Allosaurus

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Allosaurus
Thời điểm hóa thạch: Cuối Jura 155–150 triệu năm trước đây
Allosaurus SDNHM.jpg
Bộ xương A. fragilis phục dựng ở Bảo tàng Lịch sử tự nhiên San Diego
Phân loại khoa học
Giới (regnum)Animalia
Ngành (phylum)Chordata
Lớp (class)Reptilia
Nhánh Dinosauria
Phân bộ (subordo)Theropoda
Phân thứ bộ (infraordo)Carnosauria
Họ (familia)Allosauridae
Chi (genus)Allosaurus
Marsh, 1877
Loài điển hình
Allosaurus fragilis
Marsh, 1876
Loài
  • A. fragilis
    Marsh, 1877
  • A. europaeus?
    Mateus et al., 2006
Danh pháp đồng nghĩa

Allosaurus (/ˌæləˈsɔːrəs/[1][2]) là một chi khủng long theropoda sống cách ngày nay 155 tới 150 triệu năm trước vào cuối kỷ Jura (Kimmeridgian tới đầu Tithonian[3]). Tên "Allosaurus" nghĩa là "thằn lằn khác lạ". Xuất phát từ tiếng Hy Lạp ἄλλος/allos ("khác lạ") và σαῦρος/sauros ("thằn lằn"). Là một chi khủng long được biết đến nhiều, nó từ lâu đã thu hút sự quan tâm ngoài giới khảo cổ. Thực vậy, nó xuất hiện trong khá nhiều phim và tài liệu về cuộc sống tiền sử.

Allosaurus là khủng long ăn thịt lớn đi bằng hai chân. Hộp sọ lớn và có hàng tá răng sắc nhọn. Chúng dài trung bình 8,5 m (28 ft), và có thể dài hơn 12 m (39 ft). Chi sau dài và khỏe, chi trước nhỏ với ba ngón tay, và phần đuôi dài giữ thăng bằng. Chúng được xếp vào họ allosauridae, một nhóm khủng long carnosauria. Phân loại này đang bị tranh cãi, số loài không chắc chắn, loài được biết đến nhiều nhất là Allosaurus fragilis. Vào nữa đầu thế kỷ 20, tên chi là Antrodemus, nhưng việc nghiên cứu nhiều hóa thạch từ Mỏ khủng long Cleveland-Lloyd, phục hồi lại cái tên "Allosaurus", và trở thành một trong những chi khủng long được nghiên cứu kỹ nhất.

Mô tả[sửa | sửa mã nguồn]

So sánh kích thước giữa các loài Allosaurus với con người

Allosaurus là một chi khủng long chân thú lớn điển hình, có hộp sọ lớn, cổ ngắn, đuôi dài và chi trước tương đối ngắn. Allosaurus fragilis, loài nổi tiếng nhất, có chiều dài trung bình 8,5 m,[4] mẫu Allosaurus nhất lớn nhất (AMNH 680) có thể dài đến 9,7 m,[5] và khối lượng khoảng 2,3 tấn.[5] James H. Madsen trong chuyên khảo năm 1976 của ông về Allosaurus có đề cập đến một loạt các kích thước xương với cái có chiều dài tối đa là 12–13 m.[6] Như các chi khủng long khác nói chung, ước tính khối lượng còn gây tranh cãi, và từ năm 1980, khối lượng dao động trong khoảng 1.500 kg, 1.000-4.000 kg tới 1.010 kg cho cá thể trưởng thành yếu vị (không phải tối đa).[7] John Foster, chuyên gia nghiên cứu thành hệ Morrison, cho rằng 1.000 kg là hợp lý cho loài A. fragilis, nhưng 700 kg là ước tính sát hơn với các cá thể có xương đùi điển hình mà ông đo đạc.[8] Sử dụng mẫu vật có biệt danh là "Big Al" thuộc loài Allosaurus jimmadseni,[9] các nhà nghiên cứu cho chạy mô hình máy tính và có ước tính tốt nhất là 1500 kg cho mẫu này, nhưng bằng các thông số khác nhau, họ ước tính trọng lượng con vật có thể đạt từ 1.400 kg đến khoảng 2.000 kg.[10]

