Giải đua xe Công thức 1 2021

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Giải vô địch Công thức 1
thế giới năm 2021
Trước: 2020 Sau: 2022
Support series:
Formula 2 Championship
FIA Formula 3 Championship
Porsche Supercup
W Series

Giải đua xe Công thức 1 2021 là mùa giải lần thứ 72 của giải đua xe Công thức 1. Đây là giải đua xe cấp cao nhất của thể loại xe bánh hở và được điều hành bởi Liên đoàn Ô tô Quốc tế. Giải đua bắt đầu từ tháng 03/2021 và dự kiến sẽ kết thúc vào tháng 12/2021. Theo lịch thi đấu ban đầu, giải đua bao gồm 22 chặng đua, nhiều nhất trong số 72 mùa giải đã qua. Có tổng cộng 10 đội đua và 20 tay đua chính thức (chưa tính các tay đua dự bị) sẽ tranh tài. Tham gia giải đua với tư cách đương kim vô địch là đội đua Mercedes và tay đua Lewis Hamilton[1].

Sau chặng đua thứ 20 GP Qatar, tay đua Max Verstappen của đội Red Bull Racing đang dẫn đầu bảng xếp hạng cá nhân với 351.5 điểm.

Diễn biến chính[sửa | sửa mã nguồn]

Chặng đua mở màn diễn ra ở trường đua Sakhir-Bahrain, người giành pole là Max Verstappen của đội đua Red Bull Racing, nhưng anh đã bị Lewis Hamilton nhảy cóc ở lần pit đầu tiên. Đến vòng 52, Verstappen vượt được đối thủ song đã phải trả lại vị trí vì đó là một cú vượt lỗi. Kết quả cuối cùng Hamilton đã giành chiến thắng chặng đua đầu tiên của mùa giải F1 2021. Đây cũng là chặng đua F1 đầu tiên của các tay đua Mick Schumacher, Nikita Mazepin và Yuki Tsunoda[2].

Chặng 2 GP Emilia-Romagna ở trường đua Imola. Đây là cuộc đua trên mặt đường ướt. Lần này pole là Lewis Hamilton, tuy nhiên anh đã bị mất vị trí dẫn đầu vào tay Verstappen ở pha xuất phát. Verstappen ngay lập tức bứt phá và có được chiến thắng áp đảo cho dù sau đó cuộc đua xảy ra nhiều sự cố, có liên quan đến cả Hamilton. Ở vòng 31, tay đua chủ lực của đội Mercedes có pha lạc tay lái suýt tông rào, khi trở lại đường đua thì anh bị rơi xuống P9. Cùng lúc đó thì xảy ra tai nạn nghiêm trọng giữa Valtteri BottasGeorge Russell khiến cho cuộc đua phải tạm ngưng. Tận dụng khoảng thời gian nghỉ, Hamilton đã sửa được chiếc xe và thi đấu bùng nổ sau khi cuộc đua trở lại, anh đã vượt hàng loạt đối thủ để cán đích ở vị trí thứ 2. Người về 3 là tay đua trẻ của đội đua Mclaren Lando Norris.[3]

Chặng 3 GP Bồ Đào Nha người giành pole và giữ được vị trí dẫn đầu sau vòng 1 là Valtteri Bottas. Đáng tiếc là sau đó anh đã bị đồng đội Lewis Hamilton và Max Verstappen vượt nên cuối cùng chỉ về đích ở vị trí thứ 3. Hamilton bị Verstappen vượt ở pha xuất phát nhưng không mất nhiều thời gian để có thể vượt lại đối thủ, tạo đà cho cú vượt Bottas (và giành chiến thắng) sau này. Chặng đua này có tai nạn ở vòng 1 giữa hai tay đua đội Alfa Romeo là Kimi Raikkonen và Antonio Giovinazzi[4].

Chặng 4 GP Tây Ban Nha đánh dấu pole lần thứ 100 [5] của Lewis Hamilton, song anh để mất vị trí dẫn đầu vào tay Max Verstappen ở pha xuất phát. Hamilton dù đang chạy ở vị trí thứ 2 đã gây bất ngờ cho đối thủ bằng việc vào pit một lần nữa để có ưu thế lốp mới ở cuối chặng đua. Chiến thuật đã phát huy tác dụng. Lewis Hamilton có pha vượt mặt trực tiếp Verstappen và giành được chiến thắng[6].

