Nguyễn Tấn Trịnh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Nguyễn Tấn Trịnh (20/12/1936 - 17/12/2016) là đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa 12, thuộc đoàn đại biểu Quảng Nam.[1]. Ông là kỹ sư thủy sản, Bộ trưởng Thủy sản trong 16 năm liên tục.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Ông Nguyễn Tấn Trịnh sinh ngày 20/12/1936 tại xã Tam Thanh (nay là Tam Phú), thị xã Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam trong một gia đình giàu truyền thống yêu nước. Ông có cha và em trai là liệt sĩ đã hy sinh trong các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, có mẹ được Nhà nước phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Ông sớm được giác ngộ và hăng hái tham gia phong trào cách mạng. Trưởng thành từ một cán bộ tuyên huấn xã (1952-1954) rồi nhân viên liên lạc huyện ủy. Năm 1956, ông tham gia đoàn quân tập kết ra Bắc, là cán bộ công trình đường sắt Việt Nam.

Hoạt động trong ngành Thủy sản Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1959 ông học khoa Thủy sản trường Đại học Nông nghiệp tại huyện Gia Lâm, ngoại thành Hà Nội, là sinh viên khóa 1. Năm 1963 ông tốt nghiệp xuất sắc, được cử làm Giảng viên tại trường [2].

Tháng 09/1965 ông được cử sang Trung Quốc rồi Liên Xô (cũ) làm Nghiên cứu sinh Chuyên ngành Nông nghiệp.

Năm 1967 Thành đoàn Hà nội bổ nhiệm ông làm Bí thư Đoàn trường Thủy sản, sau đó ông làm Trưởng phòng Giáo vụ Trường. Năm 1973 làm cán bộ giảng dạy ở trường Đại học Thủy sản, Phó Chủ nhiệm khoa rồi Hiệu phó. Năm 1975 ông được cử làm Quyền Hiệu trưởng[2].

Khi làm Hiệu trưởng Trường Thủy sản ông đã cho chuyển cả hàng nghìn con người cùng hàng trăm tấn thiết bị, từ Hải Phòng vào Nha Trang, Khánh Hòa.

Năm 1978 ông nhận chức Thứ trưởng Bộ Thủy sản khi 42 tuổi.

Năm 1980 ông kế nhiệm Bộ trưởng Đỗ Chính, và giữ chức vụ chức Bộ trưởng Bộ Thủy sản trong 3 nhiệm kỳ dài 16 năm.

Năm 1982 tại Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam V, ông được bầu làm Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam và được bầu bổ sung chính thức năm 1983.

Khi ông làm Bộ trưởng sản lượng cá khi đó thảm hại tới mức chỉ có 480.000 tấn cá/năm. Bằng những quyết sách bất ngờ, táo bạo, sản lượng, chất lượng của ngành nuôi trồng thủy sản dưới sự dẫn dắt của ông đã tăng tốc.

Từ năm 1986 đến năm 1996 ông liêc tục được bầu làm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam các khóa VI, VII, VIII.

Từ 1996 đến tháng 12/2006, ông là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII, Bí thư Đảng ủy Khối cơ quan Kinh tế Trung ương, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Kinh tế Trung ương, Chủ tịch Hội khoa học kỹ thuật Biển Việt Nam.

Đến năm 2013, ông được Đảng, Nhà nước cho nghỉ hưu. Nghỉ hưu, ông tiếp tục tham gia vào Ban lãnh đạo Hội Người cao tuổi. Tháng 1/2007 đến năm 2011 ông được bầu là Chủ tịch Hội Người cao tuổi Việt Nam.

Khen thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Với nhiều công lao và thành tích, ông Nguyễn Tấn Trịnh đã được Đảng và Nhà nước trao tặng nhiều phần thưởng cao quý như: Huân chương Độc lập hạng Nhất; Huân chương Lao động hạng Nhất; Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng Ba; Huy hiệu 55 năm tuổi Đảng; Huy chương Vì sự nghiệp Tổ chức xây dựng Đảng, Tổ chức xây dựng Nhà nước, Sự nghiệp Kiểm tra, Bảo vệ Nội bộ, Kinh tế của Đảng, Giai cấp công nhân, Giai cấp nông dân, Phát triển Nông nghiệp và Nông thôn, Phát triển Nghề cá Việt Nam, Bảo vệ an ninh Tổ quốc, Thế hệ trẻ, Giáo dục đào tạo, Giải phóng Phụ nữ… và nhiều phần thưởng cao quý khác.

Đại biểu Quốc hội các khóa VII, VIII, XII.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Danh sách Đại biểu Quốc hội khóa XII”. Quốc hội Việt Nam. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2012. 
  2. ^ a ă Trường Đại học Nha Trang (tháng 5 năm 2009). “Lịch sử Trường Đại học Nha Trang (1959-2009)” (PDF). Trường Đại học Nha Trang. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2014. 
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “tp1” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]