Khung xương phục dựng của A. jimmadseni

Nhiều mẫu khổng lồ đã được quy cho Allosaurus, nhưng thực tế có thể thuộc về các chi khác. Chi Saurophaganax (OMNH 1708) có lẽ dài tới 10,9 m,[5] và loài duy nhất này đôi khi được gộp vào chi Allosaurus với tên gọi Allosaurus maximus, mặc dù các nghiên cứu gần đây ủng hộ nó là chi riêng biệt.[11] Một mẫu tiềm năng khác của Allosaurus, từng được gán cho chi Epanterias (AMNH 5767), có thể dài tới 12,1 m.[5] Một phát hiện gần đây hơn là một phần xương từ Mỏ Peterson ở tầng đá Morrison của New Mexico; allosaurid lớn này có thể là một cá thể khác của Saurophaganax.[12]

David K. Smith, sau khi kiểm định hóa thạch Allosaurus của từng mỏ đá, phát hiện ra rằng các mẫu tại Cleveland-Lloyd Dinosaur Quarry (bang Utah) thường nhỏ hơn so với các mẫu từ Como Bluff (bang Wyoming) và Dry Mesa Quarry (bang Colorado), nhưng hình dạng xương không khác nhau giữa các địa phương.[13] Một nghiên cứu sau đó của Smith tích hợp các mẫu từ Garden Park (bang Colorado) và Tượng đài Quốc gia Khủng long (bang Utah) không tìm thấy bằng chính cho nhiều loài dựa trên hình dạng bộ xương; biến thể của hộp sọ khá phổ biến và không quá đáng kể, cho thấy đây là dị hình cá thể.[14] Nghiên cứu sâu hơn về biến thể liên quan đến kích thước một lần nữa không tìm thấy sự khác biệt nhất quán, mặc dù vật liệu từ Dry Mesa có xu hướng kết tụ lại với nhau trên xương sên.[14] Kenneth Carpenter, sử dụng các yếu tố hộp sọ từ Cleveland-Lloyd, tìm thấy sự khác biệt lớn giữa các cá thể, đặt ra sự hoài nghi cho sự phân biệt cấp loài trước đây dựa trên các đặc điểm như hình dạng của sừng và sự khác biệt được đề xuất của A. jimmadseni dựa trên hình dạng của .[15]

Hộp sọ[sửa | sửa mã nguồn]

Hộp sọ A. jimmadseni với các xương cấu thành tô đậm

Hộp sọ và răng của Allosaurus cân đối một cách rất khiêm tốn so với một khủng long chân thú bình thường. Nhà cổ sinh vật học Gregory S. Paul đưa ra chiều dài 845 mm cho hộp sọ thuộc về một cá thể mà ông ước tính dài 7,9 m.[16] Mỗi xương tiền hàm trên (xương tạo thành đầu mõm) có 5 răng với mặt cắt hình chữ D và mỗi xương hàm trên (xương mang răng chính ở hàm trên) có từ 14 đến 17 răng; số lượng răng không hoàn toàn tương ứng với kích thước của xương. Mỗi xương răng (xương mang răng ở hàm dưới) có từ 14 đến 17 răng, với số lượng trung bình là 16. Răng trở nên ngắn hơn, hẹp hơn và cong hơn khi đi về phía sau hộp sọ. Tất cả các răng có cạnh giống như cưa. Chúng bị bong ra dễ dàng và được thay thế liên tục, khiến chúng trở thành thành hóa thạch phổ biến.[6]