Chặng 5-Monaco, Charles Leclerc giành pole sau khi tông rào ở vòng chạy cuối cùng của Q3[7]. Cú tông khiến cho chiếc xe bị hư và anh không thể tham gia cuộc đua chính. Max Verstappen đã có thêm một chiến thắng dễ dàng. Valtteri Bottas khi đang chạy ở vị trí thứ 2 thì bị lỗi pit-stop nên phải bỏ cuộc. Carlos Sainz jr có lần đầu giành podium trong màu áo Ferrrari, chung vui với đồng đội cũ Lando Norris. Sau chặng đua này thì Verstappen đã chiếm ngôi đầu bảng xếp hạng[8].

Leclerc tiếp tục giành pole ở chặng 6-GP Azerbaijan theo kịch bản của chặng đua trước (Yuki Tsunoda và Carlos Sainz gặp tai nạn ở vòng chạy cuối cùng ở Q3)[9]. Lần này thì Leclerc có thể tham gia đua chính nhưng anh nhanh chóng bị Max Verstappen, Lewis Hamilton và Sergio Perez vượt mặt. Đến khi cuộc đua còn 3 vòng thì Max Verstappen đang chạy đầu, đột ngột tông rào, phải bỏ cuộc. Tai nạn khiến cho cuộc đua phải tạm dừng[10]. Ở pha xuất phát lại, Lewis Hamilton phạm lỗi thao tác nên đã xuất phát rất tệ, bị rới xuống cuối đoàn đua và không thể ghi được điểm số nào. Sergio Pérez mang về chiến thắng đầu tiên của anh cho đội đua Red Bull[11]. Sebastian Vettel cũng lần đầu lên podium khi đua cho Aston Martin và Pierre Gasly mang về một podium nữa cho đội đua AlphaTauri.

Các chặng đua 7-8-9 diễn ra trong 3 tuần liên tiếp.

Chặng 7-GP Pháp ở trường đua Paul Ricard[12]: Max Verstappen đã sử dụng chiến thuật 2 pit, đến cuối cuộc đua có pha vượt mặt trực tiếp Lewis Hamilton để giành chiến thắng. Đội đua Ferrrari thi đấu rất tệ, bị đánh trượt khỏi top-10.

Hai chặng 8 và chặng 9 đều diễn ra trường đua Red Bull Ring và đều mang đến những chiến thắng thống trị cho Max Verstappen. Ở Chặng 8-GP Styria [13] Charles Leclerc do va chạm với Pierre Gasly ở pha xuất phát nên bị tụt xuống cuối đoàn đua, sau đó anh đã vượt rất nhiều người để cán đích ở vị trí thứ 7, được bầu chọn là tay đua xuất sắc nhất cuộc đua. Sang tới Chặng 9-GP Áo [14] đến lượt Lando Norris tỏa sáng cho dù đã bị phạt 5 giây vì lỗi đẩy Sergio Perez. Tay đua trẻ người Anh có pha vượt mặt người đồng hương nổi tiếng Lewis Hamilton để có lần thứ 3 trong mùa giải bước lên bục podium. Perez sau khi tụt xuống nhóm giữa thì phạm lỗi 2 lần với Charles Leclerc, nên bị phạt tổng cộng 10 giây.

Chặng 10-GP Anh diễn ra ở trường đua Silverstone là chặng đua đầu tiên trong lịch sử tổ chức phiên chạy Sprint-race. Max Verstappen là người đã giành chiến thắng phiên chạy này để giành pole trong cuộc đua chính[15]. Ở cuộc đua chính, Verstappen và Hamilton đã so kè quyết liệt ở vòng đua đầu tiên. Cả hai đã có va chạm khiến cho Verstappen tông rào bỏ cuộc, đồng thời cuộc đua phải tạm dừng. Khi cuộc đua trở lại thì Lewis Hamilton nhận án phạt 10 giây nhưng anh vẫn có tốc độ vô cùng mạnh mẽ, lần lượt đánh bại Lando Norris, Valttteri Bottas và Charles Leclerc để giành chiến thắng trên sân nhà[16] qua đó thu hẹp khoảng cách đáng kể với Verstappen trên BXH tổng.

