Acrocanthosaurus

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Acrocanthosaurus
Thời điểm hóa thạch: Kỷ Creta sớm, 116–110Ma
Acrocanthosaurus skeleton (1).jpg
Xương Acrocanthosaurus (NCSM 14345) tại Bảo tàng Khoa học tự nhiên Bắc Carolina.
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum)

Chordata

Nhánh Dinosauria
Bộ (ordo) Saurischia
Phân bộ (subordo) Theropoda
Liên họ (superfamilia) Allosauroidea
Họ (familia) Carcharodontosauridae
Chi (genus) Acrocanthosaurus
Stovall & Langston, 1950
Các loài
Danh pháp đồng nghĩa
  • "Acracanthus" Langston vide Czaplewski, Cifelli, & Langston, W.R., 1994 (nomen nudum)

Acrocanthosaurus ( /ˌækrɵˌkænθɵˈsɔrəs/, nghĩa là "thằn lằn gai sống cao") là một chi khủng long chân thú từng tồn tại ở khu vực ngày nay là Bắc Mỹ vào tầng Apt và giai đoạn đầu của tầng Alba thuộc kỷ Phấn trắng. Giống như hầu hết các chi khủng long khác, Acrocanthosaurus chỉ có một loài duy nhất: A. atokensis. Hóa thạch của loài này được tìm thấy chủ yếu ở các tiểu bang Hoa Kỳ Oklahoma, TexasWyoming, mặc dù răng nó đã được tìm thấy xa về phía đông tận Maryland.

Acrocanthosaurus là động vật ăn thịt hai chân. Như tên "thằn lằn gai sống cao" cho thấy, nó được biết đến với những gai thần kinh cao trên các đốt sống, mà rất có thể được dùng để nâng đỡ một dãy bứu thịt trên lưng, cổ và hông.[1] Acrocanthosaurus là một trong những loài khủng long chân thú lớn nhất, dài đến 11,5 mét và nặng 6,2 tấn [2]. Những dấu chân lớn của khủng long chân thú được phát hiện tại Texas rất có thể là của chi này, mặc dù không có mối liên hệ trực tiếp nào với hóa thạch xương ở đó.

Khám phá gần đây đã làm sáng tỏ thêm nhiều chi tiết về giải phẫu của nó, cho phép nghiên cứu chuyên ngành tập trung vào cấu trúc não bộ và chức năng chi trước. Acrocanthosauruskhủng long chân thú lớn nhất trong hệ sinh thái của nó lúc bấy giờ và rất có thể là một động vật ăn thịt đầu bảng. Nó có thể săn các khủng long chân thằn lằnkhủng long chân chim lớn.

Mô tả[sửa | sửa mã nguồn]

Kích thước của Acrocanthosaurus so với người

Mặc dù hơi nhỏ hơn họ hàng khổng lồ Giganotosaurus, Acrocanthosaurus vẫn là một trong các chi khủng long chân thú lớn nhất từng tồn tại. Mẫu vật lớn nhất (NCSM 14345) được ước tính dài 11.5 mét (38 ft)[2] từ mõm đến chóp đuôi và nặng 5,7 t (6,3 short ton)[3] tới 6,2 t (6,8 short ton),[2] Bates et al. (2009) cho rằng khối lượng 7 t (7,7 short ton) không phải là không thể cho mẫu vật này.[2] Hộp sọ của nó dài gần 1.3 mét (4.3 ft).[4]

Sọ Acrocanthosaurus, như phần lớn các allosauroidea khác, đều dài, thấp và hẹp. Vùng khoang trước hốc mắt khá là lớn, chiếm hơn 1/4 chiều dài và 2/3 chiều cao. Phần bên ngoài hàm trên và phần bên trên xương mũi không thô ráp nhiều như ở GiganotosaurusCarcharodontosaurus. Xương mũi chạy 2 đường thấp và dài từ lỗ mũi, dọc theo sống mũi, tới mắt rồi kết thúc tại xương tuyến nước mắt.[4] Đặc điểm này có ở tất cả các allosauroidea.[5] Khác với Allosaurus, không có một chỏm nào gồ lên đặc biệt ở vùng xương này. Xương tuyến nước mắt và xương sau hốc mắt gặp nhau phía trên mắt, làm cho vùng lông mày lồi lên, thường thấy ở các carcharodontosauridaeabelisauridae. Mỗi bên hàm trên có 19 cái răng cong, rời nhau. Số lượng răng cho hàm dưới hiện chưa được công bố chính thức. Răng Acrocanthosaurus rộng hơn Carcharodontosaurus nhưng không có những vết nhăn như ở các carcharodontosauridae khác. Vùng phía trước hàm dưới khá là vuông vức như ở Giganotosaurus, và nông, trong khi các phần phía sau rất là sâu. AcrocanthosaurusGiganotosaurus có một cạnh dày ở mặt ngoài xương góc trên, bên dưới phần khớp nối với hộp sọ.[4]