Hộp sọ có một cặp sừng ở trên và trước mắt. Những chiếc sừng này bao gồm phần mở rộng của xương lệ,[6] phong phú về kiểu hình và kích thước. Ngoài ra còn có những đường nhô thấp hơn chạy dọc theo các cạnh trên của xương mũi dẫn lên các sừng.[6] Sừng có lẽ được bọc bởi keratin và có thể có nhiều chức năng, bao gồm che nắng cho mắt,[6] sử dụng để phô trương và để chiến đấu chống lại các thành viên khác cùng loài[16][17] (mặc dù chúng khá dễ vỡ).[6] Có một đường nhô dọc theo mặt sau của hộp sọ để cơ bắp gắn vào, giống ở họ tyrannosaurid.[16]

Bên trong xương lệ là những chỗ lõm có thể chứa các tuyến, chẳng hạn như tuyến muối.[18] Trong hàm trên là các xoang phát triển tốt hơn so với các chi nguyên thủy hơn chẳng hạn CeratosaurusMarshosaurus; đặc điểm này có lẽ liên quan đến khứu giác, có thể chứa bộ phận Jacobson. Mái của hộp bao não mỏng, có lẽ để cải thiện sự điều nhiệt cho não.[6] Hộp sọ và hàm dưới có khớp cho phép chuyển động trong các đơn vị này. Ở hàm dưới, xương của nửa trước và nửa sau có khớp lỏng, cho phép hàm nhô ra phía ngoài và làm tăng góc há mồm của con vật.[19] Hộp bao não và xương trán có thể có khớp nối.[6]

Bộ xương hậu sọ[sửa | sửa mã nguồn]

Phục dựng một con A. fragilis

Allosaurus có 9 đốt cổ, 14 đốt lưng và 5 đốt cùng hỗ trợ hông.[20] Số lượng đốt sống đuôi chưa biết và tùy vào kích thước cá thể; James Madsen ước tính khoảng 50,[6] trong khi Gregory S. Paul cho rằng vậy là quá nhiều và ước tính tầm 45 hoặc ít hơn.[16] Có những khoảng trống ở đốt cổ và đốt lưng phía trước.[6] Những khoảng trống như vậy, cũng được tìm thấy ở chim, dùng để chứa các túi khí dùng trong hô hấp.[21] Lồng xương sườn rộng so với các khủng long chân thú nguyên thủy như Ceratosaurus.[22] Allosaurus có xương bụng, nhưng ít khi tìm được mẫu có xương này,[6] vì có thể là do chúng thạch hóa kém.[16] Trong một trường hợp được công bố, xương bụng mang vết chấn thương lúc còn sống.[23] Một xương chạc có mặt, nhưng chỉ được công nhận từ năm 1996 trở đi; nhiều khi xương chạc bị nhầm lẫn với xương bụng.[23][24] Ilium, xương hông chính, rất lớn và xương mu có một mặt đế kéo dài nổi bật cho cơ bắp bám vào và làm điểm tựa cho cơ thể khi chúng ngồi trên mặt đất. Madsen lưu ý rằng trong khoảng một nửa số cá thể từ Cleveland-Lloyd Dinosaur Quarry, không kể kích thước, các xương mu không hợp nhất với nhau ở đầu đế. Ông cho rằng đây là một đặc điểm giới tính, với những con cái thiếu xương hợp nhất để việc đẻ trứng dễ dàng hơn.[6] Tuy vậy, đề xuất này không gây nhiều sự chú ý.