Chặng 11-GP Hungary xuất phát trên đường ướt. Valtteri Bottas và Lance Stroll gây ra tai nạn liên hoàn ở pha xuất phát khiến cho họ cùng với Charles Leclerc, Sergio Perez và Lando Norris phải bỏ cuộc ngay lập tức, còn Max Verstappen thì chiếc xe bị hỏng nặng. Cuộc đua cũng phải tạm dừng. Khi cuộc đua bắt đầu trở lại thì đường đua cũng đã khô, trừ Lewis Hamilton thì tất cả các tay đua còn lại đều không tham gia pha xuất phát lại mà quyết định vào pit thay lốp. Phải đến vòng đua tiếp theo Hamilton mới thay lốp nên anh bị tụt xuống cuối đoàn đua. Hai vị trí dẫn đầu lúc này thuộc về Esteban Ocon[17]Sebastian Vettel, họ đã không bỏ lỡ cơ hội và lần lượt cán đích ở hai vị trí đầu tiên. Tuy nhiên Vettel bị hủy thành tích do không vượt qua được bài kiểm tra nhiên liệu. Hamilton cũng kịp vượt trở lại vị trí thứ 3 và được đôn lên P2, đồng thời đoạt lấy ngôi đầu BXH tổng của Verstappen. Tay đua Red Bull do chiếc xe bị hư hại nên thi đấu rất chật vật, chỉ cán đích ở vị trí thứ 9.

Chặng 12-GP Bỉ đã không thể diễn ra trọn vẹn vì trời mưa lớn. Sau khi chờ đợi gần 4 tiếng đồng hồ, ban tổ chức quyết định kết thúc và công nhận kết quả cuộc đua dù đã không có một vòng đua thực sự nào được diễn ra. Do không hoàn thành 75% cự ly nên điểm thưởng bị giảm đi một nửa. Người chiến thắng cũng là người giành pole, Max Verstappen. Trong khi George Russell có lần đầu tiên trong sự nghiệp bước lên bục podium.

Chặng 13-GP Hà Lan là một chặng đua thống trị của Max Verstappen, chiến thắng trên sân nhà giúp cho anh đòi lại ngôi đầu bảng xếp hạng tổng từ tay Lewis Hamilton. Ở chặng này thì Kimi Raikkonen bị nhiễm Covid-19 nên được thay thế bằng Robert Kubica[18]. Trước khi chặng đua diễn ra, Raikkonen cũng đã thông báo giải nghệ sau khi mùa giải kết thúc.

Chặng 14-GP Ý, Valtteri Bottas chiến thắng cả hai phiên chạy phân hạng truyền thống và đua sprint. Tuy nhiên anh phải xuất phát cuối cùng ở phiên đua chính do lỗi thay động cơ. Ở cuộc đua chính, Daniel Ricciardo đã có pha xuất phát tốt để chiếm vị trí dẫn đầu của Max Verstappen. Tay đua người Úc không phạm sai lầm nào để mang về chiến thắng đầu tiên cho đội đua Mclaren sau 9 năm[19]. Ngược lại thì Verstappen sau pha xuất phát chậm, tiếp tục có tình huống vào pit chậm, rồi gây ra tai nạn nguy hiểm cho Lewis Hamilton khiến cho cả hai phải bỏ cuộc[20]. Verstappen bị phạt 3 bậc xuất phát ở chặng đua GP nga.

Chặng 15-GP Nga, Lewis Hamilton để tông rào ở buổi đua phân hạng và Lando Norris đã tận dụng tối đa cơ hội để giành pole đầu tiên trong sự nghiệp[21].

Ở cuộc đua chính, Carlos Sainz vượt lên dẫn đầu sau pha xuất phát, nhưng chỉ cần hơn 15 vòng là Lando Norris đã đòi lại vị trí dẫn đầu. Đến cuối cuộc đua, Lewis Hamilton vượt lên vị trí thứ hai, liên tục rút ngắn khoảng cách với Norris. Lúc này trời bắt đầu đổ mưa, Norris là tay đua vào pit muộn nhất nên đã phải trả giá, tụt xuống vị trí thứ 7. Với Hamilton, anh có được chiến thắng thứ 100 trong sự nghiệp[22], đồng thời chiếm luôn ngôi đầu bảng xếp hạng tổng của Max Verstappen, người đã cán đích thứ hai dù phải xuất phát từ cuối đoàn đua do lỗi thay động cơ.

