Bánh ú tro

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Bánh ú tro (粽子 - zongzi) của Đài Loan
Yellowzongzi.jpg

Bánh ú tro hay còn gọi là bánh tro, bánh gio là một loại bánh trong văn hóa ẩm thực Việt Nam. Loại bánh này thường xuất hiện trong mâm cơm cúng gia tiên,[cần dẫn nguồn] cùng với các loại trái cây khác và thịt, xôi, chè của người Việt vào ngày Tết Đoan ngọ mồng 5 tháng 5 Âm lịch[1].

Nguyên liệu[sửa | sửa mã nguồn]

1 kg gạo nếp
3 muỗng canh nước tro hoặc nước tro Tàu.
Lá đót[2] hoặc lá tre để gói bánh.
Dây lạt.

Cách làm[sửa | sửa mã nguồn]

Không giống như bánh ú của người Hoa, nhân bánh có thịt, trứng, đậu xanh, hành, mỡ, bánh ú của người Việt toàn nếp, được ngâm ủ trong nước tro, có khi thêm vào nhân đậu xanh hoặc dừa nạo tùy nơi.

Sơ chế[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nếp ngâm nước khoảng nửa ngày cho nở, sau đó xả nước.
  • Cho nếp vào thau. Pha khoảng 1 chén nước với 3 muỗng canh nước tro hoặc nước tro Tàu, khuấy lên rồi cho vào thau nếp trộn đều, để qua đêm. Không nên ngâm nếp trong nước tro quá một ngày vì nếp sẽ nồng mùi tro, ăn không ngon.

Thực hiện[sửa | sửa mã nguồn]

  • Lá đót hoặc lá tre được xếp thành hình phễu, cho nếp cho vào, xếp thật kín tạo thành khối hình tam giác rồi dùng dây lạt cột lại.
  • Bánh được cho vào nồi nấu chín bằng lửa to khoảng 3 – 4 giờ, sau đó được lấy ra và nhúng ngay vào chậu nước lạnh để giữ màu xanh của lá. Cuối cùng bánh được treo lên cao, thoáng gió cho bánh ráo nước.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]