Nikola Žigić

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Nikola Žigić
Nikola Zigic.jpg
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Nikola Žigić
Ngày sinh 25 tháng 9, 1980 (34 tuổi)
Nơi sinh Bačka Topola, Nam Tư
Chiều cao 2,02 m (6 ft 7 12 in)
Vị trí Tiền đạo
Thông tin về CLB
CLB hiện nay Birmingham City
Số áo 19
CLB trẻ
1991–1998 Bačka Topola
CLB chuyên nghiệp*
Năm CLB ST (BT)
1998–2001 Bačka Topola 76 (68)
2002 Mornar Bar 23 (15)
2002 Kolubara Lazarevac 8 (3)
2003 Spartak Subotica 11 (14)
2003–2006 Red Star 79 (47)
2006–2007 Racing Santander 32 (11)
2007–2010 Valencia 28 (5)
2009 Racing Santander (cho mượn) 19 (13)
2010– Birmingham City 95 (25)
Đội tuyển quốc gia
2004– Serbia 57 (20)
* Chỉ tính số trận và số bàn thắng được ghi ở giải Vô địch quốc gia cập nhật lúc 18 tháng 6, 2013.

† Số trận khoác áo (số bàn thắng).

‡ Thống kê về thành tích tại ĐTQG được cập nhật lúc 18 tháng 6, 2013

Nikola Žigić (Tiếng Serbia: Никола Жигић, sinh ngày 25 tháng 9, 1980) là cầu thủ bóng đá người Serbia đang thi đấu ở vị trí tiền đạo cho Đội tuyển bóng đá quốc gia Serbia và câu lạc bộ của Anh là Birmingham City.

Với chiều cao 2,02 m (6 ft 71⁄2 in)[1][2], Žigić là một trong những cầu thủ bóng đá cao nhất trên thế giới hiện nay.

Sự nghiệp câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Sao Đỏ Belgrade[sửa | sửa mã nguồn]

Žigić sinh ra tại Bačka Topola, Nam Tư. Anh bắt đầu sự nghiệp thi đấu tại một câu lạc bộ địa phương. Với một hiệu suất ghi bàn đáng nể, sau đó anh đã chuyển đến thi đấu cho câu lạc bộ Sao Đỏ Belgrade năm 2003. Tại đây, anh đã thi đấu 110 trận và ghi 71 bàn thắng trên mọi đấu trường (cúp quốc gia, giải trong nước và cúp Châu Âu). Anh đã từng 3 lần được bầu chọn danh hiệu cầu thủ xuất sắc nhất Serbia khi còn thi đấu cho Sao Đỏ Belgrade.[3]

Racing Santander và Valencia[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 29 tháng 8 năm 2006, Žigić đã ký vào bản hợp đồng có thời hạn 4 năm với câu lạc bộ Tây Ban Nha Racing de Santander. Ngày 25 tháng 9, anh lập cú đúp đầu tiên cho Racing trong trận hoà 2-2 với Nastic.[4] Ngày 1 tháng 4 năm 2007, anh lập một hat-trick trong chiến thắng 5-4 của Racing trước Athletic Bilbao.[5] Trong mùa giải này tại Racing, anh đã có 11 bàn thắng và 5 đường chuyền thành bàn.[6]

Ngày 9 tháng 8 năm 2007, Zigic đã trở thành cầu thủ của Valencia với bản hợp đồng có thời hạn 5 năm. Valencia đã phải trả cho Racing Santander 15 triệu euro (khoảng 20 triệu USD).[7]

Bàn thắng đầu tiên của Žigić cho Valencia là cú đúp vào lưới Real Unión tại Cúp Nhà vua Tây Ban Nha, giúp Valencia thắng 2–1. Vài ngày sau, khi được tung vào sân ở đầu hiệp 2 trận đấu gặp Real Zaragoza, anh đã ghi bàn rút ngắn tỉ số trận đấu xuống còn 2-1 trước khi David Silva gỡ hoà 2-2 cho Valencia.[8] Tuy nhiên, anh đã không được huấn luyện viên người Hà Lan Ronald Koeman trọng dụng. Tháng 1 năm 2008, anh đã từ chối cơ hội đến Anh thi đấu cho Portsmouth theo hợp đồng cho mượn trong giai đoạn còn lại của mùa giải.[9]

