4 (album của Beyoncé)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
4
Album phòng thu của Beyoncé
Phát hành 24 tháng 6 năm 2011
Thu âm 2009–11
Thể loại R&B, pop, soul
Thời lượng 46:33
Hãng đĩa Columbia
Sản xuất Antonio Dixon, Babyface, Brent Kutzle, Beyoncé Knowles (exec.), Caleb, Jeff Bhasker, Julian Napolitano, Jens Bergmark, Kuk Harrell, Kanye West, Kaskade, Luke Steele, Los Da Mystro, Ryan Tedder, Shea Taylor, Switch, Symbolyc One, The-Dream, Tricky Stewart
Thứ tự album của Beyoncé
Heat
(2008)
4
(2011)
Beyoncé (album)
(2013)
Đĩa đơn từ 4
  1. "Run the World (Girls)"
    Phát hành: 21 tháng 4 năm 2011
  2. "Best Thing I Never Had"
    Phát hành: 1 tháng 6 năm 2011
  3. "Party"
    Phát hành: 24 tháng 10 năm 2011
  4. "Love on Top"
    Phát hành: 12 tháng 9 năm 2011
  5. "Countdown"
    Phát hành: 4 tháng 10 năm 2011
  6. "I Care"
    Phát hành: 23 tháng 3 năm 2012
  7. "End of Time"
    Phát hành: 23 tháng 4 năm 2012

4album phòng thu thứ tư của nghệ sĩ thu âm Beyoncé, phát hành vào ngày 24 tháng 6 năm 2011 bởi hãng Columbia Records. Đây là album đầu tiên được phát hành mà không có sự quản lý của cha cô, Mathew Knowles.

Trong quá trình phát hành album, "Run the World (Girls)" đã được chọn là đĩa đơn đầu tiên của album và được phát hành ở dạng tải kĩ thuật số toàn thế giới vào ngày 21 tháng 4 năm 2011. Đĩa đơn trước đó đã bị lộ một đoạn thu thử vào ngày 19 tháng 4 năm 2011. Đĩa đơn tiếp theo là "Best Thing I Never Had" đã được phát hành vào ngày 1 tháng 6 năm 2011.

Thực hiện[sửa | sửa mã nguồn]

Vào mùa xuân năm 2009, Beyoncé đã bắt tay vào việc thực hiện album thứ tư của mình bằng việc viết và tìm những nguyên liệu nhạc mới trong quá trình quảng bá album phòng thu thứ ba của mình I Am... Sasha Fierce vào năm 2008, được lấy cảm hứng từ "bạn tri kỉ tưởng tượng" của mình, Sasha Fierce.[1] Knowles đã thông báo vào tháng 2 năm 2010 rằng cô đã "giết" Fierce vì "giờ tôi đã lớn hơn và tôi không thể sống hoài khi có hai con người trong tôi được".[2] Cô nói rằng cô dùng cuộc sống của cô để có thể tạo nên chất liệu nhạc riêng của cô. Sau đó, Beyoncé nói tiếp rằng "Tôi sẽ không nói rằng tôi sẽ phát minh ra một thể loại âm nhạc mới… Tôi chỉ hòa trộn những thể loại nhạc mà tôi thích và đầy cảm hứng từ nhiều thể loại khác nhau. Đó không phải là R&B. Đó không đơn thuần là pop. Đó không phải là rock. Đó chính là những gì tôi yêu thích và tạo nên một hỗn hợp âm nhạc."[3] Knowles tiết lộ thêm album sẽ lấy cảm hứng từ vài nghệ sĩ như Fela Kuti, The Stylistics, Lauryn Hill, Stevie WonderMichael Jackson.[4] Hai nhà sản xuất Jim JonsinNe-Yo đều sẽ sản xuất album mới này của cô. Ne-Yo phát biểu, "Ý tưởng đến rất bất chợt. Tôi không thể thể nói nhiều về album nhưng đó chính là một hướng đi mới của cô ấy và cô ấy đang thoát khỏi cái vỏ ốc mà cô ấy mang lên mình bao lâu nay. Trong một phút duy nhất sẽ không có người nào dám phá hủy con đường mà Beyoncé đang đi. Giờ họ không thể nhảy vào làn đường đó được, họ có thể sau khi cô hoàn thành xong album này."[5] Jonsin đã nói về ý tưởng của anh sử dụng nhạc điện tử mang phong cách thập niên 1980 với những nhịp trống mạnh. Tháng Giêng 2011, nhà sản xuất S1 đã xác nhận trên trang Twitter của mình rằng anh sẽ cùng Beyoncé thực hiện album này.[6] Sean Garrett cũng đã xác nhận mình sẽ thực hiện album này khi phát biểu "làm việc [cùng Knowles] thật sự rất khó khăn… nhưng tôi thích cô ấy".[7] Anh miêu tả thể loại âm nhạc mà anh sản xuất sẽ có "rất nhiều bài hát có nốt cao trong album. Cô ấy đang có một địa vị cao trong cuộc sống và cô ấy đang rất thú vị trong việc làm ra những bản nhạc vui vẻ".[8] Vào 24 tháng Giêng, Diplo thông báo rằng anh đang trong quá trình thức hiện album cùng Knowles, Switch và Derek Miller của Sleigh Bells.[9] Christopher "Tricky" Stewart,[10] The-Dream[11] Bangladesh,[12] Rodney "Darkchild" Jerkins,[13] Frank Ocean,[14] Kanye West,[15] Q-Tip và Alja Jackson[16] đều sẽ là những người thực hiện album mới của Beyoncé. Sia[11] và Talay Riley[17] là hai nhạc sĩ chính trong album này.

Vào tháng 2 năm 2011, một thông tin cho biết kế hoạch thực hiện đã gần kết thúc.[11] Knowles đã thu âm tổng cộng 72 ca khúc cho 4, và được hãng thu âm Columbia Records chọn lọc và đưa vào album của cô.[18] Một bữa tiệc nghe thử album cá nhân đã ra mắt vào ngày 11 tháng 5 năm 2011. Knowles đã chọn một vài nhóm người hâm mộ của cô đến vo nghe một đoạn thử của năm ca khúc trích từ album thứ tư của cô cùng video chính thức của đĩa đơn đầu tiên "Run the World (Girls)". Cô đã ở đó và nói về nội dung của album mới: "Tôi mong muốn làm một điều gì đó mới mẻ và khác biệt. Vì vậy tôi đã kết hợp nhiều thể loại nhạc khác nhau được lấy cảm hứng khi tôi đang đi tour, du lịch, xem các ban nhạc rock và tham gia các festival… Lúc đó tôi như một nhà bác học điên, tôi cố gắng hòa trộn nhiều bài hát khác nhau trở thành một bài hát duy nhất."[19]