Tay và vuốt của A. fragilis

Chi trước của Allosaurus ngắn so với chi sau (dài bằng 35% chân ở cá thể trưởng thành)[25] và có ba ngón tay với vuốt lớn, cong và nhọn.[6] Cánh tay rất khỏe,[16] và cẳng tay ngắn hơn cánh tay trên (tỷ lệ xương khuỷu tay/xương cánh tay là 1/1,2).[26] Khối xương cổ tay hình lưỡi liềm[27] giống ở các maniraptoran tân tiến hơn. Trong ba ngón tay, ngón trong cùng (hoặc ngón cái) lớn nhất,[16] và tách khỏi các ngón khác.[26] Công thức đốt ngón tay là 2-3-4-0-0, nghĩa là ngón trong cùng (phalange) có hai đốt, ngón liền kề có ba và ngón cuối có bốn.[28] Đôi chân không dài hoặc phù hợp cho hành động chạy như của tyrannosaurid, và móng vuốt của ngón chân không phát triển và giống móng guốc hơn so với các khủng long chân thú nguyên thủy hơn.[16] Mỗi bàn chân có ba ngón chân chịu tải trọng và một ngón huyền, mà Madsen cho rằng nó có chức năng để bắt mồi ở con non.[6] Ngoài ra còn có một tàn dư giống như nẹp của xương bàn chân thứ năm (ở ngoài cùng), có lẽ là một đòn bẩy giữa gân achilles và bàn chân.[29]

Cổ sinh thái học[sửa | sửa mã nguồn]

Phần trồi lên của Brushy Basin Member, thành hệ Morrison, phía Tây sông Green, Utah, trên cao nguyên Colorado.

Hóa thạch Allosaurus chiếm 70 - 75% số mẫu vật khủng long chân thú được tìm thấy tại thành hệ Morrison;[8] và do đó là bậc dinh dưỡng cao nhất trong chuỗi thức ăn của thành hệ này.[30] Bản thân Morrison là một vùng đá rộng 1.5 triệu km2 nằm ở phía Tây Hoa Kỳ, với kiểu khí hậu đặc trưng là nửa khô hạn, 2 mùa mưa, khô rõ rệt cùng các bãi bồi bằng phằng.[31] Thảm thực vật tại đây thay đổi từ các rừng thông, dương xỉ mộc, dương xỉ dọc theo sông; cho đến các xavan dương xỉ xen lẫn vài cây khác như chi thông đã tuyệt chủng dạng bách tán Brachyphyllum.[32]

Thành hệ Morrison là một trong những nơi giàu hóa thạch nhất Bắc Mỹ. Rất nhiều loài động thực vật cổ đại đã được tìm thấy tại đây, gồm, thực vật: tảo lục Chlorophyta, nấm, rêu, mộc tặc, dương xỉ, tuế, bạch quả cùng vài họ thông; động vật: các loài thân mềm hai mảnh, ốc, cá vây tia, động vật lưỡng cư không đuôicó đuôi, rùa, động vật đầu mỏ, thằn lằn, các loài crocodylomorpha trên cạn và dưới nước, vài dực long, nhiều loại khủng long và một số bộ thú thủy tổ như Docodonta, Multituberculata, SymmetrodontaEutriconodonta. Khủng long tại đây có khủng long chân thú Ceratosaurus, Ornitholestes, Torvosaurus; chân thằn lằn Apatosaurus, Brachiosaurus, Brontosaurus, Camarasaurus, Diplodocus; và hông chim Camptosaurus, Dryosaurus, Stegosaurus.[33] Hóa thạch Allosaurus thường nằm chung một nơi với Apatosaurus, Camarasaurus, Diplodocus, và Stegosaurus.[34]

Không chỉ ở Mỹ, Allosaurus còn được tìm thấy tại Bồ Đào Nha. Các thành hệ niên đại Jura Muộn này cũng có những nét tương tự như thành hệ Morrison, có điều chúng mang ảnh hưởng của đại dương nhiều hơn. Nhiều chi khủng long trong thành hệ Morrison cũng là những chi được tìm thấy trong các thành hệ Bồ Đào Nha (chủ yếu là Allosaurus, Ceratosaurus, Torvosaurus, và Apatosaurus), hoặc là họ hàng gần của chúng (Brachiosaurus so với Lusotitan, Camptosaurus so với Draconyx).[35]

Thành hệ Morrison (màu vàng) ở miền Tây Hoa Kỳ. Các dấu chấm và cộng là những nơi Allosaurus được tìm thấy.