Sau khi cân nhắc một số lời mời thi đấu tại Premier League[10][11] và cả lời đề nghị trở lại Racing Santander theo hợp đồng cho mượn, Žigić cuối cùng đã quyết định ở lại Valencia để giành một vị trí chính thức trong mùa giải 2008–09. Tuy nhiên, sau khi không được ra sân bất kì một trận nào tại giải La Liga, trong khi chỉ ra sân hạn chế ở cúp quốc gia và cúp UEFA, cuối tháng 12 năm 2008, anh đã trở lại câu lạc bộ cũ Racing Santander theo hợp đồng cho mượn đến hết mùa giải.[12][13]

Ngày 4 tháng 1 năm 2009, ngay trong trận đầu tiên trở lại với đội bóng xứ Cantabria, Žigić đã ghi bàn thắng duy nhất trong trận đấu với Real Valladolid, và sau đó là Getafe, đem về 6/7 điểm trong 3 trận của Racing.[14] Ngày 25 tháng 1, anh ghi bàn ấn định chiến thắng 2-0 trước Sevilla FC[15] và sau đó 1 tuần là bàn mở tỉ số trong trận thua 1-2 trước Barcelona.[16] Anh kết thúc mùa giải với 13 bàn trong 19 trận.

Mùa giải 2009-10, Zigic đã trở lại Valencia và tiếp tục không được trọng dụng. Tháng 11 năm 2009, anh ghi bàn gỡ hoà 2-2 trong trận đấu tại lượt về vòng 4 Cúp Nhà vua Tây Ban Nha với CD Alcoyano giúp Valencia lọt vào vòng 5.[17] Trong lần hiếm hoi được ra sân ngay trong trận đấu đầu năm 2010, anh đã ghi bàn thắng duy nhất trong trận đấu với RCD Espanyol ở phút 92.[18] Sau đó vào ngày 14 tháng 1, anh lập được cú đúp trong trận hoà 2-2 với Deportivo de La Coruña tại Cúp Nhà vua Tây Ban Nha nhưng đội bóng của anh cuối cùng đã bị loại.[19]

Zigic bị đuổi khỏi sân trong trận thua Real Zaragoza 3-0 ngày 27 tháng 3.[20] Ngày 1 tháng 5, anh lập được cú đúp trong chiến thắng 2-0 trước Espanyol, giúp Valencia chắc chắn vào thẳng vòng bảng UEFA Champions League mùa bóng 2010-11.[21]

Birmingham City[sửa | sửa mã nguồn]

Žigić trong màu áo Birmingham năm 2010

Ngày 26 tháng 5 năm 2010, Žigić đã kí vào bản hợp đồng có thời hạn 4 năm với câu lạc bộ tại Premier League là Birmingham City cùng phí chuyển nhượng không được tiết lộ.[22] Tuy nhiên, một số nguồn tin cho biết phí chuyển nhượng của anh là 6 triệu £.[23][24] Anh có trận đấu đầu tiên tại Premier League khi vào sân ở hiệp 2 trong trận hoà 2-2 với Sunderland ngày 14 tháng 8.[25]

Bàn thắng đầu tiên của Žigić cho Birmingham đến trong chiến thắng 3-1 của Birmingham trước MK Dons tại League Cup ngày 21 tháng 9.[26] Còn bàn thắng đầu tiên của anh tại Premier League là trong trận thua 1-2 trước Arsenal ngày 16 tháng 10.[27] Một tuần sau, anh ghi bàn ấn định chiến thắng 2-0 trước Blackpool.[28] Bàn thắng thứ tư của anh trong mùa giải là bàn ấn định chiến thắng 2-1 trước Aston Villa tại tứ kết League Cup.[29] Ngày 27 tháng 2 năm 2011, trong trận chung kết League Cup với Arsenal tại Wembley, Žigić đã ghi bàn mở tỉ số trong chiến thắng chung cuộc 2-1 của Birmingham, mang về danh hiệu thứ hai trong lịch sử cho câu lạc bộ này.[30] Tuy nhiên cuối mùa giải năm đó Birmingham đã phải xuống hạng.

