Natri sunfua

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm


Natri sulfua
Tên khác Đinatri sulfua
Nhận dạng
Số CAS 1313-82-2
PubChem 237873
Số EINECS 215-211-5
Số RTECS WE1905000
Thuộc tính
Công thức phân tử Na2S
Phân tử gam 78.0452 g/mol (khan)
240.18 g/mol (ngậm 9 nước)
Bề ngoài chất rắn không màu, hút ẩm
Tỷ trọng 1.856 g/cm3 (khan)
1.58 g/cm3 (ngậm 5 nước)
1.43 g/cm3 (ngậm 9 nước)
Điểm nóng chảy 1176 °C (khan)
100 °C (ngậm 5 nước)
50 °C (ngậm 9 nước)
Độ hòa tan trong nước 186 g/L (20 °C)
390 g/L (50 °C)
Độ hòa tan trong không tan trong ête
tan ít trong cồn
Cấu trúc
Cấu trúc tinh thể Antiflorit (lập phương), cF12
Nhóm không gian Fm3m, No. 225
Tọa độ Tứ diện (Na+); lập phương (S2–)
Nhiệt hóa học
Các nguy hiểm
MSDS ICSC 1047
Phân loại của EU Chất ăn mòn (C)
Nguy hại cho môi trường (N)
Chỉ mục EU 016-009-00-8
NFPA 704

NFPA 704.svg

1
3
1
 
Chỉ dẫn R R31, R34, R50 (xem Danh sách nhóm từ R)
Chỉ dẫn S S1/2, S26, S45, S61 (xem Danh sách nhóm từ S)
Nhiệt độ tự cháy >480 °C
Các hợp chất liên quan
Anion khác Natri oxit
Natri selenua
Natri telurua
Cation khác Liti sulfua
Kali sulfua
Hợp chất liên quan Natri hiđrosulfua

Natri sulfua là tên gọi cho hợp chất hoá học Na2S, nhưng thông thường là dành cho muối hiđrat Na2S·9H2O. Cả hai muối đều không màu và tan trong nước tạo dung dịch có tính bazơ. Khi gặp không khí ẩm, Na2S và các muối hiđrat của nó đều giải phóng hiđrô sunfua có mùi trứng thối hay trung tiện. Tổng quát, cái tên thương mại natri sulfua không tồn tại duy nhất, nhưng được ghi rõ là Na2xH2O, trong đó hàm lượng Na2S cũng được xác định. Loại thường gặp chứa khoảng 60% Na2S về khối lượng, nghĩa là x xấp xỉ bằng 3. Loại dùng trong kĩ thuật có bề ngoài màu vàng. Các loại này đều được bán ngoài chợ dưới tên 'vụn natri sulfua'. Mặc dù ở thể rắn có màu vàng, các dung dịch của natri sulfua đều không màu.

Cấu trúc[sửa | sửa mã nguồn]

Cấu trúc florit

Na2S thuộc cấu trúc antiflorit,[1][2] nghĩa là ion Na+ trung tâm chiếm vị trí của flo trong mô hình CaF2 và ion S2− lớn hơn ở vị trí của Ca2+. Trong dung dịch, natri sulfua phân li hoàn toàn. Tuy nhiên, anion không tồn tại với khối lượng đáng kể trong nước. Ion sulfua là một bazơ quá mạnh để có thể cùng tồn tại với nước. Vì thế quá trình hoà tan đuwọc miêu tả như sau:

Na2S(s) + H2O(l) → 2Na+(aq) + HS + OH

Natri sulfua có thể oxi hoá khi đun nóng tạo ra natri cacbonatlưu huỳnh điôxit:

2 Na2S + 3 O2 + 2 CO2 → 2 Na2CO3 + 2 SO2

Sản xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Na2S được sản xuất trong công nghiệp bằng cách khử natri sulfat với cacbon, ở dạng than đá:[3]

Na2SO4 + 4 C → Na2S + 4 CO

trong phòng thí nghiệm, muối khan có thể được điều chế khi khử lưu huỳnh với natri trong khí amoniac khô. Theo một cách khác, lưu huỳnh có thể bị natri khử trong THF khô với xúc tác naphtalen:[4]

2 Na + S → Na2S

Sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Nó được dùng chủ yếu trong công nghiệp giấy và bột giấy trong chu trình Kraft. Nó dùng để xử lý nước như chất loại bỏ tạp chất oxi, trong công nghiệp nhiếp ảnh để ngăn các dung dịch tráng phim khỏi oxi hoá, làm chất tẩy trong công nghiệp in ấn, làm tác nhân khử clo và lưu huỳnh, và trong nghề da để sulfit hoá các sản phẩm thuộc da. Nó được dùng làm tác nhân tạo gốc sulfometyk và sulfonat trong sản xuất hoá chất. Nó được dùng trong sản xuất hoá chất cao su, thuốc nhuộm sulfua và các hợp chất hoá học khác. Ngoài ra nó còn được dùng trong nhiều ứng dụng khác như tách quặng, thu hồi dầu, bảo quản thực phẩm, chế thuốc nhuộm, và chất tẩy.

An toàn[sửa | sửa mã nguồn]

Giống như natri hiđrosulfua, natri sulfua là một bazơ mạnh và có thể gây bỏng da. Các axit phản ứng với nó sinh ra H2S, một khí độc và có mùi hôi thối.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Zintl, E; Harder, A; Dauth, B. (1934). “Gitterstruktur der oxyde, sulfide, selenide und telluride des lithiums, natriums und kaliums”. Z. Elektrochem. Angew. Phys. Chem. 40: 588–93. 
  2. ^ Wells, A.F. (1984) Structural Inorganic Chemistry, Oxford: Clarendon Press. ISBN 0-19-855370-6.
  3. ^ Holleman, A. F.; Wiberg, E. "Inorganic Chemistry" Academic Press: San Diego, 2001. ISBN 0-12-352651-5.
  4. ^ So, J.-H; Boudjouk, P; Hong, Harry H.; Weber, William P. (1992). “Hexametylđisilathian”. Inorg. Synth. 29: 30. doi:10.1002/9780470132609.ch11. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]