Ở cả hai thành hệ trên, Allosaurus tồn tại song song cùng với 2 chi khủng long chân thú ăn thịt lớn khác là CeratosaurusTorvosaurus.[35] Dựa trên các đặc điểm giải phẫu học và vị trí hóa thạch của 3 chi này, người ta nghĩ chúng có các tổ sinh thái khác nhau. CeratosaurusTorvosaurus dường như thích hoạt động gần các rạch nước. Với cơ thể thấp, ốm, chúng có lợi thế trong địa hình rừng và bụi cây thấp. Trái lại, Allosaurus chắc nịch hơn, chân dài hơn, nhanh hơn nhưng không linh hoạt bằng, có vẻ thích hợp hơn với địa hình bãi bồi khô.[36] Sọ Ceratosaurus thì cao và hẹp, còn răng của chúng thì lớn và rộng hơn Allosaurus.[37]Đây là một trong những đặc điểm giải phẫu học dễ nhận biết để phân biệt 2 chi này. Thịt Allosaurus cũng có thể được các loài khủng long khác tiêu thụ, như dấu răng trên xương mu của một mẫu Allosaurus cho thấy, có thể là của Ceratosaurus hay Torvosaurus. Vị trí của xương này (một trong những phần cuối cùng của thân và được che chắn một phần bởi chân), cùng với thực tế rằng nó là một trong những phần cứng nhất trong bộ xương, cho thấy rằng con Allosaurus này đã chết và đang bị (các) cá thể khủng long ăn xác thối ăn.[38]

Cổ sinh vật học[sửa | sửa mã nguồn]

Đời sống[sửa | sửa mã nguồn]

Skeletons at different growth stages

Số lượng lớn các hóa thạch Allosaurus thuộc đủ mọi lứa tuổi khác nhau ("trẻ" nhất có thể là các trứng tại Colorado)[4] đã giúp cho các nhà khoa học nghiên cứu được sự phát triển cũng như tuổi thọ ước tính của chúng. Dựa trên các phân tích mô học xương chi, sự phát triển của xương dừng lại lúc 22 đến 28 tuổi, xêm xêm với các loài khủng long chân thú lớn khác như Tyrannosaurus. Cũng từ phân tích trên, tốc độ tăng trưởng nhanh nhất của Allosaurus dường như rơi vào năm thứ 15 với 150 kg/năm.[39]

Medullary bone tissue (endosteally derived, ephemeral, mineralization located inside the medulla of the long bones in gravid female birds) has been reported in at least one Allosaurus specimen, a shin bone from the Cleveland-Lloyd Quarry.[40] Today, this bone tissue is only formed in female birds that are laying eggs, as it is used to supply canxi to shells. Its presence in the Allosaurus individual has been used to establish sex and show it had reached reproductive age. However, other studies have called into question some cases of medullary bone in dinosaurs, including this Allosaurus individual. Data from extant birds suggested that the medullary bone in this Allosaurus individual may have been the result of a bone pathology instead.[41]

Não và các giác quan[sửa | sửa mã nguồn]