Chặng 16-GP Thổ Nhĩ Kỳ, đến lượt Lewis Hamilton bị phạt bậc xuất phát do lỗi thay động cơ. Vì thế cho dù đã chiến thắng buổi đua phân hạng nhưng Hamilton chỉ có vị trí xuất phát thứ 11 và chỉ có thể về đích thứ năm ở cuộc đua chính. Hamilton để mất lại ngôi đầu bảng vào tay Max Verstappen, người đã về nhì. Chiến thắng chặng đua này là Valtteri Bottas[23].

Chặng 17-GP Hoa Kỳ, Max Verstappen giành pole. Mặc dù để Lewis Hamilton vượt mặt ở pha xuất phát tuy nhiên Verstappen đã lấy lại vị trí ngay ở lần pit đầu tiên, từ đó thẳng tiến đến chiến thắng[24].

Chặng 18-GP Mexico, Max Verstappen chỉ có vị trí xuất phát thứ ba đã vượt lên dẫn đầu ngay sau pha xuất phát, và đã giành chiến thắng cách biệt. Tay đua giành pole Valtteri Bottas gặp tai nạn ngay ở góc cua đầu tiên[25].

Chặng 19-GP Sao Paulo, Lewis Hamilton liên tục gặp bất lợi từ các án phạt nên anh phải xuất phát cuộc đua chính từ vị trí thứ 10[26]. Mặc dù vậy, Hamilton đã thi đấu xuất sắc, vượt mặt rất nhiều đối thủ, trong đó có cả Verstappen để giành chiến thắng[27].

Lewis Hamilton tiếp tục thi đấu với phong độ cao ở chặng 20 GP Qatar, anh đã giành pole và cán đích trước Verstappen 25 giây[28]. Ở chặng này Verstappen bị phạt 5 bậc xuất phát. Người về ba là Fernando Alonso.

Danh sách đội đua và tay đua[sửa | sửa mã nguồn]

Dưới đây là các đội đua và các tay đua chính thức sẽ tham gia mùa giải Formula 1 2021.

Tên chính thức Đối tác động cơ Khung xe Động cơ Tay đua
Số xe Tên Tham gia
Switzerland Alfa Romeo Racing Orlen Ferrari C41[29] Ferrari 065/6[30] 7
99
Finland Kimi Räikkönen
Italy Antonio Giovinazzi
1–11
1–11
Italy Scuderia AlphaTauri Honda Honda AT02[31] Honda RA621H[32] 10
22
France Pierre Gasly
Japan Yuki Tsunoda
1–11
1–11
France Alpine F1 Team[33] Renault A521[34] Renault E-Tech 20B[35] 14
31
Spain Fernando Alonso
France Esteban Ocon
1–11
1–11
United Kingdom Aston Martin Cognizant F1 Team[36] Mercedes AMR21[37] Mercedes-AMG F1 M12[38] 5
18
Germany Sebastian Vettel
Canada Lance Stroll
1–11
1–11
Italy Scuderia Ferrari Mission Winnow Ferrari SF21[39] Ferrari 065/6[40] 16
55
Monaco Charles Leclerc
Spain Carlos Sainz Jr.
1–11
1–11
United States Uralkali Haas F1 Team[41] Ferrari VF-21[42] Ferrari 065/6[43] 9
47
Russian Automobile Federation Nikita Mazepin
Germany Mick Schumacher
1–11
1–11
United Kingdom McLaren F1 Team Mercedes MCL35M[44] Mercedes-AMG F1 M12[45] 3
4
Australia Daniel Ricciardo
United Kingdom Lando Norris
1–11
1–11
Germany Mercedes-AMG Petronas F1 Team Mercedes F1 W12[46] Mercedes-AMG F1 M12[47] 44
77
United Kingdom Lewis Hamilton
Finland Valtteri Bottas
1–11
1–11
Austria Red Bull Racing Honda Honda RB16B[48] Honda RA621H[49] 11
33
Mexico Sergio Pérez
Netherlands Max Verstappen
1–11
1–11
United Kingdom Williams Racing Mercedes FW43B[50] Mercedes-AMG F1 M12[51] 6
63
Canada Nicholas Latifi
United Kingdom George Russell
1–11
1–11

Thay đổi đội đua[sửa | sửa mã nguồn]

Đội đua Renault đổi tên thành Alpine. Đội đua Racing Point được bán cho hãng xe Aston Martin.

