Dejan Stanković

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Dejan Stanković
Dejan Stanković - Inter Mailand (2).jpg
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Dejan Stanković
Ngày sinh 11 tháng 9, 1978 (35 tuổi)
Nơi sinh Belgrade, Nam Tư cũ
Chiều cao 1,81 m (5 ft 11 12 in)
Vị trí Tiền vệ trung tâm
CLB trẻ
Radnički Nova Pazova
1985–1992 Teleoptik
1992–1994 Sao Đỏ Beograd
CLB chuyên nghiệp*
Năm CLB ST (BT)
1994–1998 Sao Đỏ Beograd 85 (30)
1998–2004 Lazio 137 (22)
2004–2013 Inter Milan 231 (29)
Đội tuyển quốc gia
1998–2011 Serbia 102 (15)
* Chỉ tính số trận và số bàn thắng được ghi ở giải Vô địch quốc gia cập nhật lúc 22:55, 10 March 2013 (UTC).

† Số trận khoác áo (số bàn thắng).

‡ Thống kê về thành tích tại ĐTQG được cập nhật lúc 18:24, 11 October 2011 (UTC)

Dejan Stanković (Serbian Cyrillic: Дејан Станковић; sinh ngày 11 tháng 9, 1978 ở Belgrade) là một cầu thủ bóng đá người Serbia, cựu cầu thủ câu lạc bộ Inter Milan ở giải Serie Ađội tuyển quốc gia Serbia, trong vai trò đội trưởng. Anh là một tiền vệ tấn công đồng thời có thể đá sang hai cánh hoặc lùi về đóng vai trò tiền vệ phòng ngự. "Deki" là biệt danh của cầu thủ này, nhằm để chỉ tính hiệu quả các đường bóng chính xác, tính linh hoạt và sáng tạo cũng như khả năng ghi bàn từ khoảng cách xa.[1]

Ngày 13 tháng 6, 2010, Stanković trở thành cầu thủ đầu tiên đã từng đại diện cho ba quốc gia khác nhau tại FIFA World Cup: Nam Tư, Serbia và Montenegro, và Serbia.

Thiếu thời[sửa | sửa mã nguồn]

Stanković lớn lên ở Zemun, một khu đô thị thuộc Belgrade. Cả ba và mẹ anh, Borislav và Dragica, đều có một nền tảng bóng đá vững chắc.

Sự nghiệp câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Stanković bắt đầu đá bón cho FK Teleoptik, một câu lạc bộ gần Zemun. Khi anh được huấn luận viên của Sao Đỏ là Branko Radović, Stanković khi đó chỉ mới 14 tuổi đã được chuyển sang đội trẻ của Sao Đỏ Beograd.

Sao Đỏ Beograd[sửa | sửa mã nguồn]

Stanković sau đó đã tốt nghiệp từng hạng dành cho từng lứa tuổi tại câu lạc bộ quê nhà.[2] Ở đội trẻ, anh được dẫn dắt bởi huấn luận viên Pižon Petrović, chơi cùng với các cầu thủ chuyên nghiệp trong tương lai là Nikola LazetićNenad Lalatović.

Trong mùa giải 1994–95, Stanković được ra sân thi đấu lần đầu tiên nhờ sự cho phép của huấn luận viên trưởng Ljupko Petrović trong trận đấu với đội bóng đối thủ OFK Beograd. Cùng với các cầu thủ Rambo Petković, Darko Kovačević, và Nebojša Krupniković để giành vị trí dẫn đầu cho đội bóng, cầu thủ 16 tuổi Dejan được ra sân bảy lần khi đội bóng của anh giành chức vô địch mùa giả. Bàn thắng đầu tiên của anh ghi là vào lưới đội Budućnost Podgorica, sớm giúp anh trở thành một cầu thủ thường xuyên trong đội hình và được người hâm mộ ưa thích. Trước khi mùa giải 1997–98 bắt đầu, anh trở thành đội trưởng khi được 19 tuổi, đây là đội trưởng nhỏ tuổi nhất trong lịch sử câu lạc bộ.

Trong suốt đầu thập niên 90, Sao Đỏ bị cấm thi đấu quốc tế do lệnh cấm vận của Liên Hiệp quốc áp đặt lên Nam Tư, điều này khiến cho đội không thể thi đấu ở các giải châu Âu. Lệnh cấm bị bãi bỏ vào mùa 1996–97, và Stanković đóng vai trò quan trọng trong chiến thắng trước đội Kaiserslautern trong Cup Winners' Cup.