Kết quả chụp cắt lớp vi tính nội đúc não Allosaurus cho thấy nó có nhiều nét tương đồng với crocodilian hơn là chim. Qua cấu trúc hệ tiền đình của nó, người ta biết được, ở trạng thái nghỉ, hộp sọ Allosaurus nằm ngang, không chúc lên hay chúc xuống. Tai trong Allosaurus cũng giống như cá sấu, vì thế có lẽ nó nghe tốt nhất là ở tần số thấp, và gặp khó khăn với những âm thanh nhỏ. Hành khứu giác thì lớn, có vẻ như rất thích hợp cho việc đánh hơi, mặc dù vùng xử lý thông tin mùi khá là nhỏ.[42]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Allosaurus”. Merriam-Webster Dictionary. 
  2. ^ “Allosaurus”. Dictionary.com Chưa rút gọn. Random House. 
  3. ^ Turner, C.E. and Peterson, F., (1999). "Biostratigraphy of dinosaurs in the Upper Jurassic Morrison Formation of the Western Interior, U.S.A." Pp. 77–114 in Gillette, D.D. (ed.), Vertebrate Paleontology in Utah. Utah Geological Survey Miscellaneous Publication 99-1.
  4. ^ a ă Glut, Donald F. (1997). “Allosaurus”. Dinosaurs: The Encyclopedia. Jefferson, North Carolina: McFarland & Co. tr. 105–117. ISBN 978-0-89950-917-4.  Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “DFG97” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác
  5. ^ a ă â b Mortimer, Mickey (21 tháng 7 năm 2003). “And the largest Theropod is...”. The Dinosaur Mailing List. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2007. 
  6. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l Madsen, James H., Jr. (1993) [1976]. Allosaurus fragilis: A Revised Osteology. Utah Geological Survey Bulletin 109 (ấn bản 2). Salt Lake City: Utah Geological Survey. 
  7. ^ Foster, John R. (2003). Paleoecological Analysis of the Vertebrate Fauna of the Morrison Formation (Upper Jurassic), Rocky Mountain Region, U.S.A. New Mexico Museum of Natural History and Science Bulletin 23. Albuquerque: New Mexico Museum of Natural History and Science. tr. 37. 
  8. ^ a ă Foster, John (2007). “Allosaurus fragilis”. Jurassic West: The Dinosaurs of the Morrison Formation and Their World. Bloomington, Indiana: Indiana University Press. tr. 170–176. ISBN 978-0-253-34870-8. OCLC 77830875.  Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “JF07” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác
  9. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên DJC20
  10. ^ Bates, Karl T.; Falkingham, Peter L.; Breithaupt, Brent H.; Hodgetts, David; Sellers, William I.; Manning, Phillip L. (2009). “How big was 'Big Al'? Quantifying the effect of soft tissue and osteological unknowns on mass predictions for Allosaurus (Dinosauria:Theropoda)”. Palaeontologia Electronica 12 (3): unpaginated. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2009.  Đã bỏ qua tham số không rõ |url-status= (trợ giúp)
  11. ^ Chure, Daniel J. (2000). A new species of Allosaurus from the Morrison Formation of Dinosaur National Monument (Utah–Colorado) and a revision of the theropod family Allosauridae. PhD dissertation. Columbia University. 
  12. ^ Foster, John. 2007. Jurassic West: the Dinosaurs of the Morrison Formation and Their World. Bloomington, Indiana:Indiana University Press. p. 117.
  13. ^ Smith, David K. (1996). “A discriminant analysis of Allosaurus population using quarries as the operational units”. Museum of Northern Arizona Bulletin 60: 69–72. 
  14. ^ Smith, David K. (1999). “Patterns of size-related variation within Allosaurus”. Journal of Vertebrate Paleontology 19 (2): 402–403. doi:10.1080/02724634.1999.10011153. 