Ngày phát hành được tiết lộ cùng ngày trình chiếu của video ca nhạc của "Run the World (Girls)".[20] Vào ngày 31 tháng 5 năm 2011, OneRepublic được xác nhận rằng mình đã thực hiện ca khúc cuối cùng của album trên trang Twitter.[21] Diane Warren tiết lộ trong một buổi phỏng vấn với PopWrap vào ngày 1 tháng 6 năm 2011, rằng cô cũng sẽ đóng góp đôi chút vào album này. Cô phát biểu, "Tôi chỉ viết một vài ca khúc khoảng một tuần rưỡi vừa qua và sẽ được Beyoncé thu âm, tôi nghĩ đó chính là bài hát hay nhất mà tôi đã viết. Cô ấy hát rất tuyệt vời. Tôi nghĩ đó chính là một ca khúc hay của cả sự nghiệp của tôi và đó chính là một trong những bài hát mà tôi thích… hiện tại."[22]

Thu âm[sửa | sửa mã nguồn]

Hầu hết các ca khúc trong 4 được thu âm tại MSR Studios, Thành phố New York; những phòng thu khác cũng tại New York và được thu âm cho album là Jungle City Studios, Germano Studios, Roc the Mic và KMA Music. Việc thu âm album còn được thực hiện tại Conway Recording Studios, Enormous Studios và Record PlantLos Angeles, The Studio ở Las Vegas, Patriot Studios ở Denver, Boston Harbor HotelBoston, Conway Recording StudiosHollywood, Triangle Sound Studios ở Atlanta và Lear 60/G2 Studios. Ngoài các phòng thu tại Mỹ, cô còn thực hiện việc thu âm của mình tại châu Âu như Real World StudiosBox, Metropolis GroupLuân Đôn, Avex Honolulu Studios, Honolulu, và một phòng thu đặc biệt dành riêng cho album tại Sydney.[23][24] Chồng của Knowles, Jay-Z, đã làm việc với Kanye West trong Watch the Throne tại phòng thu tại Sydney cùng thời điểm đó; phòng thu này khá đặc biệt vì nó không có buồng thu âm mà chỉ có micro và gồm phần mềm Pro Tools trên máy tính. Giọng của Knowles trong 4 đã được thu bằng micro Avalon Design 737, và album đã được chỉnh sửa bằng 1176 Peak Limiter với tỉ lệ âm thanh là 4:1.[23]

Nội dung và ảnh bìa[sửa | sửa mã nguồn]

Trong quá trình thực hiện, Knowles đã thu âm 72 ca khúc để chuẩn bị cho album.[25] Một nguồn tin cho biết "Họ đã không chuẩn bị trước cách chọn lọc các bài hát mà Beyoncé đã đưa cho họ. Cô ấy rõ ràng là một người giàu trí tưởng tượng. Giờ họ cần phải hoàn thành một công việc khá khó khăn đó là chọn lựa ra ca khúc hay nhất để giúp album thành công."[25]

Beyoncé đã phát biểu trên báo Billboard với phóng viên Ray Rogers rằng tên 4 được lấy cảm hứng từ những người hâm mộ của cô, "Tôi có hàng tá tên và nội dung khác nhưng những người hâm mộ của tôi có vẻ thích cái tên '4', và có lẽ sẽ là điều rất tuyệt vời khi lấy con số này làm tựa album".[26] Cô đồng thời cũng tiết lộ rằng số 4 cũng chính ngày sinh của cô và ngày kỉ niệm lễ cưới của cô cũng diễn ra vào ngày 4 của tháng. Beyoncé nói thêm, "Ngày sinh nhật của mẹ tôi và nhiều người bạn của tôi đều vào ngày 4."[27] Hình bìa chính thức của album được tiết lộ trên trang web chính thức của cô vào ngày 18 tháng 5 năm 2011, cùng ngày tiết lộ thời gian phát hành chính thức của album và trình chiếu video của đĩa đơn "Run the World (Girls)".[1][28] Trong bìa album, Knowles chụp ảnh cùng một chiếc áo khoác lông, đưa tay ngang đầu cùng chiếc vòng vàng và kiểu trang điểm mắt màu khói.[1][28] Bìa album nhận được lời khen từ các nhà phê bình. Đa số đều cho rằng "đầy đủ về mặt quảng bá", Robbie Daw của Idolator cho rằng cách tạo kiểu của cô khá giống Raquel Welch, và hỏi người hâm mộ rằng "Bạn đã sẵn sàng cho món thạch này chưa?", và đồng thời cũng cho rằng cô đã gợi nhớ về nhóm Destiny's Child với bài hát "Bootylicious".[29] Jocelyn Vena của MTV News mô tả Beyoncé nhìn "gợi cảm và quyền lực" khi xuất hiện trên bìa album.[28] Ảnh bìa của bản cao cấp sau đó cũng đã được tiết lộ vào ngày 16 tháng 6 năm 2011 với hình ảnh Beyoncé nhẹ nhàng hơn khi diện lên mình một chiếc đầm ôm sát màu xanh dương, nằm chặt hai tay sau đầu khá tương tự như ảnh bìa bản thường.[30]

Sáng tác[sửa | sửa mã nguồn]

Cô chia sẻ rằng album được lấy cảm hứng từ Fela Kuti và khi cô làm việc với ban nhạc của vở kịch của Broadway, Fela!.[31] Khi cô nói về cảm hứng của cô trong album này, Kuti, Beyoncé đã phát biểu rằng "tôi có thể cảm nhận tâm hồn và trái tim của âm nhạc của anh ấy; nó thật gợi cảm và có nhịp điệu thật tuyệt vời, nó khiến bạn bị lạc trong âm nhạc ấy". Sau đó cô chia sẻ thêm rằng cảm hứng của album được thực hiện với tiếng trống và sự kính trọng cùng việc "hòa trộn mọi thứ thành một".[32] Album đồng thời còn được lấy cảm hứng từ nhạc R&B thập niên 1990, Earth, Wind & Fire, DeBarge, Lionel Richie, Teena Marie và những nghệ sĩ tài năng như The Jackson 5, New Edition, Adele, Florence and the Machine, và Prince.[32] Beyoncé đã nói thêm rằng nhân vật này trong album sẽ thêm vài nhịp điệu hip-hop để có thể tạo nên những giai điệu tuyệt hảo. Beyoncé chia sẻ cô đã tự mình tự do trong một vài bài hát và mang nhịp điệu soul khi nói "Tôi dùng rất nhiều sức mạnh trong giọng hát của tôi khi mọi người nghe tôi hát trong những buổi trình diễn, nhưng điều đó không cần thiết trong các bản nhạc tôi thu."[32]