Bàn thắng đầu tiên của Žigić tại Giải bóng đá Hạng nhất Anh đến trong chiến thắng 1-0 trước Leeds United vào tháng 10 năm 2011.[31] Trong trận lượt về với Leeds vào tháng 1 năm 2012, Žigić ghi bốn bàn thắng giúp Birmingham thắng ngược 4–1 sau khi bị dẫn trước 1-0.[32]

Anh bắt đầu mùa giải 2012–13 với bàn thắng ở ohút bù giờ thứ 4 giúp Birmingham cầm hòa được Charlton Athletic.[33] Ngày 15 tháng 2 năm 2013, huấn luyện viên Birmingham Lee Clark chỉ trích công khai Žigić vì thái độ tập luyện thiếu nghiêm túc.[34] Sau sự việc đó, Clark đã không sử dụng nhiều Žigić cho vị trí chính thức. Thời điểm đó, anh đã có 6 bàn trong mùa và bị đuổi khỏi sân hai lần.[35] Sau đó, Zigic đáp lại chỉ trích bằng hai bàn thắng đem lại chiến thắng cho Birmingham trước Peterborough và Middlesbrough.

Sự nghiệp đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Trận đấu đầu tiên của Žigić cho đội tuyển Serbia và Montenegro là trận đấu với Na Uy vào ngày 31 tháng 3 năm 2004, dưới thời huấn luyện viên Ilija Petković.[36] Bàn thắng đầu tiên của anh cho đội tuyển đến trong trận giao hữu với Ý tại Toronto, Canada tháng 6 năm 2005.[37]

Mặc dù gây ấn tượng nhờ phong độ cao trong màu áo Sao Đỏ Belgrade, Žigić chỉ bắt đầu xuất hiện trong đội chính thức đội tuyển từ giữa năm 2005. Tại trận đấu với Tây Ban Nha vào tháng 9 năm 2005 trong khuôn khổ vòng loại World Cup 2006, vào sân từ băng ghế dự bị, anh đã góp công trong bàn thắng gỡ hoà 1-1. Trong trận đấu cuối cùng tại vòng loại với Bosnia và Herzegovina, Žigić đã đánh đầu chuyền bóng chính xác cho người đồng đội Mateja Kežman ghi bàn thắng duy nhất của trận đấu, giúp đội tuyển Serbia và Montenegro chính thức có mặt tại World Cup 2006.[38]

Tại World Cup 2006, Žigić ghi được một bàn thắng trong trận đấu cuối cùng tại vòng bảng với Côte d'Ivoire.[39] Tuy nhiên, đội bóng của anh đã để thua 3-2 trong trận này và rời giải với 3 trận toàn thua.

Ngày 24 tháng 3 năm 2007, Žigić đã bị thẻ đỏ trong trận đấu tại vòng loại Euro 2008 với Kazakhstan, khiến anh phải vắng mặt trong trận đấu tiếp theo với Bồ Đào Nha (trong trận đấu với Phần Lan sau đó vào ngày 2 tháng 6 năm 2007, anh cũng không thể thi đấu vì phải phẫu thuật).[40] Tại vòng loại Euro 2008, Žigić đã có 7 bàn thắng nhưng Serbia chỉ đứng vị trí thứ ba và không thể tham dự Euro 2008.

Tại vòng loại World Cup 2010, anh đã ghi được 3 bàn thắng trong đó có bàn thắng mở tỉ số trong chiến thắng 5-0 trước Romania, chiến thắng đã chính thức đưa Serbia có mặt tại World Cup 2010.[41] Žigić sau đó đã được huấn luyện vien Radomir Antić chọn vào danh sách 23 cầu thủ Serbia tham dự World Cup 2010.[42] Anh cũng chính là cầu thủ cao nhất tại giải đấu với chiều cao 2,02 m của mình.[43]

Tại World Cup 2010, Žigić đã ra sân đầy đủ trong cả ba trận vòng bảng nhưng không ghi được bàn thắng nào. Trong trận đấu thứ hai với Đức, anh đã có pha bật cao đánh đầu chuyền vào giữa cho Milan Jovanović ghi bàn thắng duy nhất của trận đấu.[44] Serbia đã bị loại sau khi để thua Úc 2-1 ở lượt trận cuối cùng vòng bảng.