Tranh họa sĩ vẽ 2 acrocanthosaur đang đi.

Đặc điểm nổi bật nhất của Acrocanthosaurus là hàng gai thần kinh cao mọc trên các đốt sống cổ, lưng, hông và phần thượng đuôi. Hàng gai này cao hơn 2.5 lần chiều cao đốt sống mà từ đó chúng mọc.[1] Một số loài khủng long khác cũng có các gai này, thậm chí còn to hơn nữa. Ví dụ như Spinosaurus, các gai của nó cao gần 2 mét, gấp 11 lần chiều cao đốt sống.[6] Những gai thấp hơn có các búi cơ to được đắp, tương tự như ở bò rừng bizon hiện đại, cho nên có lẽ ở đây đã có một đường cao và dày chạy dọc trên lưng.[1] Người ta hiện chưa rõ các gai dùng để làm gì, có khả năng là để giao tiếp, trữ mỡ hoặc điều hòa thân nhiệt.

Trừ các đốt sống, Acrocanthosaurus có một bộ xương tiêu biểu của một allosauroidea. Nó đi bằng 2 chân, với một cái đuôi dài và nặng đối trọng với đầu và mình, giữ cho trọng tâm ở trên eo. Hai chi trước ngắn và khỏe hơn Allosaurus, nhưng các đặc điểm còn lại thì đều giống: mỗi tay có 3 ngón, các ngón đều có móng vuốt. Khác với nhiều loài khủng long thích nghi để chạy, xương đùi Acrocanthosaurus dài hơn xương chàyxương bàn chân,[4][7] cho nên có lẽ nó không chạy nhanh lắm.[8] Tuy thế, chân nó mạnh hơn Allosaurus. Mỗi bàn chân có 4 ngón, một đặc điểm thường thấy ở các loài khủng long chân thú, nhưng ngón cái thì nhỏ hơn nhiều so với các ngón khác, và cũng không bao giờ chạm đất.[4][7]

Phát hiện và đặt tên[sửa | sửa mã nguồn]

Acrocanthosaurus có nghĩa là "thằn lằn gai sống cao", dựa trên từ Hy Lạp cổ ɑκρɑ/akra ('cao'), ɑκɑνθɑ/akantha ('gai') và σɑʊρος/sauros ('thằn lằn').[9] Chi này chỉ có một loài, A. atokensis, đặt tên theo hạt Akota tại bang Oklahoma, nơi mà nó được tìm thấy. Tên hiện tại được tạo ra vào năm 1950 bởi nhà cổ sinh vật học người Mỹ J. Willis Stovall và Wann Langston, Jr.[1] Langston đã gọi loài này là "Acracanthus atokaensis" trong luận án thạc sỹ chưa công bố của mình vào năm 1947,[10][11] nhưng cuối cùng tên chính thức được đổi thành Acrocanthosaurus atokensis như hiện nay.

