Chú đại bi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Đại bi)
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Chú Đại Bi, hay Đại Bi Tâm Đà La Ni (Maha Karunika citta Dharani), là bài chú căn bản minh họa công đức nội chứng của Đức Quán Tự Tại Bồ Tát (Avalokiteśvara Bodhisatva). Bài chú này còn có các tên gọi là: Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Đại Bi Tâm Đà La Ni, Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni, Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Tự Tại Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni, Thanh Cảnh Đà La Ni…

Theo kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni, bài chú này được Bồ tát Quán Thế Âm đọc trước một cuộc tập họp của các Phật, bồ tát, các thần và vương. Cũng như câu Om Mani Padme Hum rất phổ biến ngày nay, Đại Bi chú là chân ngôn phổ biến cùng với phật Quán Thế Âm ở Đông Á, bài chú này thường được dùng để bảo vệ hoặc để làm thanh tịnh.

Nguồn gốc[sửa | sửa mã nguồn]

Chân ngôn này được trích từ Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Ðại Viên Mãn Vô Ngại Ðại Bi Tâm Ðà La Ni Kinh. Trong kinh ngài Quán Thế Âm Bồ Tát bạch Phật rằng: "Bạch đức Thế Tôn, con có chú Đại Bi tâm đà ra ni, nay xin nói ra, vì muốn cho chúng sanh được an vui, được trừ tất cả bịnh, được sống lâu, được giàu có, được diệt tất cả nghiệp ác tội nặng, được xa lìa chướng nạn, được thành tựu tất cả thiện căn, được tiêu tan tất cả sự sợ hãi, được mau đầy đủ tất cả những chỗ mong cầu. Cúi xin Thế Tôn từ bi doãn hứa.", rồi sau đó đọc Chú Đại Bi.[1]

"Bồ tát thuyết chú xong, cõi đất sáu phen biến động, trời mưa hoa báu rơi xuống rải rác, mười phương chư Phật thảy đều vui mừng, thiên ma ngoại đạo sợ dựng lông tóc. Tất cả chúng hội đều được quả chứng."[1]

Nội dung[sửa | sửa mã nguồn]

Phiên bản tiếng Việt của Chú Đại bi như sau:[2]

Thiên thủ Thiên nhãn vô ngại Đại bi Tâm Đà la ni

Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da. Nam mô a rị da, bà lô yết đế, thước bác ra da, bồ đề tát đỏa bà da, ma ha tát đỏa bà da, ma ha ca lô ni ca da. Án tát bàn ra phạt duệ, số đát na đát tỏa.

Nam mô tất kiết lật đỏa, y mông a rị da bà lô kiết đế, thất phật ra lăng đà bà.
Nam mô na ra cẩn trì hế rị, ma ha bàn đá sa mế, tát bà a tha đậu du bằng a thể dựng, tát bà tát đa, na ma bà gìa ma phạt đạt đậu, đát thiệt tha. Án, a bà lô hê, lô ca đế, ca ra đế, di hê rị, ma ha bồ đề tát đỏa, tát bà tát bà, ma ra ma ra, ma hê ma hê, rị đàn dựng cu lô cu lô kiết mông độ lô độ lô, phạt xà da đế, ma ha phạt xà da đế, đà ra đà ra, địa rị ni, thất Phật ra da, dá ra dá ra. Mạ mạ phạt ma ra, mục đế lệ, y hê y hê, thất na thất na, a ra sâm Phật ra xá lợi, phạt sa phạt sâm, Phật ra xá da, hô lô hô lô ma ra, hô lô hô lô hê rị, ta ra ta ra, tất rị tất rị, tô rô tô rô bồ đề dạ, bồ đề dạ, bồ đà dạ, bồ đà dạ, di đế rị dạ, na ra cẩn trì địa rị sắc ni na, ba dạ ma na ta bà ha. Tất đà dạ ta bà ha. Ma ha tất đà dạ ta bà ha. Tất đà du nghệ thất bàn ra dạ ta bà ha. Na ra cẩn trì. Ta bà ha. Ma ra na ra. Ta bà ha. Tất ra tăng a mục khê da, ta bà ha. Ta bà ma ha a tất đà dạ ta bà ha. Gỉa kiết ra a tất đà dạ ta bà ha. Ba đà ma yết tất đà dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì bàn dà ra dạ ta bà ha. Ma bà lị thắng yết ra dạ ta bà ha.

Nam mô hắc ra đát na đá ra mạ da, Nam mô a rị da bà lô yết đế, thước bàn ra dạ, ta bà ha. Án tất điện đô, mạn đa ra, bạt đà dạ, ta bà ha.