Žigić có bàn thắng đầu tiên tại vòng loại Euro 2012 khi ghi bàn ấn định chiến thắng 3-0 của Serbia trước quần đảo Faroe ngày 2 tháng 9 năm 2010.[45] 4 ngày sau, anh có bàn thắng ấn định tỉ số 1-1 ở phút 86 trong trận đấu với Slovenia.[46]

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Sao Đỏ[sửa | sửa mã nguồn]

Valencia[sửa | sửa mã nguồn]

Birmingham City[sửa | sửa mã nguồn]

Cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cầu thủ Serbia xuất sắc nhất năm: 2003, 2005, 2006
  • Vua phá lưới giải Ngoại hạng Serbia 2003-04

Thống kê sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Cập nhật: 24 tháng 8, 2010
Thành tích cấp CLB Giải vô địch Cúp quốc gia Cúp liên đoàn Cúp châu lục Tổng cộng
Mùa giải CLB Giải vô địch Ra sân Bàn thắng Ra sân Bàn thắng Ra sân Bàn thắng Ra sân Bàn thắng Ra sân Bàn thắng
Serbia Giải vô địch Serbian Cup League Cup Châu Âu Tổng cộng
2003–04 Sao Đỏ Belgrade Prva Liga 28 18 ? 2 5 6 33 26
2004–05 25 15 ? 2 5 3 30 20
2005–06 Super Liga 23 11 ? 2 7 5 30 18
2006–07 3 2 0 0 4 2 7 4
Tây Ban Nha Giải vô địch Copa del Rey Copa de la Liga Châu Âu Tổng cộng
2006–07 Racing de Santander La Liga 32 11 0 0 0 0 32 11
2007–08 Valencia CF 15 1 1 1 2 0 18 2
2008–09 0 0 1 1 3 2 4 3
Racing de Santander (cho mượn) 19 13 0 0 0 0 19 13
2009–10 Valencia CF 13 4 4 3 7 2 24 9
Anh Giải vô địch Cúp FA Cúp Liên đoàn Châu Âu Tổng cộng
2010–11 Birmingham City F.C. Premier League 14 2 0 0 4 2 0 0 18 4
Tổng cộng Serbia 197 147 ? 6 21 16 218 169
Tây Ban Nha 79 29 6 5 12 4 97 38
Anh 14 2 0 0 4 2 0 0 18 4
Tổng cộng sự nghiệp 290 178 6 11 4 2 33 20 333 211

Bàn thắng cho đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là danh sách bàn thắng Nikola Žigić ghi được cho đội tuyển Serbia (bao gồm cả thời gian còn mang tên Serbia và Montenegro.[47]