Bình luận viên âm nhạc Alexis Petridis cho rằng album này chủ yếu lấy cảm hứng từ nhạc R&B thập niên 1980 và viết rằng "4 thường xuyên trở lại với nhạc R&B của quá khứ."[33] Jon Caramanica của The New York Times cho rằng album khá tương tự những sản phẩm trước của Beyoncé, viết rằng "Album có vẻ khá mang phong cách của những album soul cuối thập niên 1970 và đầu những năm 80 - khá giống Jennifer Holliday - hơn là sự thăng bằng mà cô tuyên bố; lời tuyên bố này tương tư ca sĩ Rihanna."[34] Phóng viên của Chicago Sun-Times, Thomas Conner cho rằng album "tinh tế và đáng ngạc nhiên" và gợi cho ta nhớ đến album năm 2011 của nghệ sĩ thu âm Adele, 21 và anh nghĩ rằng 4 có "rất nhiều giai điệu mới lạ, một số ca khúc rất tuyệt vời nhờ vào suy nghĩ sâu xa của nhạc sĩ và người sản xuất."[35] James Reed của The Boston Globe cho rằng album khá "sang trọng" và "êm dịu" hơn những album trước của cô và mang chủ đề về "những câu chuyện rắc rối của những mối quan hệ tình yêu."[36] Ryan Dombal của Pitchfork Media tương tự như Reed, nhận xét album là một câu chuyện của một cặp đôi và viết về âm nhạc của album là "bước ra khỏi âm thanh Eurobeat cũ để bước vào thể loại R&B cổ điển đầu những năm 90, một chút soul của thập niên 1980 và mang ảnh nặng từ nền nhạc nhẹ."[37] Nhà phê bình âm nhạc Nitsuh Abebe từ tạp chí New York nhận xét về chủ đề của Beyoncé trong album, "cách cô hát về tình yêu-được cô nói là điều quan trọng và thật sự nghiêm túc trong cuộc sống, nhất là khi đưa vào âm nhạc, vào những ca khúc chính hay những bài hát kể về sự đau khổ-nghe giống như sự yếu đuối và sự tin tưởng trong tình yêu".[38] Mikael Wood of Spin cho rằng các ca khúc nhẹ nhàng gồm hai loại là khao khát tình yêu ('1+1,' 'Rather Die Young') và nỗi đau ('I Care,' 'Best Thing I Never Had')."[39]

Phát hành và quảng bá[sửa | sửa mã nguồn]

Vào 11 tháng 5 năm 2011, Beyoncé đã tổ chức một bữa tiệc nghe thử album tại thành phố New York, cô đã bật thử vài bài hát cho những nhóm người hâm mộ mà cô đã chọn.[40] Cô trình diễn ca khúc "Run the World (Girls)" tại chương trình Surprise Oprah! A Farewell Spectacular tại United CenterChicago vào 17 tháng 5 năm 2011.[41] Chương trình là lễ kỉ niệm mùa thứ 25 và là mùa kết thúc của chương trình The Oprah Winfrey Show.[41] Beyoncé đồng thời cũng trình diễn "Run the World" tại giải Billboard Music Awards năm 2011 vào ngày 22 tháng 5 năm 2011 cùng màn trình diễn vô cùng ấn tượng khi cô nhảy cùng ngàn vũ công cùng việc sử dụng công nghệ cao đẹp mắt.[42] Beyoncé đồng thời cũng đã trình bày ca khúc "1+1", tại lễ chung kết của chương trình American Idol vào ngày 25 tháng 5 năm 2011.[43] Vào phần dạo đầu của bài hát, cô đã giới thiệu bài hát này là một trong những ca khúc mà cô yêu thích. Cô đã trình diễn ca khúc trong chiếc váy tím và ánh đèn đỏ cùng khói xung quanh sân khấu.[43] Trong cùng ngày hôm đó, "1+1" đã được bày bán trực tuyến trên cửa hàng của iTunes và trở thành đĩa đơn quảng bá độc quyền tại Hoa Kỳ.[44] Vào ngày 7 tháng 6 năm 2011, ba tuần trước khi phát hành, 4 đã bị rò rỉ toàn bộ tất cả ca khúc trên mạng. Beyoncé sau đó đã có những biện pháp mạnh để có thể ngăn chặn các trang web đăng tải lên album của mình và sẽ sớm loại bỏ các ca khúc của mình trên những trang web khác.[45] Nhưng sau đó, một vài người đang trực tuyến trên trang Twitter đã truyền nhau các đường dẫn của album, khiến việc ngăn chặn của hãng thu âm nay càng khó khăn bao giờ hết. Vào ngày 9 tháng 6 năm 2011, Beyoncé đã phản hồi về vụ việc này trên trang Facebook chính thức của mình:

"Nhạc của tôi đã bị rò rỉ và đây không phải là cách mà tôi muốn quảng bá cho những ca khúc của mình, tôi rất vui khi nhận được rất nhiều phản hồi tích cực từ người hâm mộ. Khi tôi đang thu âm các ca khúc trong album thì tôi luôn luôn nghĩ về các "fan" của mình đang hát và nhảy múa theo ca khúc. Tôi làm nhạc để mọi người hạnh phúc và tôi nghĩ mọi người có lẽ sẽ khá áy náy khi nghe những ca khúc bị rò rỉ của tôi."[46]

Beyoncé đã xuất hiện trên chương trình Entertainment Tonight vào ngày 16 tháng 6 năm 2011 để quảng bá cho phiên bản cao cấp của album, phát hành độc quyền tại Target, và trình chiếu một số đoạn phim hậu trường khi cô đang thực hiện quảng cáo truyền hình cho tập đoàn này.[47] Từ ngày 16 tháng 6 đến 27 tháng 6 năm 2011, mỗi ngày trên trang web chính thức của cô sẽ tiết lộ một ca khúc mới kèm theo những hình ảnh mới và một câu viết chia sẻ về album này của Beyoncé.[48] Cô đồng thời sẽ thực hiện một tour diễn nhỏ ở Pháp, bắt đầu từ Palais NikaiaNice vào 20 tháng 6 năm 2011; tại Zénith ở Lille vào ngày 22 tháng 6 năm 2011; và tại GalaxieAmnéville vào ngày 23 tháng 6 năm 2011.[49] Sau đó, cô sẽ trình diễn 90 phút tại 2011 Glastonbury Festival vào ngày 26 tháng 6 năm 2011.[50] Cùng ngày hôm đó, Beyoncé cũng sẽ trình diễn tại lễ trao giải BET Awards 2011.[51] Sau đó, cô sẽ có một buổi phỏng vấn 60 phút với Piers Morgan, sẽ trình chiếu vào ngày 27 tháng 6 năm 2011 trong chương trình Piers Morgan Tonight.[52] Tiếp tục, cô sẽ trình diễn tại vòng chung kết của cuộc thi X Factor Pháp vào ngày 28 tháng 6 năm 2011.[53] Vào ngày 1 tháng 7 năm 2011, cô sẽ trình diễn các ca khúc từ album của mình trên chương trình GMA Summer Concert Series.[54] Beyoncé cũng sẽ trình diễn tại Festival T in the Park ở Scotland vào ngày 9 tháng 7 năm 2011 và Oxegen Festival ở Ailen vào ngày kế tiếp.[49]