  15. ^ Carpenter, Kenneth (2010). “Variation in a population of Theropoda (Dinosauria): Allosaurus from the Cleveland-Lloyd Quarry (Upper Jurassic), Utah, USA”. Paleontological Research 14 (4): 250–259. doi:10.2517/1342-8144-14.4.250. 
  16. ^ a ă â b c d đ e Paul, Gregory S. (1988). “Genus Allosaurus. Predatory Dinosaurs of the World. New York: Simon & Schuster. tr. 307–313. ISBN 978-0-671-61946-6. 
  17. ^ Molnar, Ralph E. (1977). “Analogies in the evolution of combat and display structures in ornithopods and ungulates”. Evolutionary Theory 3: 165–190. 
  18. ^ Norman, David B. (1985). “Carnosaurs”. The Illustrated Encyclopedia of Dinosaurs: An Original and Compelling Insight into Life in the Dinosaur Kingdom. New York: Crescent Books. tr. 62–67. ISBN 978-0-517-46890-6. 
  19. ^ Paul, Gregory S. (1988). Predatory Dinosaurs of the World. 91 and Figure 4–5 (93).
  20. ^ Madsen, 1976; chú ý là chưa có sự đồng tình về phần cổ kết thúc ở đâu hay phần lưng bắt đầu ở đâu, và vài tác giả như Gregory S. Paul cho rằng có 10 đốt cổ và 13 đốt lưng.
  21. ^ Holtz, Thomas R., Jr.; Molnar, Ralph E.; Currie, Philip J. (2004). “Basal Tetanurae”. Trong Weishampel David B.; Dodson, Peter; Osmólska, Halszka. The Dinosauria (ấn bản 2). Berkeley: University of California Press. tr. 71–110. ISBN 978-0-520-24209-8. 
  22. ^ Paul, Gregory S. (1988). Predatory Dinosaurs of the World. 277.
  23. ^ a ă Chure, Daniel J. (2000). “Observations on the morphology and pathology of the gastral basket of Allosaurus, based on a new specimen from Dinosaur National Monument”. Oryctos 3: 29–37. ISSN 1290-4805. 
  24. ^ Chure, Daniel J.; Madsen, James (1996). “On the presence of furculae in some non-maniraptoran theropods”. Journal of Vertebrate Paleontology 16 (3): 573–577. doi:10.1080/02724634.1996.10011341. 
  25. ^ Middleton, Kevin M. (2000). “Theropod forelimb design and evolution” (PDF). Zoological Journal of the Linnean Society 128 (2): 149–187. doi:10.1006/zjls.1998.0193. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 25 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2007. 
  26. ^ a ă Gilmore, Charles W. (1920). “Osteology of the carnivorous dinosauria in the United States National Museum, with special reference to the genera Antrodemus (Allosaurus) and Ceratosaurus (PDF). Bulletin of the United States National Museum 110 (110): 1–159. doi:10.5479/si.03629236.110.i.  Đã bỏ qua tham số không rõ |hdl= (trợ giúp)
  27. ^ Carpenter, Kenneth (2002). “Forelimb biomechanics of nonavian theropod dinosaurs in predation”. Senckenbergiana Lethaea 82 (1): 59–76. doi:10.1007/BF03043773. 
  28. ^ Martin, A.J. (2006). Introduction to the Study of Dinosaurs. Second Edition. Oxford, Blackwell Publishing. 560 pp. ISBN 1-4051-3413-5.
  29. ^ Paul, Gregory S. (1988). Predatory Dinosaurs of the World. 113; note illustrations of Allosaurus on 310 and 311 as well; Madsen (1976) interpreted these bones as possible upper portions of the inner metatarsal.
  30. ^ Foster, John R. (2003). Paleoecological Analysis of the Vertebrate Fauna of the Morrison Formation (Upper Jurassic), Rocky Mountain Region, U.S.A. New Mexico Museum of Natural History and Science Bulletin, 23. Albuquerque, New Mexico: New Mexico Museum of Natural History and Science. tr. 29. 
  31. ^ Russell, Dale A. (1989). An Odyssey in Time: Dinosaurs of North America. Minocqua, Wisconsin: NorthWord Press. tr. 64–70. ISBN 978-1-55971-038-1. 