# Ngày Địa điểm Đối thủ Bàn thắng Kết quả Giải đấu
1. 8 tháng 6, 2005 Rogers Centre, Toronto, Canada  Ý 1–0 1–1 Giao hữu
2. 15 tháng 8, 2005 Sân vận động Lobanovsky Dynamo, Kiev, Ukraina  Ba Lan 1–1 3–2 Giao hữu
3. 13 tháng 11, 2005 Sân vận động Wutaisha, Nam Kinh, Trung Quốc  CHND Trung Hoa 0–2 0–2 Giao hữu
4. 21 tháng 6, 2006 Allianz Arena, Munich, Đức  Côte d'Ivoire 0–1 2–3 World Cup 2006
5. 2 tháng 9, 2006 Stadion Crvena Zvezda, Beograd, Serbia  Azerbaijan 1–0 1–0 Vòng loại Euro 2008
6. 7 tháng 10, 2006 Stadion Crvena Zvezda, Beograd, Serbia  Bỉ 1–0 1–0 Vòng loại Euro 2008
7. 11 tháng 10, 2006 Stadion Crvena Zvezda, Beograd, Serbia  Armenia 3–0 3–0 Vòng loại Euro 2008
8. 24 tháng 9, 2007 Sân vận động Almaty Central, Almaty, Kazakhstan  Kazakhstan 2–1 2–1 Vòng loại Euro 2008
9. 17 tháng 10, 2007 Sân vận động Tofik Bakhramov, Baku, Azerbaijan  Azerbaijan 0–2 1–6 Vòng loại Euro 2008
10. 17 tháng 10, 2007 Sân vận động Tofik Bakhramov, Baku, Azerbaijan  Azerbaijan 1–4 1–6 Vòng loại Euro 2008
11. 21 tháng 11, 2007 Stadion Crvena Zvezda, Beograd, Serbia  Ba Lan 1–2 2–2 Vòng loại Euro 2008
12. 6 tháng 9, 2008 Stadion Crvena Zvezda, Beograd, Serbia  Quần đảo Faroe 2–0 2–0 Vòng loại World Cup 2010
13. 11 tháng 10, 2008 Stadion Crvena Zvezda, Beograd, Serbia  Litva 3–0 3–0 Vòng loại World Cup 2010
14. 1 tháng 4, 2009 Stadion Partizan, Beograd, Serbia  Thụy Điển 1–0 2–0 Giao hữu
15. 10 tháng 10, 2009 Stadion Crvena Zvezda, Beograd, Serbia  România 1–0 5–0 Vòng loại World Cup 2010
16. 18 tháng 11, 2009 Craven Cottage, London, Anh  Hàn Quốc 0–1 0–1 Giao hữu
17. 3 tháng 9, 2010 Tórsvøllur, Tórshavn, Faroe Islands  Quần đảo Faroe 0–3 0–3 Vòng loại Euro 2012
18. 7 tháng 9, 2010 Stadion Crvena Zvezda, Beograd, Serbia  Slovenia 1–1 1–1 Vòng loại Euro 2012
19. 8 tháng 10, 2010 Stadion Partizan, Beograd, Serbia  Estonia 1–0 1–3 Vòng loại Euro 2012
20. 17 tháng 11, 2010 Sân vận động Quốc gia Vasil Levski, Sofia, Bulgaria  Bungary 0–1 0–1 Giao hữu