Mẫu gốcmẫu thứ (OMNH 10146 và OMNH 10147), được tìm thấy vào đầu thập niên 1940 và được miêu tả cùng lúc vào năm 1950, gồm 2 bộ xương không hoàn chỉnh và một mảnh sọ từ thành hệ Antlers ở Oklahoma.[1] Sau đó người ta đào được hai mẫu khác hoàn chỉnh hơn nhiều, được miêu tả vào thập niên 1990. Mẫu thứ nhất (SMU 74646) là một bộ xương không hoàn chỉnh, thiếu phần lớn hộp sọ, tìm thấy trong thành hệ Twin Mountains ở Texas, hiện nằm trong bộ sưu tập của Bảo tàng Khoa học và Lịch sử Forth Worth.[7] Mẫu còn lại hoàn chỉnh hơn nhiều (NCSM 14345, biệt danh 'Fran') được tìm thấy tại thành hệ Antlers ở Oklahoma bởi Cephis Hall and Sid Love, tái dựng bởi Viện Black Hills tại South Dakota, đang được trưng bày tại Bảo tàng Khoa học Tự nhiênRaleigh. Đây là mẫu lớn nhất và cũng là mẫu duy nhất có hộp sọ và 2 chi trước hoàn chỉnh.[4] Xương từ hai mẫu OMNH 10147 và NCSM 14345 có lẽ từ 2 cá thể to gần bằng nhau, do kích thước xương của chúng gần giống nhau, trong khi xương của mẫu gốc và mẫu SMU 74646 thì nhỏ hơn nhiều.[4]

Vào năm 2012, người ta phát hiện ra một mẫu không hoàn chỉnh nữa, kí hiệu UM 20796, tại thành hệ Cloverly. Mẫu này gồm xương đùi, xương mác, 2 phần đốt sống, một phần xương mu và một số mảnh vụn, miêu tả một cá thể còn trẻ.

Cổ sinh học[sửa | sửa mã nguồn]

Hoạt động chi trước[sửa | sửa mã nguồn]

Tranh họa sĩ vẽ Acrocanthosaurus atokensis

Như các loài khủng long chân thú không biết bay khác, chi trước của Acrocanthosaurus không dùng để đi và không chạm đến đất; thay vào đó, chúng thực hiện chức năng săn mồi. Việc phát hiện ra lần đầu tiên một chi trước hoàn chỉnh (NCSM 14345) đã giúp cho các nhà khoa học phân tính rõ hơn về chức năng và vùng chuyển động của phần này.[12] Nghiên cứu đặc biệt quan tâm đến các phần khớp để xem chúng có thể di chuyển đến mức nào mà không bị trật. Ở rất nhiều vùng khớp, các phần xương không thực sự 'ăn' nhau lắm, chỉ ra ở đây có rất nhiều sụn, một đặc điểm thường thấy ở các archosauria. Người ta còn thấy, ở tư thế nghỉ, phần xương cánh tay của nó hơi chếch về phía sau, khuỷu tay gập lại còn móng vuốt thì hướng vào trong.[12]

Vai của Acrocanthosaurus không thể chuyển động thoải mái như ở người. Tay của nó không thể quay được một vòng tròn hoàn chỉnh, nhưng có thể rụt vào (quay về phía sau) 109° so với phương thẳng đứng để cho phần cánh tay có thể hơi dựng lên một chút. Nó chỉ có thể kéo ra (quay về phía trước) 24° so với phương thẳng đứng. Khi giạng xuống, tay nó không thể đạt được vị trí hoàn toàn thẳng đứng, nhưng có thể đạt được 9° trên phương ngang khi giạng lên. Phần khuỷu tay cũng không gập được thoải mái như người, với phạm vi quay chỉ có 57°. Tay nó không thể nào duỗi thẳng được, cũng như không thể gập lại quá sâu. Xương cánh tay của nó thậm chí không thể tạo được một góc vuông với phần cẳng tay nữa. Xương trụxương quay dính lại với nhau, vậy nên chắc nó không thể nào quay sấp hay lật ngửa bàn tay mình được.[12]

Bộ xương Acrocanthosaurus, nhìn từ bên hông

Không có một xương cổ tay nào khớp với nhau cả, cho thấy ở đây đã có rất nhiều sụn, làm cho tay của nó cứng hơn. Tất cả các ngón đều có thể bẻ hết mức về phía sau (về phía mặt sấp của bàn tay) cho đến khi gần chạm cổ tay. Khi gập lại, ngón giữa hơi hướng về ngón cái, trong khi ngón út sẽ cong lại vào trong. Ngón cái có móng vuốt lớn nhất, luôn luôn cong vào trong. Cũng như thế, ngón giữa có lẽ cũng luôn cong, trong khi ngón út có thể cong hoặc duỗi.[12]