Đội đua Mclaren chia tay Renault chuyển sang sử dụng động cơ Mercedes[52].

Thay đổi tay đua[sửa | sửa mã nguồn]

Các tay đua lần đầu tham gia: Mick Schumacher, Nikita Mazepin, Yuki Tsunoda

Tay đua trở lại thi đấu: Fernando Alonso[53]

Các tay đua chuyển đội: Daniel Ricciardo chuyển từ Alpine (tên cũ Renaul) sang Mclaren, Carlos Sainz chuyển từ Mclaren sang Ferrari, Sebastian Vettel chuyển từ Ferrrari sang Aston Martin[54], Sergio Pérez chuyển từ Aston Martin (tên cũ Racing Point) sang Red Bull[55].

Lịch thi đấu[sửa | sửa mã nguồn]

Màu xanh lá cây là các quốc gia có tổ chức chặng đua. Màu xám đậm là các quốc gia có chặng đua bị hủy.
Stt Grand Prix Trường đua Ngày
1 Chặng đua GP Bahrain Bahrain Bahrain International Circuit, Sakhir 28/3
2 Chặng đua GP Emilia Romagna Ý Imola Circuit, Imola 18/4
3 Chặng đua GP Bồ Đào Nha Bồ Đào Nha Algarve International Circuit, Portimão 2/5
4 Chặng đua GP Tây Ban Nha Tây Ban Nha Circuit de Barcelona-Catalunya, Montmeló 9/5
5 Chặng đua GP Monaco Monaco Circuit de Monaco, Monte Carlo 23/5
6 Chặng đua GP Azerbaijan Azerbaijan Baku City Circuit, Baku 6/5
7 Chặng đua GP Pháp Pháp Circuit Paul Ricard, Le Castellet 20/6
8 Chặng đua GP Styria Áo Red Bull Ring, Spielberg 27/6
9 Chặng đua GP Áo 4/7
10 Chặng đua GP Anh Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Silverstone Circuit, Silverstone 18/7
11 Chặng đua GP Hungary Hungary Hungaroring, Mogyoród 1/8
12 Chặng đua GP Bỉ Bỉ Circuit de Spa-Francorchamps, Stavelot 29/8
13 Chặng đua GP Hà Lan Hà Lan Circuit Zandvoort, Zandvoort 5/9
14 Chặng đua GP Ý Ý Monza Circuit, Monza 12/9
15 Chặng đua GP Nga Nga Sochi Autodrom, Sochi 26/9
16 Chặng đua GP Thổ Nhĩ Kỳ Thổ Nhĩ Kỳ Istanbul Park, Tuzla 3/10
17 Chặng đua GP Hoa Kỳ Hoa Kỳ Circuit of the Americas, Austin, Texas 24/10
18 Chặng đua GP Mexico México Autódromo Hermanos Rodríguez, Mexico City 7/11
19 Chặng đua GP Brasil Brasil Interlagos Circuit, São Paulo 14/11
20 Chặng đua GP Qatar Qatar Losail International Circuit, Lusail 21/11
21 Chặng đua GP Ả Rập Saudi Ả Rập Xê Út Jeddah Street Circuit, Jeddah 5/12
22 Chặng đua GP Abu Dhabi Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất Yas Marina Circuit, Abu Dhabi 12/12

Do đại dịch covid-19 nên các chặng đua sau đây đã bị hủy: Canada[56], Singapore[57], Úc[58], Nhật Bản.

Các chặng đua được bổ sung: GP Styria, GP Thổ Nhĩ Kỳ

Chặng đua GP Brasil được đổi tên thành GP Sao Paolo

Chặng đua mới: GP Ả Rập Saudi[59], GP Qatar

Luật lệ[sửa | sửa mã nguồn]

Đáng lý ra mùa giải F1 2021 sẽ được áp dụng bộ luật kỹ thuật mới, nhưng do đại dịch covid-19 nên Ban tổ chức quyết định dời thời điểm áp dụng luật mới sang năm 2022. Riêng năm 2021 sẽ tiếp tục áp dụng luật 2020 với một số điều chỉnh nhỏ.