Đĩa đơn[sửa | sửa mã nguồn]

"Run the World (Girls)" được phát hành để trở thành đĩa đơn đầu tiên của album vào ngày 21 tháng 4 năm 2011.[55] Sau khi bị rò rỉ một đoạn nhạc của "Run the World (Girls)" vào ngày 14 tháng 4 năm 2011,[56][57] toàn bộ ca khúc bị rò rỉ ngay bốn ngày sau đó[58] khiến toàn bộ kế hoạch phát hành đĩa đơn phải thực hiện sớm hơn kế hoạch. Video ca nhạc đi kèm được quay trong ba ngày bởi đạo diễn Francis Lawrence, bắt đầu này 11 tháng 4 năm 2011 và kết thúc 13 tháng 4 năm 2011.[59] Video được trình chiếu vào ngày 18 tháng 5 năm 2011 bởi chương trình American Idol.[60]

Đĩa đơn tiếp theo là "Best Thing I Never Had" được phát hành vào ngày 1 tháng 6 năm 2011 trên sóng phát thanh tại Mĩ,[61] và đồng thời được phát hành trực tuyến.[62]

Đánh giá chuyên môn[sửa | sửa mã nguồn]

Đánh giá chuyên môn
Điểm trung bình
Nguồn Đánh giá
Metacritic (72/100)
Nguồn đánh giá
Nguồn Đánh giá
Chicago Tribune 2.5/4 saoStar full.svgStar half.svgStar empty.svg[63]
Entertainment Weekly (B)[64]
The Guardian 3/5 saoStar full.svgStar full.svgStar empty.svgStar empty.svg[33]
Los Angeles Times 3/4 saoStar full.svgStar full.svgStar empty.svg
The New York Times (ưa thích)[34]
NME (4/10)[65]
Pitchfork Media (8.0/10)[37]
Rolling Stone 3.5/5 saoStar full.svgStar full.svgStar half.svgStar empty.svg[66]
Slant Magazine 3.5/5 saoStar full.svgStar full.svgStar half.svgStar empty.svg
Spin (8/10)[39]

4 nhận được nhiều đánh giá tích cực từ các nhà phê bình âm nhạc.[67] Metacritic đã cho album điểm trung bình là 70 trên 100, dựa trên 8 bài đánh giá "hầu như là tích cực". Eric Henderson của Slant Magazine mô tả album "khá thân mật, đậm chất ballad" và "bị chi phối bởi những ca khúc quá nhẹ nhàng nhưng giọng của cô đã giúp cứu vớt được album này khỏi thất bại".[68] Phóng viên của Chicago Sun-Times, Thomas Conner cho rằng album "tinh tế và đáng ngạc nhiên" và gợi cho ta nhớ đến album năm 2011 của nghệ sĩ thu âm Adele, 21 và anh nghĩ rằng 4 có "rất nhiều giai điệu mới lạ, một số ca khúc rất tuyệt vời nhờ vào suy nghĩ sâu xa của nhạc sĩ và người sản xuất." Nitsuh Abebe của New York cho rằng Beyoncé đã "giải quyết tâm trạng của mình" bằng các bản ballad "quyến rũ" và nhận xét thêm rằng "Cô đã thực hiện rất tốt trong việc chống chọi [sự tấn công của người khác]".[38] Phóng viên của Consequence of Sound, Chris Coplan nhận xét album là "sản phẩm thuần pop xuất sắc nhất" và cho rằng "tôi thực sự rất sửng sốt với những gì họ đã làm với những ca khúc, kèm theo đó là phần lời nhạc rất đơn giản."[69] Michael Cragg của The Observer cho ca khúc bốn trên năm sao và cho rằng "đây chính là album mềm mại nhất mà cô từng thực hiện."[70]

Matthew Horton của BBC Online không mấy hài lòng với một vài ca khúc nhưng anh lại nhận xét album là "những bản ballad-house mạnh mẽ" và viết rằng "Beyoncé đã chuyển từ gợi cảm đến nhẹ nhàng và đến tuyệt vời, chỉ bằng một giọng hát trong sáng hoàn hảo."[71] Dù phàn nàn về ca khúc "Run the World (Girls)" và gọi đây là bài hát "tệ nhất" của album nhưng Mikael Wood từ Spin vẫn khen ngợi chủ đề tình yêu và nhận Beyoncé rằng "cô đã tạo nên một tuyển tập ballad tuyệt với các ca khúc nhẹ nhàng mang phong cách pop-soul cuối năm 70/đầu những năm 80."[39] James Reed của The Boston Globe cho rằng album có "khóa thấp và dễ dàng chấp nhận" và nhận xét thêm về phần sản xuất là "trang nhã, nhưng đôi lúc hơi rối rắm."[36]

Mặt khác, Andy Gill của The Independent gọi các bài hát của album là "quá nhiều […] những bản nhạc quá nhẹ nhàng, quá xúc động" và phê bình rằng "nửa vời, giai điệu lạ lẫm và ngớ ngẩn, ca từ ngộ nghĩnh."[72] Adam Markovitz của Entertainment Weekly nhận xét phần nửa đầu của album "nặng nề […] phần trình diễn của những bản ballad ru ngủ" và cho rằng "Giọng hát của cô không thể tuyệt vời hơn - mạnh mẽ và chính xác - nhưng những bài hát này không cân xứng đối với cô."[64] Greg Kot của Chicago Tribune cho rằng album là một điều "không thể giải thích được" và cho rằng "album cảm giác như chưa được hoàn thiện, nửa vời."[63] Alexis Petridis của The Guardian cho rằng "Điều khó khăn trong album này là ta không thể cảm nhận được album hay như thế nào."[33] Kevin Ritchie của NOW viết rằng "Trong 4, cô vẫn không thể tỏ vẻ mềm mại trong các ca khúc, nhưng bên cạnh đó, cô đã bước ra khỏi những giai điệu sôi động và đến thế giới của những ca khúc nhẹ nhàng đẹp đẽ."[73]