Dựa trên những nghiên cứu về chuyển động phần chi trước của Acrocanthosaurus, người ta nêu lên một số giả thiết về tập tính săn mồi của nó. Nó không thể chộp lấy con mồi bằng chi trước, vì hai chi này không thể quay về trước nhiều được. Có lẽ nó dùng mõm để ngoạm thì đúng hơn. Mặt khác, 2 chi trước có thể rụt vào (quay về phía sau) rất gắt. Khi con mồi đã bị dính vào móng vuốt, nó có thể dùng các cơ mạnh ở chi trước để kéo con mồi sát vào mình, không cho chạy thoát. Con mồi sẽ bị thương vĩnh viễn nếu cố gắng thoát ra vì 2 ngón đầu của Acrocanthosaurus luôn gập vào trong. 3 ngón của nó linh hoạt cực kì, có thể bẻ về mọi phía, giúp cho nó thoải mái giữ con mồi đang giẫy giụa mà không sợ trật khớp. Khi con mồi đã gần sát, Acrocanthosaurus có thể xé xác nó bằng các móng vuốt của mình. Một giả thuyết khác là nó có thể giữ mồi bằng các móng vuốt, trong khi tay liên hồi rụt vào, làm cho con mồi bị những vết thương dài và sâu.[12]

Não và cấu trúc tai trong[sửa | sửa mã nguồn]

Bản vi tính nội đúc khoang sọ của hộp sọ mẫu gốc NCSM 14345

Vào năm 2005, các nhà khoa học đã dựng lại một bản nội đúc khoang sọ của Acrocanthosaurus bằng phương pháp chụp cắt lớp vi tính (chụp CT) để phân tích vùng bên trong hộp sọ của nó (cá thể kí hiệu OMNH 10146). Lúc nó còn sống thì vùng này còn chứa màng nãodịch não tủy nữa, chứ không chỉ não mà thôi. Tuy nhiên, từ nội đúc này và các nội đúc đã được làm cho những chi khủng long chân thú khác, người ta có thể nhận ra những điểm đặc trưng về não cũng như dây thần kinh sọ. Chúng giống như các họ khác trong bộ khủng long chân thú, nhưng giống nhất là với siêu họ Allosauroidea. Trong siêu họ này, nó có nhiều điểm tương đồng với CarcharodontosaurusGiganotosaurus hơn là với Allosaurus hay Sinraptor, tạo nên giả thiết rằng Acrocanthosaurus thuộc họ Carcharodontosauridae.[13]

Não Acrocanthosaurus hơi có dạng xích ma (hình chữ S). Hai bán cầu não không phát triển lắm, giống với cá sấu hơn là chim. Đặc điểm này thường thấy trong các chi khủng long ngoài nhánh Coelurosauria. Acrocanthosaurus có một hành khứu giác lớn và phồng ra, một dấu hiệu cho thấy nó có khả năng đánh hơi tốt. Vùng ống bán khuyên màng (có trách nhiệm giữ thăng bằng) cho thấy đầu Acrocanthosaurus chúc xuống 25° dưới đường nằm ngang. Người ta biết được điều này bằng cách xoay bản nội đúc sao cho vùng ống bán khuyên màng song song với mặt đất, một tư thế thường thấy khi động vật đang trong trạng thái tỉnh.[13]

Dấu chân[sửa | sửa mã nguồn]

Bang Texas: các hạt được tô màu đỏ là nơi những dầu chân khủng long chân thú được tìm thấy trong thành hệ Glen Rose.

Người ta đã tìm thấy rất nhiều dấu chân khủng long trong thành hệ Glen Rose ở miền Trung Texas, bao gồm những dấu chân ba ngón của khủng long chân thú. Nổi tiếng nhất trong số các mẫu dấu này là mẫu được tìm thấy dọc theo sông Paluxy tại Vườn Quốc gia Thung lũng Khủng long. Một phần của mẫu này hiện đang được trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Hoa KỳNew York.[14] Rất nhiều nơi khác trong bang Texas cũng có những mẫu dấu tương tự.[15][16] Tuy nhiên, người ta không thể nào biết chắc được loài nào đã làm ra những dấu đó, tại vì không có hóa thạch nào kèm theo cả. Dù vậy, các nhà khoa học từ lâu đã nghĩ những dấu chân đó thuộc về Acrocanthosaurus.[17] Trong một nghiên cứu năm 2001, người ta lấy những dấu chân tại Glen Rose đem so với bàn chân của nhiều loài khủng long chân thú lớn khác nhau. Dù không thể xác định được chính xác loài nào nhưng họ cũng đi tới nhận định rằng hình dạng và kích thước những dấu chân này phù hợp với Acrocanthosaurus. Thành hệ Glen Rose gần với thành hệ Antlers và Twin Mountains, cả về tuổi lẫn vị trí, mà chi khủng long chân thú duy nhất được biết trong 2 thành hệ này là Acrocanthosaurus, cho nên nghiên cứu trên kết luận Acrocanthosaurus là chi khủng long có khả năng nhất đã làm nên các dấu đó.[18]