Ngoài ra, thay đổi đáng chú ý nhất của mùa giải F1 2021 là thử nghiệm format thi đấu mới ở 3 chặng đua GP Anh, GP Italia và GP Brasil. Ở 3 chặng đua này sẽ bỏ một phiên practice để tổ chức thêm một cuộc đua cự ly ngắn (sprint-race)[60].

Kết quả[sửa | sửa mã nguồn]

Grands Prix[sửa | sửa mã nguồn]

Chặng Grand Prix Pole Fastest lap Tay đua chiến thắng Đội đua chiến thắng Chi tiết
1 Bahrain Chặng đua GP Bahrain Max Verstappen Valtteri Bottas Lewis Hamilton Mercedes Report
2 Italy Chặng đua GP Emilia Romagna Lewis Hamilton Lewis Hamilton Max Verstappen Red Bull Racing-Honda Report
3 Portugal Chặng đua GP Bồ Đào Nha FIN Valtteri Bottas Valtteri Bottas Lewis Hamilton Mercedes Report
4 Spain Chặng đua GP Tây Ban Nha Lewis Hamilton Max Verstappen Lewis Hamilton Mercedes Report
5 Monaco Chặng đua GP Monaco Charles Leclerc Lewis Hamilton Max Verstappen Red Bull Racing-Honda Report
6 Azerbaijan Chặng đua GP Azerbaijan Charles Leclerc Max Verstappen Sergio Pérez Red Bull Racing-Honda Report
7 France Chặng đua GP Pháp Max Verstappen Max Verstappen Max Verstappen Red Bull Racing-Honda Report
8 Austria Chặng đua GP Styria Max Verstappen Lewis Hamilton Max Verstappen Red Bull Racing-Honda Report
9 Austria Chặng đua GP Áo Max Verstappen Max Verstappen Max Verstappen Red Bull Racing-Honda Report
10 United Kingdom Chặng đua GP Anh Max Verstappen Sergio Pérez Lewis Hamilton Mercedes Report
11 Hungary Chặng đua GP Hungary Lewis Hamilton Pierre Gasly Esteban Ocon Alpine-Renault Report
12 Belgium Chặng đua GP Bỉ Max Verstappen Không trao Max Verstappen Red Bull Racing-Honda Report
13 Netherlands Chặng đua GP Hà Lan Max Verstappen Lewis Hamilton Max Verstappen Red Bull Racing-Honda Report
14 Italy Chặng đua GP Ý Max Verstappen Daniel Ricciardo Daniel Ricciardo McLaren-Mercedes Report
15 Russia Chặng đua GP Nga Lando Norris Lando Norris Lewis Hamilton Mercedes Report
16 Turkey Chặng đua GP Thổ Nhĩ Kỳ Phần Lan Valtteri Bottas Phần Lan Valtteri Bottas Phần Lan Valtteri Bottas Đức Mercedes Report
17 United States Chặng đua GP Hoa Kỳ Max Verstappen Lewis Hamilton Max Verstappen Red Bull Racing-Honda Report
18 Mexico Chặng đua GP Mexico Phần Lan Valterri Bottas Phần Lan Valtteri Bottas Hà Lan Max Verstappen Áo Red Bull Racing-Honda Report
19 Brazil Chặng đua GP Sao Paulo Phần Lan Valterri Bottas México Sergio Pérez Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Lewis Hamilton Đức Mercedes Report
20 Qatar Chặng đua GP Qatar Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Lewis Hamilton Hà Lan Max Verstappen Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Lewis Hamilton Đức Mercedes Report
21 Saudi Arabia Chặng đua GP Ả Rập Saudi Report
22 United Arab Emirates Chặng đua GP Abu Dhabi Report

Nguồn: Trang chủ Formula1[61]

Hệ thống tính điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Điểm số từ cao đến thấp sẽ được thưởng cho các tay đua cán đích từ vị trí đầu tiên (chiến thắng) đến vị trí thứ 10. Tay đua nào trong top-10 lập được fastest-lap sẽ được tặng thêm 1 điểm.

Ở 3 chặng đua GP Anh, GP Italia và GP Brasil sẽ thưởng điểm cho 3 tay đua về đầu ở cuộc đua nước rút.

