Cá hồng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Cá hồng
Red Snapper.jpg
Tình trạng bảo tồn
Chưa được đánh giá (IUCN 3.1)
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Actinopterygii
Bộ (ordo) Perciformes
Họ (familia) Lutjanidae
Chi (genus) Lutjanus
Loài (species) Lutjanus sanguineus
Danh pháp hai phần
Lutjanus campechanus
(Cuvier, 1828)
Red snapper catch.jpg

Cá hồng (danh pháp hai phần: Lutjanus sanguineus) là loài cá xương sống ở biển thuộc họ Cá hồng (Lutianidae) phân bố ở vùng biển Ấn Độ (Ấn Độ Dương) và phía Tây Thái Bình Dương. Đây là loài cá có giá trị kinh tế, ở Việt Nam, loài cá này chiếm 10 - 12% sản lượng cá đáy ở vịnh Bắc Bộ.

Đặc điểm sinh học[sửa | sửa mã nguồn]

Mô tả[sửa | sửa mã nguồn]

Cá hồng có thân bầu dục dài dẹt, thân cá có màu hồng, viền lưng cong đều, viền bụng tương đối thẳng. Đầu cá lõm, mõm dài và nhọn. Vây lưng dài, có gai cứng khoẻ, vây hậu môn và vây ngực lớn. Thịt cá hồng ngon, dùng ăn tươi hay đóng hộp. Cá hồng đỏ có thân hình thoi, dẹp bên, chiều dài thân bằng 2,4-2,6 lần chiều cao, đầu to miệng rộng, hàm trên mỗi bên có 2 răng nanh. Thân phải vẩy lược cứng, có cả ở má và nắp mang, thân cá màu đỏ tươi, bụng màu hồng nhạt, rìa sau vây đuôi đen xám, chiều dài lớn nhất 81,6 cm, thông thường là từ 40–50 cm.

Trên cơ thể cá hồng thường xuyên có nhiều loại vi khuẩn cư trú, nhất là ở lớp nhớt ngoài da, trong mang và ruột, Khi cá hồng còn sống, do có khả năng bảo vệ và miễn dịch, các vi khuẩn không phát triển. Chỉ khi cá chết, sức đề kháng không còn, vi sinh vật sẽ phát triển mạnh làm cá hỏng nhanh chóng đồng thời trong quá trình phân huỷ, những chất đạm của cá sẽ tạo thành các axit hữu cơ có mùi hôi khó chịu, làm biến đổi màu sắc và tạo ra các chất độc. Cá được xếp vào hàng những loài nuôi quý, thịt cá thơm ngon, ít xương nhỏ, được người tiêu dùng ưa thích, giá trị xuất khẩu cao. Cá có tốc độ sinh trưởng nhanh, dễ nuôi, ít bệnh, nguồn thức ăn dễ tìm, rẻ tiền. Tuy nhiên đến nay loài cá này có thể sống trong môi trường nước giàu dinh dưỡng ở ao nuôi và chất lượng nước nuôi cá không còn là vấn đề quan trọng[1]

Tập tính[sửa | sửa mã nguồn]

Trong tự nhiên, cá thường sống ở sát đáy ở những vùng có rạn đá, rạn san hô, nền đáy cứng có độ sâu từ 5–100 m, cá chưa trưởng thành có chiều dài thân khoảng 2,5 cm thường sống trong các vùng nước nông có nhiều bùn. Đây là loài rộng nhiệt và rộng muối, nhiệt độ sinh tồn của chúng nằm trong phạm vi từ 2-34oC, nhiệt độ sinh trưởng là 12-30oC, đặc biệt chúng sinh trưởng nhanh trong điều kiện nhiệt độ: 25-30oC. Cá hồng đỏ có thể sống trong môi trường có độ mặn từ: 5-40‰, thích ứng nhất với độ mặn: 10-20‰, đây là loài cá ưa nước chảy, độ trong cao[2].

Chúng là loài cá biển có tốc độ sinh trưởng nhanh, được người dân ở một số nước đưa vào nuôi trong các ao đầm. Mùa sinh sản của cá vào tháng 3 đến tháng 7. Chế độ dinh dưỡng của cá, Thức ăn chính của cá là các loại giáp xác, con, mực, ốc. Cá hồng là loài cá ăn thịt, thức ăn chính là các loại cá ăn tạp và một số loài giáp xác, động vật không xương sống. Chúng rất tích cực bắt mồi và thường đi săn mồi về ban đêm trong điều kiện thuận lợi và ngừng bắt mồi khi điều kiện môi trường không thuận lợi[2].

Tại Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Việt Nam, gặp ở vùng đáy bùn cát sâu 40 – 50 m, phân bố vịnh Bắc Bộ và một số tỉnh ở vùng Trung Nam bộ như Phú Yên, Thừa Thiên Huế,[3] Nha Trang. Tại đây, cá hồng là một nguồn lợi quý báu của ngư dân các tỉnh để khai thác với giả cả phải chăng, dùng để đóng gói bày bán. Tại Phú Yên, giá cá giống từ 5.000-7.000 đồng/con cá hồng, thu nhập mỗi ngày của người khai thác cá hồng giống có thể đạt bình quân từ 150.000 - 200.000 đồng/ngày. Hiện nay ở Việt Nam cá hồng đỏ được nhiều người dân ở một số tỉnh phía Bắc như: Quảng Ninh, Hải Phòng, Nam Định… thu gom giống ngoài tự nhiên đưa vào nuôi trong các ao đầm nước lợ[2].

Các tỉnh Nam Trung bộ đặc biệt là Khánh Hòa có nguồn nước biển luôn trong sạch, độ mặn cao ổn định, khí hậu ôn hòa, rất thuận lợi cho việc sản xuất giống, ương nuôi cũng như nuôi thương phẩm các loài cá biển. Vùng biển trong khu vực này ít chịu ảnh hưởng của sóng gió, thuận lợi cho việc phát triển nghề nuôi lồng bè trên biển. Cá hồng đỏ là một trong những đối tượng nuôi biển, chúng được nuôi trong lồng bè, trong ao đầm nước lợ, nước mặn.

Thịt cá hồng ngon, giàu chất dinh dưỡng nên dùng làm nguyên liệu để chế biến thành những món ăn như cá hồng hấp chanh, cá hồng hấp sốt tiêu đen, cá hồng hấp nguyên con, cá hồng nướng vừng... Tuy nhiên, cũng cần lưu ý đến việc chọn và chế biến vì cá hồng ươn có thể gây ngộ độc dẫn đến tử vong vì trong cá khi ươn có chứa tố chất histamin.[1] Đã có báo cáo về nhiều trường hợp ngộ độc do ăn cá hồng tại Việt Nam.[1][4]

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â Trí Tín (28 tháng 8 năm 2010). “Cả nhà ngộ độc vì ăn cá hồng”. Báo điện tử VnExpress. Truy cập 16 tháng 5 năm 2013. 
  2. ^ a ă â http://www2.hcmuaf.edu.vn/contents.php?ur=dothiloi&ids=2134
  3. ^ Văn Tài (11 tháng 11 năm 2005). “Phú Yên: Lại xuất hiện cá mú và cá hồng giống”. Báo Tiền Phong online. Truy cập 16 tháng 5 năm 2013. 
  4. ^ “Lại ngộ độc cá hồng ở Bình Thuận”. Báo Sức khỏe & Đời sống. Truy cập 3 tháng 6 năm 2014. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Phương tiện liên quan tới Lutjanus campechanus tại Wikimedia Commons