Mô hình 3D mẫu dấu Glen Rose trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Hoa Kỳ

Mẫu dấu Glen Rose nổi tiếng được đề cập ở trên gồm những dấu chân của nhiều cá thể khủng long chân thú khác nhau di chuyển cùng hướng với 12 cá thể khủng long chân thằn lằn. Các dấu chân khủng long chân thú thường nằm đè lên các dấu khủng long chân thằn lằn, một dấu hiệu cho thấy các dấu này được hình thành sau. Điều này tạo nên giả thiết rằng một đàn Acrocanthosaurus nhỏ lén đi theo một đàn khủng long chân thằn lằn.[14] Giả thiết này không phải là không thể và khá là thú vị, nhưng để chứng minh thì khá là khó và người ta cũng có thể giải thích theo cách khác. Ví dụ như, nhiều con khủng long chân thú đơn độc đi cùng một đường vào các khoảng thời gian khác nhau sau khi đàn khủng long chân thằn lằn đi qua, tạo nên cảm giác một đàn này rình theo đàn kia. Lập luận này cũng có thể được áp dụng với cái "đàn" khủng long chân thằn lằn kia, vì chắc gì chúng đã đi theo đàn.[19] Tại một điểm giao với đường đi của một trong số các con khủng long chân thằn lằn, đường đi của một cá thể khủng long chân thú thiếu mất một dấu chân, tạo nên cảm giác đã xảy ra một cuộc "tấn công".[20] Dù vậy, nhiều nhà khoa học nghi ngờ tính chính xác của giả thiết này, vì nếu có một con khủng long ăn thịt lớn đang bám vào, dáng đi của con khủng long chân thằn lằn phải thay đổi, đằng này nó vẫn giữ nguyên.[19]

Bệnh lý học[sửa | sửa mã nguồn]

Hộp sọ mẫu gốc Acrocanthosaurus atokensis cho thấy một điểm lồi xương nhỏ tại vùng xương vảy. Gai thần kinh tại đốt sống thứ 11 có dấu hiệu bị đã bị rạn sau đó lành lại, và gai thần kinh tại đốt sống đuôi thứ 3 bị biến dạng thành một cái móc.[21]

Cổ sinh thái học[sửa | sửa mã nguồn]

Acrocanthosaurus cướp một con Tenontosaurus từ tay Deinonychus. (họa sĩ minh họa)

Hóa thạch của Acrocanthosaurus được tìm thấy ở thành hệ Twin Mountains ở miền Bắc Texas, thành hệ Antlers ở miền Nam Oklahoma, và thành hệ Cloverly ở bắc-trung Wyoming, và có thể cả thành hệ Arundel ở Maryland và Florida nữa. Những thành hệ địa chất này không được định tuổi bằng đồng vị phóng xạ, mà bằng phương pháp sinh địa tầng. Dựa trên những thay đổi trong phân lớp Cúc đá, thành hệ Glen Rose cho ta thấy sự chuyển tiếp giữa tầng Apttầng Alba của Creta sớm. Thành hệ này nằm ngay bên trên thành hệ Twin Mountains và các dấu chân được tìm thấy ở đây rất có thể là của Acrocanthosaurus. Điều này cho thấy thành hệ địa chất Twin Mountains Formation nằm hẳn trong tầng Apt, vào khoảng 125 đến 112 triệu năm trước đây.[22] Thành hệ Antlers có hóa thạch của Deinonychus and Tenontosaurus. Hai chi này cũng được tìm thấy tại thành hệ Cloverly, mà thành hệ này đã được định tuổi bằng đồng vị phóng xạ cho kết quả tầng Apt và tầng Alba, thành thử ra thành hệ Antlers cũng có lẽ thuộc 2 giai đoạn này.[23] Do đó, có khả năng nhất là Acrocanthosaurus đã tồn tại khoảng 125 đến 100 triệu năm trước đây.[5]