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Nikola Žigić”. UEFA. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2010. 
  2. ^ “Никола Жигић” (bằng Tiếng Serbia). Hiệp hội bóng đá Serbia. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2010. 
  3. ^ Stoke City ngừng theo đuổi Zigic
  4. ^ Thuỳ Dương (25 tháng 9 năm 2006). “Barca và Valencia cùng đứt mạch toàn thắng ở Nou Camp”. Vnexpress.net. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2010. 
  5. ^ Žigić hat-trick earns Racing 5-4 win over Bilbao; Reuters, 1 tháng 4, 2007
  6. ^ NL (tổng hợp) (10 tháng 8 năm 2007). “Real "tậu" được Drenthe, Zigic gia nhập Mestalla”. Vietnamnet. Việt Báo. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2010. 
  7. ^ A.HÀO (Theo Reuters và Goal) (10 tháng 8 năm 2007). “Zigic gia nhập Valencia”. Tuổi Trẻ Online. Việt Báo. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2010. 
  8. ^ Valencia thoát thua tại Zaragoza
  9. ^ Valencia keen on Zigic stay; Sky Sports, 30 tháng 12, 2007
  10. ^ O'Neill denies interest in Zigic; BBC Sport, 22 tháng 7, 2008
  11. ^ Blackburn weigh up double swoop; BBC Sport, 19 tháng 8, 2008
  12. ^ Nicola Zigic cayó en la red (Nikola Žigić fell in the net); El Diario Montanés, 30 tháng 12, 2008 (tiếng Tây Ban Nha)
  13. ^ Žigić heads back to Racing on loan; UEFA.com, 30 tháng 12, 2008
  14. ^ Hiểm hoạ trên không
  15. ^ “Raul sinks Deportivo”. FIFA. 26 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2010. 
  16. ^ Messi lập đại công đi vào lịch sử Barca
  17. ^ Song Ngư (11 tháng 11 năm 2009). “Real chia tay sớm Cúp nhà Vua Tây Ban Nha”. VietNamNet. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2010. 
  18. ^ Barcelona khởi đầu năm mới thất vọng
  19. ^ Thắng Sevilla nhưng Barca vẫn bị loại
  20. ^ Thua thảm Zaragoza, Valencia bị Barcelona bỏ xa
  21. ^ “Zigic lập cú đúp giúp Valencia vượt qua Espanyol: Khi "sát thủ" ra tay”. Báo Bóng Đá. Bongda.com.vn. 3 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2010. 
  22. ^ “Birmingham seal signing of giant striker Nikola Zigic”. BBC Sport. 26 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2010. 
  23. ^ Lansley, Peter (27 tháng 5 năm 2010). “Alex McLeish planning big things after £6m signing of giant Nikola Zigic”. The Times. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2010. 
  24. ^ TD (27 tháng 5 năm 2010). “Birmingham chiêu mộ thành công Zigic”. Bongda.com.vn. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2010. 
  25. ^ “McLeish - Zigic can do more”. Sky Sports. 15 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2010. 
  26. ^ “Birmingham 3–1 MK Dons”. BBC Sport. 22 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2010. 
  27. ^ Hoàng Hiệp (16 tháng 10 năm 2010). “Chamakh tỏa sáng, Arsenal ngược dòng đả bại Birmingham”. Dân Trí. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2010. 
  28. ^ “Chi tiết trận đấu Birmingham City-Blackpool”. Birmingham City. 23 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2010. 
  29. ^ McNulty, Phil (1 tháng 12 năm 2010). “Birmingham 2–1 Aston Villa”. BBC Sport. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2010. 
  30. ^ Hải Đăng (28 tháng 2 năm 2011). “Thua phút cuối, Arsenal nối dài "cơn khát" danh hiệu”. Dân Trí. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2011. 
  31. ^ “Birmingham 1–0 Leeds”. BBC Sport. 26 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2011. 
  32. ^ “Leeds 1–4 Birmingham”. BBC Sport. 31 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2012. 
  33. ^ “Birmingham 1–1 Charlton”. BBC Sport. 18 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2012. 
  34. ^ “Nikola Zigic dropped by Birmingham after 'worst training session ever'”. guardian.co.uk. Press Association. 15 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2013. 
  35. ^ “N. Žigić”. Soccerway. Global Sports Media. 15 tháng 2 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 2 năm 2013. 
  36. ^ “Thông tin về Nikola Zigic trên trang web World Cup 2010”. FIFA. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2010. 
  37. ^ JOHN F. MOLINARO (9 tháng 6 năm 2005). “Soccer friendly in Toronto ends in stalemate”. Cbcsport.ca. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2010. 
  38. ^ Thành Vinh (13 tháng 10 năm 2005). “Pháp, Thụy Điển, Serbia & Montenegro giành vé, Nga bị loại”. VietNamNet. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2010. 
  39. ^ Ivorian comeback shocks Serbians; UEFA.com
  40. ^ Serbia's Žigić to miss Euro 2008 qualifier in Finland; Reuters, 28 tháng 5, 2007
  41. ^ A.HÀO - T.VĨ. “Đức, Ý, Serbia và Đan Mạch đoạt vé đến Nam Phi”. Tuổi Trẻ Online. 2009-10-11. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2010. 
  42. ^ TD (30 tháng 5 năm 2010). “Anh tài World Cup 2010: Serbia”. TinTheThao.com.vn. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2010. 
  43. ^ Doãn Mạnh (10 tháng 6 năm 2010). “11 điều có thể bạn chưa biết về World Cup 2010”. Vnexpress.net. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2010. 
  44. ^ “Đức - Serbia 0-1: Tai họa từ Klose”. Tuổi Trẻ Online. 18 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2010. 
  45. ^ “Zigic rounds off easy win”. ESPN Soccernet. 2 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2010. 
  46. ^ “Zigic hits late leveller for Serbia”. ESPN Soccernet. 8 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2010. 
  47. ^ “Nikola Zigic profile at reprezentacija.rs”. reprezentacija.rs. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]