Danh sách ca khúc[sửa | sửa mã nguồn]

STT Tên bài hátSáng tác Sản xuất Thời lượng
1. "1+1"  Terius Nash, Christopher Stewart, Beyoncé KnowlesKnowles, The-DreamTricky Stewart 4:33
2. "I Care"  Jeff Bhasker, Chad Hugo, KnowlesBhasker, Knowles* 3:59
3. "I Miss You"  Frank Ocean, Shea Taylor, KnowlesKnowles, S. Taylor 2:59
4. "Best Thing I Never Had"  Kenny Edmonds, Antonio Dixon, Knowles, Patrick Smith, S. Taylor, Larry Griffin, Jr., Caleb McCampbellKnowles, Babyface, Dixon,
S. Taylor, S1 & Caleb
4:13
5. "Party" (cùng André 3000)Kanye West, Bhasker, Knowles, André 3000, Dexter Mills, Douglas Davis, Ricky WaltersKnowles, West, Bhasker* 4:05
6. "Rather Die Young"  Bhasker, Luke Steele, KnowlesBhasker, Knowles*, Steele* 3:42
7. "Start Over"  Taylor, Knowles, Ester DeanKnowles, S. Taylor 3:19
8. "Love on Top"  Knowles, Nash, S. TaylorKnowles, S. Taylor 4:27
9. "Countdown"  Nash, S. Taylor, Knowles, Dean, Cainon Lamb, Julie Frost, Michael Bivins, Nathan Morris, Wanya MorrisKnowles, S. Taylor, Lamb 3:32
10. "End of Time"  Knowles, Nash, S. Taylor, David TaylorKnowles, The-Dream, Switch, Diplo 3:43
11. "I Was Here"  Diane WarrenRyan Tedder, Brent Kutzle, Knowles^, Kuk Harrell^ 3:59
12. "Run the World (Girls)"  Nash, Knowles, Wesley Pentz, D. Taylor, Adidja Palmer, Nick van de WallSwitch, The-Dream, Knowles*,
S. Taylor*
3:56

(*) Đồng sản xuất
(^) Hướng dẫn thanh nhạc

Ghi chú
  • Bản cao cấp còn kèm theo một phiên bản video độc quyền của "Run the World (Girls)".[76]
  • Kuk Harrell là nhà sản xuất chỉ trong "I Was Here".[77]
Các mẫu nhạc được sử dụng

Những người thực hiện[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nguồn từ website chính thức của Knowles.[77]

Quản lý

Hình ảnh

Kỹ thuật và sản xuất

Xếp hạng và chứng nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Lịch sử phát hành[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc gia Ngày phát hành Định dạng Hãng phát hành (Các) phiên bản
Úc 24 tháng 6 năm 2011 CD, tải kỹ thuật số Sony Music Entertainment Bản thường,[126] cao cấp[127]
Áo Tải kỹ thuật số Bản thường[128]
Bỉ[129][130] CD, tải kỹ thuật số Bản thường, cao cấp
Đức[131][132]
Ailen Bản thường[133]
Hà Lan Bản thường,[134] cao cấp[135]
Thụy Sĩ Tải kỹ thuật số Bản thường[136]
Pháp[137][138] 27 tháng 6 năm 2011 CD, tải kỹ thuật số Bản thường, cao cấp
New Zealand[139]
Anh[140][141] RCA Records
Argentina 28 tháng 6 năm 2011 Tải kỹ thuật số Sony Music Entertainment Bản thường[142]
Brasil[143][144] CD, tải kỹ thuật số Bản thường, cao cấp
Canada[145][146] Columbia Records
Tây Ban Nha Tải kỹ thuật số Sony Music Entertainment Bản thường[147]
Hoa Kỳ[148] CD, tải kỹ thuật số Columbia Records Bản thường, cao cấp
Đan Mạch[149][150] 29 tháng 6 năm 2011 Sony Music Entertainment
Nhật Bản[151][152] Sony Music Entertainment Japan