Lazio[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa hè năm 1998, anh được chuyển nhượng với giá 7,5 triệu bảng Anh (24 triệu Mark Đức) đến câu lạc bộ Lazio,[cần dẫn nguồn] nơi anh ghi bàn thắng đầu tiên ở giải Serie A vào lưới Piacenza ngày 13 tháng 9, 1998. Trong khoảng thời gian này, Lazio có một đội hình toàn các ngôi sao, nhưng Stanković nhanh chóng giữ vững được vị trí trong đội hình xuất phát bất chấp sự cạnh tranh từ các trung vệ trong đội như Pavel Nedvěd, Juan Sebastián Verón, và Roberto Mancini. Anh cùng với Nedvěd và Mancini tạo thành tuyến giữa vững chắc và trở thành một phần quan trọng cho sự thành công của Lazio trong ở giải. Hiệu suất thi đấu và màn trình diễn ấn tượng giúp anh có biệt danh Il Dragone (The Dragon) từ người hâm mộ.[3] Anh có năm mùa bóng rưỡi thành công tại biancoceleste của thành Roma, trước khi được chuyển đến thi đấu cho Inter Milan vào tháng 2, 2004.

Inter Milan[sửa | sửa mã nguồn]

Khi Stanković bắt đầu mùa giải 2003-04 tại Lazio, đội bóng này đang phải đối phó với tình trạng khó khăn về tài chính và buộc phải bán đi nhiều cầu thủ tốt nhất của đội. Các đội bóng lớn ở Châu Âu biết rằng câu lạc bộ sẽ phải bán cầu thủ trung vệ trong tương lai gần, do đó đã diễn ra cuộc canh tranh gay gắt quyền ký hợp đồng với cầu thủ này trong thời gian chuyển nhượng mùa đông 2003–04. Ban đầu, Juventus là đội bóng được lựa chọn hàng đầu cho chữ ký của Stanković thậm chí với cả hợp đồng sợ bộ được ký giữa hai bên được công bố vào đầu tháng 1, 2004[4], nhưng cuối cùng anh đã chọn Inter Milan. Việc chuyển nhượng anh là một phần của thoả thuận trực tiếp trị giá €4 cùng với cầu thủ quốc tế Macedonia Goran Pandev (thêm 50% hợp đồng của Pandev).[5][6]

Sự thật thì quyết định của Stanković đã bị ảnh hưởng bởi tin đồn người bạn cũ, đồng thời là đồng đội từng làm huấn luận viên trưởng tại Lazio Roberto Mancini được cho là sẽ sớm đảm nhiệm chức vụ huấn luận viên trưởng tại Inter. Đầu tháng 2, 2004, Stanković đá trận đầu tiên tại đội bóng mới dưới sự chỉ đạo của huấn luận viên trưởng Alberto Zaccheroni, trong trận đấu tại giải Serie A với đối thủ Siena. Ngày 21 tháng 2, 2004, anh ghi một bàn thắng đặc biệt trực tiếp từ chỗ đá phạt góc mở tỉ số cho Inter 1–0 vượt lên trong trận Derby della Madonnina với đối thủ cùng thành phố Milan. Inter hoàn thành mùa giải ở vị trí thứ tư dành được chiếc vé dự Champions League. Tuy nhiên, chủ tịch Massimo Moratti đã không bảo đảm cho Zaccheroni và vào cuối mùa giải, giống như tin đồn, ông đã đem Mancini về từ đội bóng Lazio đang bị suy sụp về tài chính.

Mùa giải 2004-05[sửa | sửa mã nguồn]

Huấn luận viên trưởng mới đã cho Stanković chơi ở vị trí thích hợp và mang người đồng đội cũ từ Lazio gia nhập Inter - Siniša Mihajlović.

Ngày 7 tháng 5, 2006, Stanković chơi trận thứ 100 cho Inter.

Mùa giải 2006-07[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi thi đấu tại giải 2006 World Cup, Stanković đã bắt đầu 2006–07 Serie A ở cấp câu lạc bộ một cách thành công, ghi được vài bàn thắng quyết định. Trận đấu của anh với đội Catania và bàn thắng đáng nhớ vào lưới đối thủ cùng thành phố Milan đã giúp nâng cao danh tiếng với các fan của Inter Milan.

Theo đánh giá chính thức của tờ La Gazzetta dello Sport, Stanković được bầu chọn là cầu thủ của trận đấu năm lần trong mùa giải 2006–07 Serie A. Anh ký hợp đồng mới với câu lạc bộ vào ngày 2 tháng 2, 2007 có thời hạn ít nhất đến năm 2010.

Mùa giải 2008-09[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 6, 2008, đồng thời với sự thay thế huấn luận viên trưởng mới của Inter là José Mourinho, nhiều suy đoán về sự ra đi Stanković cùng với Adriano, Hernán Crespo, David Suazo, và Nicolás Burdisso) vì lý do những cầu thủ này không được vị huấn luận viên người Bồ Đào Nha tín nhiệm.[7]

Mùa giải 2010-11[sửa | sửa mã nguồn]

Chơi dưới sự dẫn dắt của tân huấn luận viên trưởng Rafa Benitez, Stanković tiếp tục vai trò trung vệ thông thường của anh.

Ngày 28 tháng 11, 2010, Stanković ghi một hattrick trong trận thắng 5-2 của Inter trưóc đối thủ Parma tại sân San Siro.