Vào thời điểm đó, vùng thuộc thành hệ Twin Mountains và Antlers là một bãi bồi lớn chảy từ một vùng biển nội hải. Vài triệu năm sau, vùng biển này sẽ lan rộng ra phía bắc, trở thành đường biển Western Interior và sẽ chia Bắc Mỹ ra làm hai cho tới gần như hết Creta muộn. Thành hệ địa chất Glen Rose đặc trưng cho miền duyên hải, và những dấu chân có thể của Acrocanthosaurus được in trong thềm bùn nơi những vùng ven biển cổ xưa. Vì là một loài ăn thịt lớn, Acrocanthosaurus có thể đã có một vùng phân bố rất rộng trong những môi trường sống khác nhau.[18] Con mồi thường là những loài khủng long chân thằn lằn như Astrodon[24] có lẽ thậm chí là cả loài Sauroposeidon khổng lồ nữa,[25] cũng như những loài khủng long chân chim như Tenontosaurus.[26] Loài Deinonychus cũng kiếm ăn trong khu vực này, nhưng chỉ với 3 mét chiều dài, nó khó có thể là đối thủ cạnh tranh của Acrocanthosaurus.[23]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c Stovall, J. Willis; Langston, Wann. (1950). “Acrocanthosaurus atokensis, a new genus and species of Lower Cretaceous Theropoda from Oklahoma”. American Midland Naturalist (American Midland Naturalist, Vol. 43, No. 3) 43 (3): 696–728. doi:10.2307/2421859. JSTOR 2421859. 
  2. ^ a ă â b Bates, K.T., Manning, P.L., Hodgetts, D. and Sellers, W.I. (2009). "Estimating Mass Properties of Dinosaurs Using Laser Imaging and 3D Computer Modelling." PLoS ONE, 4(2): e4532. doi:10.1371/journal.pone.0004532 Online full text.
  3. ^ Therrien, F.; Henderson, D.M. (2007). “My theropod is bigger than yours...or not: estimating body size from skull length in theropods”. Journal of Vertebrate Paleontology 27 (1): 108–115. doi:10.1671/0272-4634(2007)27[108:MTIBTY]2.0.CO;2. 
  4. ^ a ă â b c d đ Currie, Philip J.; Carpenter, Kenneth. (2000). “A new specimen of Acrocanthosaurus atokensis (Theropoda, Dinosauria) from the Lower Cretaceous Antlers Formation (Lower Cretaceous, Aptian) of Oklahoma, USA”. Geodiversitas 22 (2): 207–246. 
  5. ^ a ă Holtz, Thomas R.; Molnar, Ralph E.; Currie, Philip J. (2004). “Basal Tetanurae”. Trong Weishampel, David B.; Dodson, Peter; & Osmólska, Halszka (eds.). The Dinosauria . Berkeley: University of California Press. tr. 71–110. ISBN 0-520-24209-2. 
  6. ^ Molnar, Ralph E.; Kurzanov, Sergei M.; & Dong Zhiming. (1990). “Carnosauria”. Trong Weishampel, David B.; Dodson, Peter; & Osmólska, Halszka (eds.). The Dinosauria . Berkeley: University of California Press. tr. 169–209. ISBN 0-520-06727-4. 
  7. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên harris1998
  8. ^ Naish, Darren; Hutt, Stephen; Martill, David M. (2001). “Saurischian Dinosaurs 2: Theropods”. Dinosaurs of the Isle of Wight. London: The Palaeontological Association. tr. 242–309. ISBN 978-0-901702-72-2. 
  9. ^ Liddell, Henry George; Robert Scott (1980). Greek–English Lexicon, Abridged Edition. Oxford: Oxford University Press. ISBN 0-19-910207-4. 
  10. ^ Langston, Wann R. (1947). A new genus and species of Cretaceous theropod dinosaur from the Trinity of Atoka County, Oklahoma. Unpublished M.S. thesis. University of Oklahoma. 
  11. ^ Czaplewski, Nicholas J.; Cifelli, Richard L.; Langston, Wann R., Jr. (1994). “Catalog of type and figured fossil vertebrates. Oklahoma Museum of Natural History”. Oklahoma Geological Survey Special Publication 94 (1): 1–35. 