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â “Album Cover: Beyoncé – ‘4’”. Rap-Up. Ngày 18 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2011. 
  2. ^ Crosley, Hillary (26 tháng 2 năm 2010). “Beyonce Says She 'Killed' Sasha Fierce”. MTV News. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2011. 
  3. ^ Vena, Jocelyn (23 tháng 11 năm 2010). “Beyonce Inspired By Michael Jackson, Lauryn Hill For New Album”. MTV News. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2011. 
  4. ^ Vena, Jocelyn (ngày 23 tháng 11 năm 2010). “Beyonce Inspired By Michael Jackson, Lauryn Hill For New Album”. MTV News. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2011. 
  5. ^ “Beyoncé Crafts 'Own Genre' on New Album”. Rap-Up. 18 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2011. 
  6. ^ “Beyonce is teaming up with Kanye West's producer S1 to bring you something like never before!”. MTV News. 18 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2011. 
  7. ^ Lipshutz, Jason (20 tháng 1 năm 2011). “Sean Garrett Working 'Feverishly' on New Justin Bieber & Beyonce Albums, Columbia Debut”. Billboard. New York: Prometheus Global Media. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2011. 
  8. ^ Vozick-Levinson, Simon (15 tháng 9 năm 2010). “Beyonce working on new 'party music,' says songwriter Sean Garrett”. Entertainment Weekly. Time Inc. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2011. 
  9. ^ Herrera, Monica (24 tháng 1 năm 2011). “Beyonce Hits the Studio with Diplo, Sleigh Bells?”. Billboard. New York: Prometheus Global Media. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2011. 
  10. ^ Concepcion, Mariel (21 tháng 1 năm 2011). “Beyonce: 2011 Album Preview”. Billboard. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2011. 
  11. ^ a ă â “Is Beyonce Almost Finished With Her New Album?”. MTV News. 16 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2011. 
  12. ^ Concepcion, Mariel (24 tháng 12 năm 2010). “Producer Says He Didn't Rip Off Lil Wayne '6 Foot, 7 Foot' Beat”. Billboard. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2011. 
  13. ^ Tijs, Andrew (5 tháng 4 năm 2011). “Undercover News: New Beyonce Album Due Out In June”. Undercover News. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2011. 
  14. ^ “Beyoncé Dives Into Studio with Frank Ocean”. Rap-Up. 12 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2011. 
  15. ^ Corner, Lewis (10 tháng 3 năm 2011). “New Beyoncé track to be released soon?”. Digital Spy. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2011. 
  16. ^ “Alja Jackson Writes For New Beyoncé Album”. RTTNews. 26 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2011. 
  17. ^ Lester, Paul (2 tháng 9 năm 2010). “New band of the day - Talay Riley (No 859)”. guardian.co.uk. Guardian Media Group. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2011. 
  18. ^ “A hard Bey’s work for Beyonce”. The Sun. News International. 14 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2011. 
  19. ^ “Billboard Bits: Beyonce Previews '4' at Listening Party, Kenny Chesney Playing Alabama Show For Charity”. Billboard. Prometheus Global Media. 12 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2011. 
  20. ^ “Video: Beyoncé – ‘Run the World (Girls)’”. Rap-Up. Devin Lazerine. 18 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2011. 
  21. ^ Dinh, James (1 tháng 6 năm 2011). “Beyonce Premieres 'Best Thing I Never Had'. MTV News. MTV Networks. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2011. 
  22. ^ Wieselman, Jarett (1 tháng 6 năm 2011). “Diane Warren talks greatest hits, Beyonce & Due Voci”. PopWrap. New York Post. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2011. 
  23. ^ a ă Weiss, David (26 tháng 6 năm 2011). “Engineer Profile: DJ Swivel on the Making of Beyoncé's '4'. Sonic Scoop. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2011. 
  24. ^ 4. Beyoncé. Columbia Records. 2011. 
  25. ^ a ă “Beyonce has 72 tracks in contention for new album '4' - audio”. NME. 14 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2011. 
  26. ^ Herrera, Monica; Rogers, Ray (11 tháng 5 năm 2011). “Exclusive: Beyonce's New Album Title Revealed”. Billboard. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2011. 
  27. ^ Herrera, Monica; Rogers, Ray (ngày 11 tháng 5 năm 2011). “Exclusive: Beyonce's New Album Title Revealed”. Billboard. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2011. 
  28. ^ a ă â Vena, Jocelyn (19 tháng 5 năm 2011). “Beyonce Reveals 4 Album Art, Release Date”. MTV News. MTV Networks. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2011. 
  29. ^ Daw, Robbie (19 tháng 5 năm 2011). “Beyonce Strikes A Fierce Pose On Her '4' Album Cover”. Idolator. Gawker Media. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2011. 
  30. ^ Shira, Dahvi (16 tháng 6 năm 2011). “First Look at Deluxe Edition of Beyoncé's Album, 4”. People. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2011. 
  31. ^ Rogers, Ray; Trust, Gary (11 tháng 5 năm 2011). “Beyoncé: The Billboard Music Awards Q&A”. Billboard (New York: Prometheus Global Media). Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2011. 
  32. ^ a ă â Rogers, Ray (ngày 11 tháng 5 năm 2011). “Beyoncé: The Billboard Music Awards Q&A”. Billboard. tr. 1–3. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2011. 
  33. ^ a ă â Petridis, Alexis (23 tháng 6 năm 2011). “Beyoncé: 4 - review”. The Guardian. Guardian News and Media Limited. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2011. 
  34. ^ a ă Caramanica, Jon (ngày 27 tháng 6 năm 2011). “On ‘4,’ Beyoncé Bids Farewell (for Now) to Her Old Selves”. The New York Times. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2011. 
  35. ^ Conner, Thomas (22 tháng 6 năm 2011). “CD review: Beyonce, '4' - Music: Via Chicago”. Chicago Sun-Times. Sun-Times Media. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2011. 
  36. ^ a ă Reed, James (26 tháng 6 năm 2011). “CD review: Beyoncé shows a softer side on '4'. The Boston Globe. The New York Times Company. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2011. 
  37. ^ a ă Dombal, Ryan (ngày 28 tháng 6 năm 2011). “Album Reviews: Beyoncé: 4”. Pitchfork Media. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2011. 
  38. ^ a ă Abebe, Nitsuh (19 tháng 6 năm 2011). “Nitsuh Abebe on Beyoncé’s Latest Album, ‘4’ -- New York Magazine Pop Music Review”. New York. New York Media. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2011. 
  39. ^ a ă â Wood, Mikael (27 tháng 6 năm 2011). “Beyonce, '4' (Columbia)”. Spin. SPIN MEDIA. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2011. 
  40. ^ “Beyonce Previews 4, 'Run The World (Girls)' Video”. MTV. 12 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2011. 
  41. ^ a ă “Beyonce, Usher, and Alicia Keys Salute Oprah During Farewell Spectacular”. Rap-Up. Devin Lazerine. 18 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2011. 
  42. ^ “How are you going to get out of that? Beyoncé wears revealing metallic 'spider's web' dress at the Billboard Music Awards”. Daily Mail. Associated Newspapers Ltd. 23 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2011. 
  43. ^ a ă “Beyonce Debuts '1+1' on 'American Idol' (Video)”. Rap-Up. Devin Lazerine. 25 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2011. 
  44. ^ Corne, Lewis (26 tháng 5 năm 2011). “Beyoncé releases new song '1+1'. Digital Spy. Hachette Filipacchi Médias. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2011. 
  45. ^ “Beyoncé's '4' leaks online, three weeks before release”. The Los Angeles Times (Tribune Company). 7 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2011. 
  46. ^ Wete, Brad (9 tháng 6 năm 2011). “Beyonce's a little peeved her new album leaked, but happy fans like it”. Entertainment Weekly. Time Inc. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2011. 