  32. ^ Carpenter, Kenneth (2006). “Biggest of the big: a critical re-evaluation of the mega-sauropod Amphicoelias fragillimus”. Trong Foster, John R.; and Lucas, Spencer G. (eds.). Paleontology and Geology of the Upper Jurassic Morrison Formation. New Mexico Museum of Natural History and Science Bulletin, 36. Albuquerque, New Mexico: New Mexico Museum of Natural History and Science. tr. 131–138. 
  33. ^ Chure, Daniel J.; Litwin, Ron; Hasiotis, Stephen T.; Evanoff, Emmett; Carpenter, Kenneth (2006). “The fauna and flora of the Morrison Formation: 2006”. Trong Foster, John R.; and Lucas, Spencer G. (eds.). Paleontology and Geology of the Upper Jurassic Morrison Formation. New Mexico Museum of Natural History and Science Bulletin, 36. Albuquerque, New Mexico: New Mexico Museum of Natural History and Science. tr. 233–248. 
  34. ^ Dodson, Peter; Behrensmeyer, A.K.; Bakker, Robert T.; McIntosh, John S. (1980). “Taphonomy and paleoecology of the dinosaur beds of the Jurassic Morrison Formation”. Paleobiology 6 (2): 208–232. 
  35. ^ a ă Mateus, Octávio (2006). “Jurassic dinosaurs from the Morrison Formation (USA), the Lourinhã and Alcobaça Formations (Portugal), and the Tendaguru Beds (Tanzania): A comparison”. Trong Foster, John R.; and Lucas, Spencer G. (eds.). Paleontology and Geology of the Upper Jurassic Morrison Formation. New Mexico Museum of Natural History and Science Bulletin, 36. Albuquerque, New Mexico: New Mexico Museum of Natural History and Science. tr. 223–231. 
  36. ^ Bakker, Robert T.; Bir, Gary (2004). “Dinosaur crime scene investigations: theropod behavior at Como Bluff, Wyoming, and the evolution of birdness”. Trong Currie, Philip J.; Koppelhus, Eva B.; Shugar, Martin A.; and Wright, Joanna L. (eds.). Feathered Dragons: Studies on the Transition from Dinosaurs to Birds. Bloomington and Indianapolis: Indiana University Press. tr. 301–342. ISBN 978-0-253-34373-4. 
  37. ^ Henderson, Donald M. (1998). “Skull and tooth morphology as indicators of niche partitioning in sympatric Morrison Formation theropods” (PDF). Gaia 15: 219–266. 
  38. ^ Chure, Daniel J. (2000). “Prey bone utilization by predatory dinosaurs in the Late Jurassic of North America, with comments on prey bone use by dinosaurs throughout the Mesozoic” (PDF). Gaia 15: 227–232. ISSN 0871-5424. 
  39. ^ Bybee, Paul J.; Lee, AH; Lamm, ET (2006). “Sizing the Jurassic theropod dinosaur Allosaurus: Assessing growth strategy and evolution of ontogenetic scaling of limbs”. Journal of Morphology 267 (3): 347–359. PMID 16380967. doi:10.1002/jmor.10406. 
  40. ^ Lee, Andrew H.; Werning, S (2008). “Sexual maturity in growing dinosaurs does not fit reptilian growth models”. Proceedings of the National Academy of Sciences of the United States of America 105 (2): 582–587. Bibcode:2008PNAS..105..582L. PMC 2206579. PMID 18195356. doi:10.1073/pnas.0708903105. 
  41. ^ Chinsamy, A.; Tumarkin-Deratzian, A. (2009). “Pathological Bone Tissues in a Turkey Vulture and a Nonavian Dinosaur: Implications for Interpreting Endosteal Bone and Radial Fibrolamellar Bone in Fossil Dinosaurs”. Anat. Rec. 292: 1478–1484. doi:10.1002/ar.20991. 
  42. ^ Rogers, Scott W. (1999). Allosaurus, crocodiles, and birds: Evolutionary clues from spiral computed tomography of an endocast” (PDF). The Anatomical Record 257 (5): 163–173. PMID 10597341. doi:10.1002/(SICI)1097-0185(19991015)257:5<162::AID-AR5>3.0.CO;2-W. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]