Tuyệt phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Trong trận tứ kết Champions League 2011 giữa Inter Milan va Schalke 04, Stankovic đã có một bàn thắng để đời từ một khoảng cách rất xa, lợi dụng lúc thủ môn Manuel Neuer(Schalke 04) rời xa khung thành, Stankovic đã nã một cú đại bác đưa bóng vào thẳng khung thành của Schalke. Điều đáng chú ý là bàn thắng được ghi vào ngay phút đầu tiên của trận đấu.

Sự nghiệp thi đấu quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Bàn thắng trong thi đấu quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Bàn thắng Ngày Sân Đối thủ Tỉ số Kết quả Giải
1. 22 tháng 4 năm 1998 Stadion Crvena Zvezda, Beograd, Serbia  Hàn Quốc 1–1 3–1 Giao hữu
2. 22 tháng 4 năm 1998 Stadion Crvena Zvezda, Beograd, Serbia  Hàn Quốc 2–1 3–1 Giao hữu
3. 02 tháng 9 năm 1998 Čair Stadium, Niš, Serbia  Thụy Sĩ 1–0 1–1 Giao hữu
4. 1 tháng 9 năm 1999 Lansdowne Road, Dublin, Cộng hòa Ireland  Ireland 1–1 2–1 Vòng loại UEFA Euro 2000
5. 8 tháng 9 năm 1999 Philip II Arena, Skopje, Cộng hòa Macedonia  [[{{{altlink}}} Macedonia|Macedonia]] 0–3 2–4 Vòng loại UEFA Euro 2000
6. 9 tháng 10 năm 1999 Maksimir Stadium, Zagreb, Croatia  Croatia 1–2 2–2 Vòng loại UEFA Euro 2000
7. 6 tháng 6 năm 2001 Svangaskard, Toftir, Đảo Faroe Bản mẫu:Country data Đảo Faroe 0–1 0–6 Vòng loại 2002 FIFA World Cup
8. 6 tháng 6 năm 2001 Svangaskard, Toftir, Đảo Faroe Bản mẫu:Country data Đảo Faroe 0–3 0–6 Vòng loại 2002 FIFA World Cup
9. 16 tháng 11 năm 2003 Kazimierz Górski Stadium, Plock, Ba Lan  Ba Lan 2–1 4–3 Giao hữu
10. 13 tháng 10 năm 2004 Stadion Crvena Zvezda, Beograd, Serbia  San Marino 2–0 5–0 Vòng loại 2006 FIFA World Cup
11. 13 tháng 10 năm 2004 Stadion Crvena Zvezda, Beograd, Serbia  San Marino 3–0 5–0 Vòng loại 2006 FIFA World Cup
12. 27 tháng 5 năm 2006 Stadion Crvena Zvezda, Beograd, Serbia  Uruguay 1–0 1–1 Giao hữu
13. 11 tháng 10 năm 2006 Stadion Crvena Zvezda, Beograd, Serbia  Armenia 1–0 3–0 Vòng loại UEFA Euro 2008
14. 5 tháng 6 năm 2010 Stadion FK Partizan, Beograd, Serbia  Cameroon 2–2 4–3 Giao hữu
15. 3 tháng 9 năm 2010 Tórsvøllur, Tórshavn, Đảo Faroe Bản mẫu:Country data Đảo Faroe 0–2 0–3 Vòng loại Bảng C UEFA Euro 2012

Thống kê sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Số liệu thống kê chính xác tới 19 January 2011
Câu lạc bộ Mùa giải Giải hạng nhất Nam Tư Cup Châu Âu Tổng cộng
Ra sân Bàn thắng Ra sân Bàn thắng Ra sân Bàn thắng Ra sân Bàn thắng
Sao Đỏ Beograd 1994–95 7 1 0 0 7 1
1995–96 24 4 2 0 26 4
1996–97 26 10 5 2 31 12
1997–98 28 15 4 3 32 18
Tổng 85 30 11 5 96 35
Lazio 1998–99 29 4 5 1 7 4 41 9
1999–00 16 3 4 0 11 2 31 5
2000–01 21 0 2 1 9 0 32 1
2001–02 27 7 4 0 5 1 36 8
2002–03 29 6 2 0 7 0 38 6
2003–04 15 2 4 2 8 0 27 4
Tổng 137 22 21 4 47 7 205 33
Inter Milan 2003–04 14 4 2 0 0 0 16 4
2004–05 31 3 6 0 10 3 47 6
2005–06 23 2 7 2 8 2 38 6
2006–07 34 6 4 0 7 0 45 6
2007–08 21 1 3 0 6 0 30 1
2008–09 31 5 2 0 5 0 38 5
2009–10 29 3 2 0 12 2 43 5
2010–11 14 4 0 0 3 1 17 5
Tổng 197 28 24 2 51 8 268 40
Tổng sự nghiệp 419 80 45 6 119 20 569 108

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Sao Đỏ Beograd
Lazio
Inter Milan

Cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cầu thủ Serbia của Năm: 2006, 2010 [8]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]