  47. ^ “Beyonce Talks Motherhood On 'Entertainment Tonight', May Join Kelly Rowland On UK 'X-Factor'. Idolator. BuzzMedia. 18 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2011. 
  48. ^ “Join Us As We Count Down To '4'. BeyonceOnline.com. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2011. 
  49. ^ a ă “Beyonce Events, Beyonce Tour Schedule, Beyonce Interviews”. BeyonceOnline.com. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2011. 
  50. ^ “Beyonce to Headline Glastonbury Festival” (Thông cáo báo chí). New York: Columbia Records. Ngày 10 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2011. 
  51. ^ Osorio, Kim (15 tháng 6 năm 2011). “Beyonce to Perform at 2011 BET Awards”. BET News. BET Networks. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2011. 
  52. ^ “Andre 3000 Calls Beyonce 'One of the Best Performers'. Rap-Up. 20 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2011. 
  53. ^ “X Factor 2011: Beyoncé invitée spéciale de la finale le 28 juin” (bằng tiếng Pháp). Premiere.Fr. 10 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2011. 
  54. ^ “Beyonce Causes a Frenzy in France”. Rap-Up. 14 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2011. 
  55. ^ Dinh, Jame (21 tháng 4 năm 2011). “Beyonce's 'Run The World (Girls)' To Hit Radio, iTunes Thursday”. MTV News. MTV Networks. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2011. 
  56. ^ “Snippet of Beyonce's New Single Hits the Net”. Rap-Up. Devin Lazerine. 14 tháng 4 năm 2011. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2011. 
  57. ^ Ramirez, Erika (14 tháng 4 năm 2011). “Listen: Beyonce Single Snippet Leaks?”. Billboard. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2011. 
  58. ^ “Beyonce Drops Official Version Of 'Run The World (Girls)'. Rap-Up. Devin Lazerine. 18 tháng 4 năm 2011. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2011. 
  59. ^ Vena, Jocelyn (18 tháng 4 năm 2011). “Beyoncé's 'Girls' Video Will Be 'Big', Director Says”. MTV News. MTV Networks. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2011. 
  60. ^ Vena, Jocelyn (17 tháng 5 năm 2011). “Beyonce To Premiere 'Run The World (Girls)' On 'American Idol'. MTV News. MTV Networks. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2011. 
  61. ^ Lipshutz, Jason (31 tháng 5 năm 2011). “Beyonce to Release New Single on Wednesday”. Billboard. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2011. 
  62. ^ “Best Thing I Never Had – Single (United States)”. iTunes Store. Apple Inc. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2011. 
  63. ^ a ă Kot, Greg (24 tháng 6 năm 2011). “Beyonce album review; 4 reviewed”. Chicago Tribune. Tribune Company. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2011. 
  64. ^ a ă Markowitz, Adam (22 tháng 6 năm 2011). “4 review - Beyoncé Review”. Entertainment Weekly. Time Inc. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2011. 
  65. ^ MacBain, Hamish (ngày 21 tháng 6 năm 2011). “Beyonce – Album Review: Beyonce – '4' – Album Reviews”. NME. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2011. 
  66. ^ Rosen, Jody (ngày 28 tháng 6 năm 2011). “4 by Beyonce | Music Reviews”. Rolling Stone. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2011. 
  67. ^ “4 Reviews, Ratings, Credits, and More at Metacritic”. Metacritic. CBS Interactive. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2011. 
  68. ^ Henderson, Eric (10 tháng 6 năm 2011). “Beyoncé: 4 | Music Review”. Slant Magazine. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2011. 
  69. ^ Coplan, Chris (24 tháng 6 năm 2011). “Album Review: Beyoncé – 4”. Consequence of Sound. Complex Media Network. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2011. 
  70. ^ Cragg, Michael (26 tháng 6 năm 2011). “Beyoncé: 4 – review”. The Observer (London: Guardian Media Group). Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2011. 
  71. ^ Horton, Matthew (22 tháng 6 năm 2011). “BBC - Music - Review of Beyoncé - 4”. BBC Online. BBC. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2011. 
  72. ^ Gill, Andy (24 tháng 6 năm 2011). “Album: Beyonce, 4 (Columbia)”. The Independent. Independent Print Limited. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2011. 
  73. ^ Ritchie, Kevin (23 tháng 6 năm 2011). “NOW Magazine // Music // Beyoncé - 4”. NOW. Now Communications. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2011. 
  74. ^ “Beyoncé - 4 [Limited Edition]” (bằng tiếng Nhật). Sony Music Japan. 5 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2011. 
  75. ^ “Beyoncé - 4” (bằng tiếng Nhật). HMV. 16 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2011. 
  76. ^ a ă “4 (Deluxe Edition) – 2 Discs”. Target Corporation. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2011. 
  77. ^ a ă â b c 4 (CD liner). Beyoncé. Columbia Records. 2011. 
  78. ^ “Argentina Charts (Week Ending ngày 26 tháng 6 năm 2011)” (bằng tiếng Tây Ban Nha). Argentine Chamber of Phonograms and Videograms Producers. Please note that you need to fill in Tipo: Ranking Semenal Pop and Fecha: 26/06/11. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2011. 
  79. ^ “Top 50 Albums Chart”. Australian Recording Industry Association. 4 tháng 7 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2011. 
  80. ^ “Top 40 Urban Albums Chart”. Australian Recording Industry Association. 4 tháng 7 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 7 năm 2011. 
  81. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m “Beyoncé '4' (Album)”. Ultratop 50. Hung Medien. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2011. 
  82. ^ Jones, Alan (12 tháng 7 năm 2011). “Beyoncé's 4 overtakes Adele to top the world sales chart”. Music Week (United Business Media). Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2011. 
  83. ^ “Canadian Albums: Week of ngày 16 tháng 7 năm 2011”. Billboard. Prometheus Global Media. 16 tháng 7 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2011. 
  84. ^ “Top Stranth – Tjedan 27. 2011” (bằng tiếng Croatia). Hrvatska Diskografska Udruga. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2011. 
  85. ^ “Čns Ifpi”. International Federation of the Phonographic Industry (Czech Republic). 12 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2011. 
  86. ^ “Chartverfolgung – Beyonce” (bằng tiếng Đức). Media Control Charts (Đức). Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2011. 
  87. ^ “Top 75 Albums” (bằng tiếng Hy Lạp). International Federation of the Phonographic Industry (Greece). Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2011. 
  88. ^ “MAHASZ – Magyar Hanglemezkiadók Szövetsége”. Magyar Hanglemezkiadók Szövetsége. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2011. 
  89. ^ “Top 75 Artist Album, Week Ending ngày 30 tháng 6 năm 2011”. Irish Recorded Music Association. Chart-Track. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2011. 
  90. ^ “Chart Track” (bằng tiếng Nhật). Oricon. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2011. 
  91. ^ “Oficjalna lista sprzedaży:: OLIS – Official Retail Sales Chart”. OLiS. Polish Society of the Phonographic Industry. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2011. 
  92. ^ “Russian music charts. Weeks 27 and 28 – 2011” (bằng tiếng Nga). 2M. Lenta.Ru. 29 tháng 7 năm 2011. Truy cập tháng 8 năm 2011. 
  93. ^ “Archive Chart”. Scottish Albums Chart. The Official Charts Company. 9 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2011. 
  94. ^ “Slo Top 30 28. jul '11 ob 18:00” (bằng tiếng Slovenia). RTV (Slovenia). Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2011. 
  95. ^ “SA Top 20 (ngày 9 tháng 7 năm 2011)” (bằng tiếng Afrikaans). Recording Industry of South Africa Official Website. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2011. 
