 năm 2013.[20][21] Ngoài ra, đảo còn có hải đăng, trung tâm cứu hộ-cứu nạn, chùa, chòi đá (cao 5,5 m, ở mũi phía nam đảo),[14] nhà văn hoá,...

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Trái với một số nguồn thông tin, Philippines chính thức không tuyên bố chủ quyền đối với đảo này. Xem thêm "Nhóm đảo Kalayaan".

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b Cục Chính trị 2011
  2. ^ Lý Hà Thao (4 tháng 6 năm 2007). “Kì VIII: "Thủ phủ" của quần đảo Trường Sa”. Website thông tin Kinh tế - Xã hội tỉnh Bến Tre. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2012. 
  3. ^ Hancox & Prescott 1995, tr. 14
  4. ^ Đỗ Sơn (7 tháng 6 năm 2011). “Nhật ký Trường Sa - Kì 2”. Tiền phong. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2012. 
  5. ^ Institut d'histoire des conflits contemporains 2000, tr. 5
  6. ^ Hancox & Prescott (1995), tr. 15
  7. ^ Hội Pháp học (Đại học Nihon) 1993, tr. 59
  8. ^ “White Paper on the Hoang Sa (Paracel) and Truong Sa (Spratly) Islands (1975) [Sách trắng về quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa (1975)] [phần trích 1]” (bằng tiếng Anh). Ministry of Foreign Affairs (Republic of Vietnam) [Bộ Ngoại giao Việt Nam Cộng hoà]. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2012. 
  9. ^ Kelly, Todd C. (1999), “Vietnamese Claims to the Truong Sa Archipelago [Tuyên bố chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa]”, Explorations in Southeast Asian Studies (University of Hawaii), Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 11 năm 2012 
  10. ^ Trần, Đăng Đại (ông và bà) (1975). “Các văn kiện chính thức xác nhận chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ thời Pháp thuộc tới nay”. Tập san Sử Địa. 29 (Sài Gòn: Nhà in Văn Hữu). 
  11. ^ “White Paper on the Hoang Sa (Paracel) and Truong Sa (Spratly) Islands (1975) [Sách trắng về quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa (1975)] [phần trích 2]” (bằng tiếng Anh). Ministry of Foreign Affairs (Republic of Vietnam) [Bộ Ngoại giao Việt Nam Cộng hoà]. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2012. 
  12. ^ “Nghị định số 65/2007/NĐ-CP ngày 11 tháng 04 năm 2007 của Chính phủ CHXHCNVN về việc điều chỉnh địa giới hành chính thị xã Cam Ranh và huyện Diên Khánh để thành lập huyện Cam Lâm; điều chỉnh địa giới hành chính để thành lập xã, thị trấn thuộc các huyện: Cam Lâm, Trường Sa và mở rộng phường Cam Nghĩa thuộc thị xã Cam Ranh, tỉnh Khánh Hoà”. Cổng Thông tin điện tử Bộ Tư pháp (Việt Nam). Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2012. 
  13. ^ a ă “Quyết định số 346/QĐ-TTg ngày 15 tháng 3 năm 2010 của thủ tướng Chính phủ CHXHCNVN về việc phê duyệt Quy hoạch hệ thống cảng cá, bến cá đến năm 2020, định hướng đến năm 2030”. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2012. 
  14. ^ a ă Đỗ Anh Thư (6 tháng 5 năm 2012). “Đến Trường Sa”. Lao động. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2012. 
  15. ^ Văn Giá (4 tháng 6 năm 2011). “Xóm dân sinh trên đảo Trường Sa”. Dân Việt (Nông thôn Ngày nay). Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2012. 
  16. ^ Duy Thanh (21 tháng 10 năm 2012). “Xây dựng trường học đầu tiên tại huyện đảo Trường Sa”. Tuổi trẻ online. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2012. 
  17. ^ Bá Hoạch. “Đường băng trải rộng Trường Sa”. Công ty TNHH MTV Xây dựng Công trình Hàng không (Bộ Quốc phòng Việt Nam). Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2012. 
  18. ^ “Flatfile of data on Observing Stations [Dữ liệu đồng nhất về các Trạm Quan sát]” (bằng tiếng Anh). World Meteorological Organization [Tổ chức Khí tượng Thế giới]. 27 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2012. 
  19. ^ a ă Trần Minh Trường (4 tháng 5 năm 2012). “Nặng lòng với đảo xa”. Sài Gòn Giải phóng. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2012. 
  20. ^ Thái Bình/VOV-miền Trung (21 tháng 4 năm 2013). “Khánh thành trường Tiểu học thị trấn Trường Sa”. Báo điện tử Đài Tiếng nói Việt Nam. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2013. 
  21. ^ Trần Công Thi (21 tháng 4 năm 2013). “Khánh thành Trường Tiểu học Trường Sa”. Báo Khánh Hoà. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2013. 

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cục Chính trị (2011), Những điều cần biết về hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và khu vực thềm lục địa phía nam (DK1), Cục Chính trị, Bộ Tư lệnh Hải quân (Việt Nam) 
  • Hancox, David; Prescott, Victor (1995), A Geographical Description of the Spratly Islands and an Account of Hydrographic Surveys amongst Those Islands, Maritime Briefings 1 (6), University of Durham, International Boundaries Research Unit, ISBN 978-1897643181  (tiếng Anh)
  • 法学会 (日本大学) [Hội Pháp học (Đại học Nihon, Nhật Bản)] (1993). 政経硏究 30. 法学会 (日本大学).  (tiếng Nhật)
  • Institut d'histoire des conflits contemporains (2000), Guerres mondiales et conflits contemporains: Issues 197-200, Presses universitaires de France  (tiếng Pháp)

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]