  12. ^ a ă â b c Senter, Phil; Robins, James H. (2005). “Range of motion in the forelimb of the theropod dinosaur Acrocanthosaurus atokensis, and implications for predatory behaviour”. Journal of Zoology 266 (3): 307–318. doi:10.1017/S0952836905006989. 
  13. ^ a ă Franzosa, Jonathan; Rowe, Timothy. (2005). “Cranial endocast of the Cretaceous theropod dinosaur Acrocanthosaurus atokensis. Journal of Vertebrate Paleontology 25 (4): 859–864. doi:10.1671/0272-4634(2005)025[0859:CEOTCT]2.0.CO;2. 
  14. ^ a ă Bird, Roland T. (1941). “A dinosaur walks into the museum”. Natural History 43: 254–261. 
  15. ^ Rogers, Jack V. (2002). “Theropod dinosaur trackways in the Lower Cretaceous (Albian) Glen Rose Formation, Kinney County, Texas”. Texas Journal of Science 54 (2): 133–142. 
  16. ^ Hawthorne, J. Michael; Bonem, Rena M.; Farlow, James O.; Jones, James O. (2002). “Ichnology, stratigraphy and paleoenvironment of the Boerne Lake Spillway dinosaur tracksite, south-central Texas”. Texas Journal of Science 54 (4): 309–324. 
  17. ^ Langston, Wann (1974). “Non-mammalian Comanchean tetrapods”. Geoscience and Man 3: 77–102. 
  18. ^ a ă Farlow, James O. (2001). “Acrocanthosaurus and the maker of Comanchean large-theropod footprints”. Trong Tanke, Darren; & Carpenter, Ken. (eds.). Mesozoic Vertebrate Life. Bloomington: Indiana University Press. tr. 408–427. ISBN 978-0-253-33907-2. 
  19. ^ a ă Lockley, Martin G. (1991). Tracking Dinosaurs: A New Look at an Ancient World. Cambridge: Cambridge University Press. tr. 252pp. ISBN 978-0-521-39463-5. 
  20. ^ Thomas, David A.; Farlow, James O. (1997). “Tracking a dinosaur attack”. Scientific American 266 (6): 48–53. 
  21. ^ Molnar, R. E., 2001, Theropod paleopathology: a literature survey: In: Mesozoic Vertebrate Life, edited by Tanke, D. H., and Carpenter, K., Indiana University Press, p. 337-363.
  22. ^ Jacobs, Louis L.; Winkler, Dale A.; Murry, Patrick A. (1991). “On the age and correlation of Trinity mammals, Early Cretaceous of Texas, USA”. Newsletter of Stratigraphy 24: 35–43. 
  23. ^ a ă Brinkman, Daniel L.; Cifelli, Richard L.; Czaplewski, Nicholas J. (1998). “First occurrence of Deinonychus antirrhopus (Dinosauria: Theropoda) from the Antlers Formation (Lower Cretaceous: Aptian – Albian) of Oklahoma”. Oklahoma Geological Survey Bulletin 146: 1–27. 
  24. ^ Rose, Peter J. (2007). “A new titanosauriform sauropod (Dinosauria: Saurischia) from the Early Cretaceous of central Texas and its phylogenetic relationships”. Palaeontologia Electronica 10 (2): 65pp.  [published online]
  25. ^ Wedel, Matthew J.; Cifelli, Richard L.; Kent Sanders, R. (2000). Sauroposeidon proteles, a new sauropod from the Early Cretaceous of Oklahoma” (PDF). Journal of Vertebrate Paleontology 20 (1): 109–114. doi:10.1671/0272-4634(2000)020[0109:SPANSF]2.0.CO;2. 
  26. ^ Winkler, Dale A.; Murry, Patrick A.; Jacobs, Louis L. (1997). “A new species of Tenontosaurus (Dinosauria: Ornithopoda) from the Early Cretaceous of Texas”. Journal of Vertebrate Paleontology 17 (2): 330–348. doi:10.1080/02724634.1997.10010978. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]