  96. ^ “Beyoncé Knowles for South Korea Gaon International Chart” (bằng tiếng Triều Tiên). Gaon Chart. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2011. 
  97. ^ “Chart Track” (bằng tiếng Trung). G-Music (Taiwan). Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 7 năm 2011. 
  98. ^ “Archive Chart”. UK Albums Chart. The Official Charts Company. 9 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2011. 
  99. ^ “Archive Chart”. UK R&B Chart. The Official Charts Company. 9 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2011. 
  100. ^ Caulfield, Keith (ngày 6 tháng 7 năm 2011). “Beyonce Notches 4th Billboard 200 No. 1 with '4'. Billboard. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2011. 
  101. ^ “R&B/Hip-Hop Albums: Week of ngày 16 tháng 7 năm 2011”. Billboard. Prometheus Global Media. 16 tháng 7 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2011. 
  102. ^ “Top 50 Albums Chart”. Australian Recording Industry Association (ARIA). Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2012. 
  103. ^ “Gold and Platinum Search”. Music Canada. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2011. 
  104. ^ “Certifications Albums Or – année 2011” (bằng tiếng Pháp). Syndicat National de l'Édition Phonographique (SNEP). Truy cập ngày 29 tháng 2 năm 2012. 
  105. ^ “Listy bestsellerów, wyóżnienia – Platynowe CD” (bằng tiếng Ba Lan). Polish Producers of Audio and Video (ZPAV). Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2011. 
  106. ^ “Russia Year-End Chart 2011” (PDF) (bằng tiếng Nga). National Federation of Phonograph Producers. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2012. 
  107. ^ “Gold & Platinum – Beyoncé”. Recording Industry Association of America (RIAA). 1 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2011. 
  108. ^ “ARIA Charts – End Of Year Charts – Top 100 Albums 2011”. Australian Recording Industry Association. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2012. 
  109. ^ “ARIA Charts - End Of Year Charts - Top 50 Urban Albums 2011”. Australian Recording Industry Association. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2012. 
  110. ^ “Jaaroverzichen 2011” (bằng tiếng Hà Lan). Ultratop. Hung Medien. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2011. 
  111. ^ “Raports Annuels 2011” (bằng tiếng Pháp). Ultratop. Hung Medien. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2011. 
  112. ^ “Os 20 CDs Mais Vendidos de 2011” (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Associação Brasileira dos Produtores de Discos. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2012. 
  113. ^ “Album Top-100” (bằng tiếng Đan Mạch). Hitlisten.NU. IFPI Denmark. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2012. 
  114. ^ “Jaaroverzicthen - Album 2011” (bằng tiếng Hà Lan). MegaCharts. Hung Medien. 2011. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2011. 
  115. ^ “Classement Albums – année 2011” (bằng tiếng Pháp). Syndicat National de l'Édition Phonographique. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2012. 
  116. ^ “Összesített album- és válogatáslemez-lista - eladási darabszám alapján 2011” (bằng tiếng Hungary). Mahasz. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2012. 
  117. ^ “Classifiche annuali Fimi-GfK: Vasco Rossi con "Vivere o Niente" e' stato l'album piu' venduto nel 2011” (bằng tiếng Italy). Federation of the Italian Music Industry. 16 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2012. 
  118. ^ “Year End Charts – Oricon CD Albums Top 100” (bằng tiếng Nhật). Oricon. 2011. tr. 5. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2012. 
  119. ^ “Top 100 – annual chart – 2011” (PDF). Polish Society of the Phonographic Industry. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2012. 
  120. ^ “Russia Year-End Chart 2011” (PDF). National Federation of Phonograph Producers. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2012. 
  121. ^ “Swiss Year-End Charts 2011”. Hitparade.ch. Hung Medien. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2012. 
  122. ^ “The Top 20 biggest selling albums of 2011 revealed!”. Official Charts Company. 2 tháng 1 năm 2012. 
  123. ^ Lane, Dan (20 tháng 1 năm 2012). “The biggest selling R&B and hip hop albums and singles of 2011 revealed”. Official Charts Company. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2012. 
  124. ^ “Top Billboard 200 Albums – Year-End Charts”. Billboard. Prometheus Global Media. 2011. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2011. 
  125. ^ “Top R&B/Hip-Hop Albums – Year-End Charts”. Billboard. Prometheus Global Media. 2011. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2011. 
  126. ^ “4: Beyonce”. Sanity.com.au. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2011. 
  127. ^ “4: Deluxe Edition Beyonce”. Sanity.com.au. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2011. 
  128. ^ “4 von Beyonce”. Itunes.apple.com.at. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2011. 
  129. ^ “4 - Beyoncé - CD”. FreeRecordShop.be. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2011. 
  130. ^ “4 (2CD Deluxe Edition) - Beyonce”. FreeRecordShop.be. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2011. 
  131. ^ “4: Beyonce” (bằng tiếng Đức). Amazon Germany. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2011. 
  132. ^ “4: Beyonce (Double CD)” (bằng tiếng Đức). Amazon Germany. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2011. 
  133. ^ “Beyonce's new album '4' set for release in Ireland on 24th June”. Sony Music Ireland. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2011. 
  134. ^ “4, Beyonce | Muziek”. Bol.com. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2011. 
  135. ^ “4 (Deluxe Edition), Beyonce | Muziek”. Bol.com. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2011. 
  136. ^ “4 von Beyoncé”. Itunes.apple.com.ch. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2011. 
  137. ^ “4: Beyonce” (bằng tiếng Pháp). Amazon France. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2011. 
  138. ^ “4: Beyonce (Deluxe Edition)” (bằng tiếng Pháp). Amazon France. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2011. 
  139. ^ “Marbecks >> 4 (Deluxe Edition) - Beyonce”. Marbecks.co.nz. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2011. 
  140. ^ “Beyonce – 4”. Play.com. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2011. 
  141. ^ “Beyonce - 4 (2CD Deluxe Edition)”. Play.com. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2011. 
  142. ^ “Beyoncé lanzará su nuevo álbum "4" el 128 de Junio (Argentina)”. BeyonceOnline.com. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2011. 
  143. ^ “4” (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Livrariasaraiva.com.br. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2011. 
  144. ^ “4 - Deluxe - 2 CDs” (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Livrariasaraiva.com.br. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2011. 
  145. ^ “4 (Deluxe Edition): Beyonce”. Amazon Canada. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2011. 
  146. ^ “4: Beyonce”. Amazon Canada. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2011. 
  147. ^ “4 de Beyonce” (bằng tiếng Tây Ban Nha). Itunes.apple.com.es. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2011. 
  148. ^ “4: Beyonce”. Amazon.com. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2011. 
  149. ^ “4 – Beyonce – Musik”. CDON Group. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2011. 
  150. ^ “4 (Deluxe Edition - 2CD) – Beyonce – Musik”. CDON Group. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2011. 
  151. ^ “Beyonce – 4” (bằng tiếng Nhật). Amazon Japan. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2011. 
  152. ^ “Beyonce – 4 (Deluxe Edition - 2CD)” (bằng tiếng Nhật). Amazon Japan. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2011. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]