Các phiên bản[sửa | sửa mã nguồn]

Chú Đại Bi thường dùng chính là Tâm Chú của Đức Thanh Cảnh Quán Tự Tại Bồ Tát (Nìlakantha Avalokite’svara Bodhisatva) chủ yếu do hai ngài Bất Không Kim CươngKim Cương Trí dịch vào khoảng giữa thế kỷ thứ 6. Các bản này được lưu truyền dưới 2 dạng là bản dài với bản ngắn:

1) Bản dài (quảng bản) được ghi nhận qua các bài:

  • Thanh Cảnh Quán Tự Tại Bồ Tát Đà La Ni, Bất Không Kim Cương dịch.
  • Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Nễ La Kiến Tha Đà La Ni, Kim Cương Trí dịch.
  • Quán Tự Tại Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni, Chỉ Không dịch.
  • Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Tự Tại Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni Chú, Kim Cương Trí dịch.

2) Bản ngắn (lược bản) được ghi nhận qua các bài:

  • Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn Quán Thế Âm Tự Tại Vương Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Tự Tại Thanh Cảnh Đại Bi Tâm Đà La Ni, Bất Không Kim Cương dịch.
  • Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Đại Bi Tâm Đà La Ni, Bất Không dịch.
  • Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni, Già Phạm Đạt Ma dịch.

Do các bản Chú Văn có nhiều loại phiên dịch nên chương cú cũng dựa theo các Kinh Văn mà có sự khác biệt kể cả số lượng câu và Phạn Ngữ.

Xuất tượng[sửa | sửa mã nguồn]

Mỗi câu trong bài chú tượng trưng với hình ảnh một vị Phật, Bồ Tát, Tôn Giả hoặc Thánh Thần do Đức Quan Âm Bồ Tát hóa thân[3]:

1. Namah Ratnatrayaya.

2. Namo Ariya.

3. VaLokitesvaraya.

4. Bodhisattvaya.

5. Mahasattvaya.

6. Mahakaruniakaya.

7. Om.

8. Sarva Rabhaye.

9. Sudhanadasya.

10.Namo Skrtva i Mom Ariya.

11.Valokitesvara Ramdhava.

12.Namo Narakindi.

13.Herimaha Vadhasame.

14.Sarva Atha. Dusubhum.

15.Ajeyam.

16.Sarva Sadha. Nama vasatva.

17.Namo Vaga.

18.Mavadudhu. Tadyatha.

19.Om. Avaloki.

20.Lokate.

21.Karate.

22.Ehre.

23.Mahabodhisattva.

24.Sarva Sarva.

25.Mala Mala

26.Mahe Mahredhayam.

27.Kuru Kuru Karmam.

28.Dhuru Dhuru Vajayate.

29.Maha Vajayate.

30.Dhara Dhara.

31.Dhirini.

32.Svaraya.

33.Cala Cala.

34.Mamavamara.

35.Muktele.

36.Ehi Ehi.

37.Cinda Cinda.

38.Arsam Pracali.

39.Vasa Vasam

40.Prasaya.

41.Huru Huru Mara.

42.Huru Huru Hri.

43.Sara Sara.

44.Siri Siri.

45.Suru Suru.

46.Bodhiya Bodhiya.

47.Bodhaya Bodhaya.

48.Maitriya.

49.Narakindi.

50.Dharsinina.

51.Payamana.

52.Svaha.

53.Siddhaya.

54.Svaha.

55.Maha Siddhaya.

56.Svaha.

57.Siddhayoge

58.Svaraya.

59.Svaha.

60.Narakindi

61.Svaha.

62.Maranara.

63.Svaha.

64.Sirasam Amukhaya.

65.Svaha.

66.Sarva Maha Asiddhaya.

67.Sarva

68.Cakra Asiddhaya

69.Svaha.

70.Padmakastaya.

71.Svaha.

72.Narakindi Vagaraya.

73.Svaha

74.Mavari Samkraya.

75.Svaha.

76.Namah Ratnatrayaya.

77.Namo Ariya

78.Valokites

79.Varaya

80.Svaha

81.Om. Siddhyantu

82.Mantra

83.Padaya.

84.Svaha.

Mỗi hình tượng của đức quán thế âm bồ tát lại cầm các pháp bảo như chuông loa,loa ốc,bàng bài,nhành dương liễu và tịnh bình,...v.v Mỗi pháp bảo ấy tượng trưng cho 42 thủ nhãn ấn pháp của đức quán âm nghìn tay nghìn mắt

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Việt Dịch: HT. Thích Thiền Tâm. “KINH THIÊN THỦ THIÊN NHÃN QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT QUẢNG ÐẠI VIÊN MÃN ĐẠI BI TÂM ÐÀ LA NI”. 
  2. ^ Kinh Dược Sư. Rộng Mở Tâm Hồn. tr. 9–11. 
  3. ^ 2007. Kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni Xuất Tượng. 1st Ed. Nhà xuất bản Tôn Giáo. Hà Nội

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]