Vị trí  1st   2nd   3rd   4th   5th   6th   7th   8th   9th   10th   FL 
Đua chính 25 18 15 12 10 8 6 4 2 1 1
Đua nước rút 3 2 1

Bảng xếp hạng tay đua[sửa | sửa mã nguồn]

Stt Tay đua BHR
Bahrain
EMI
Ý
POR
Bồ Đào Nha
ESP
Tây Ban Nha
MON
Monaco
AZE
Azerbaijan
FRA
Pháp
STY
Áo
AUT
Áo
GBR
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland
HUN
Hungary
BEL
Bỉ
NED
Hà Lan
ITA
Ý
RUS
Nga
TUR
Thổ Nhĩ Kỳ
USA
Hoa Kỳ
MXC
México
SAP
Brasil
QAT
Qatar
SAU
Ả Rập Xê Út
ABU
Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất
Điểm
1 Hà Lan Max Verstappen 2P 1 2 2F 1 18†F 1PF 1P 1PF Ret1 P 9 1P 1P Ret2 P 2 2 1P 1 22 2F 351.5
2 Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Lewis Hamilton 1 2PF 1 1P 7F 15 2 2F 4 12 2P 3 2F Ret 1 5 2F 2 1 1P 343.5
3 Phần Lan Valtteri Bottas 3F Ret 3PF 3 Ret 12 4 3 2 33 Ret 12 3 31 5 1PF 6 15PF 31 P Ret 203
4 México Sergio Pérez 5 11 4 5 4 1 3 4 6 16F Ret 19 8 5 9 3 3 3 4F 4 190
5 Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Lando Norris 4 3 5 8 3 5 5 5 3 4 Ret 14 10 2 7PF 7 8 10 10 9 153
6 Monaco Charles Leclerc 6 4 6 4 DNSP 4P 16 7 8 2 Ret 8 5 4 15 4 4 5 5 8 152
7 Tây Ban Nha Carlos Sainz Jr. 8 5 11 7 2 8 11 6 5 6 3 10 7 6 3 8 7 6 63 7 145.5
8 Úc Daniel Ricciardo 7 6 9 6 12 9 6 13 7 5 11 4 11 13 F 4 13 5 12 Ret 12 105
9 Pháp Pierre Gasly 17† 7 10 10 6 3 7 Ret 9 11 5F 6 4 Ret 13 6 Ret 4 7 11 92
10 Tây Ban Nha Fernando Alonso Ret 10 8 17 13 6 8 9 10 7 4 11 6 8 6 16 Ret 9 9 3 77
11 Pháp Esteban Ocon 13 9 7 9 9 Ret 14 14 Ret 9 1 7 9 10 14 10 Ret 13 8 5 60
12 Đức Sebastian Vettel 15 15† 13 13 5 2 9 12 17† Ret DSQ 5 13 12 12 18 10 7 11 10 43
13 Canada Lance Stroll 10 8 14 11 8 Ret 10 8 13 8 Ret 20 12 7 11 9 12 14 Ret 6 34
14 Nhật Bản Yuki Tsunoda 9 12 15 Ret 16 7 13 10 12 10 6 15 Ret DNS 17 14 9 Ret 15 13 20
15 Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland George Russell 14 Ret 16 14 14 17† 12 Ret 11 12 8 2 17† 9 10 15 14 16 13 17 16
16 Phần Lan Kimi Räikkönen 11 13 Ret 12 11 10 17 11 15 15 10 18 WD 8 12 13 8 12 14 10
17 Canada Nicholas Latifi 18† Ret 18 16 15 16 18 17 16 14 7 9 16 11 19† 17 15 17 16 Ret 7
18 Ý Antonio Giovinazzi 12 14 12 15 10 11 15 15 14 13 13 13 14 13 16 11 11 11 14 15 1
19 Đức Mick Schumacher 16 16 17 18 18 13 19 16 18 18 12 16 18 15 Ret 19 16 Ret 18 16 0
20 Ba Lan Robert Kubica 15 14 0
21 Russian Automobile Federation Nikita Mazepin Ret 17 19 19 17 14 20 18 19 17 Ret 17 Ret Ret 18 20 17 18 17 18 0
Pos. Driver BHR
Bahrain
EMI
Ý
POR
Bồ Đào Nha
ESP
Tây Ban Nha
MON
Monaco
AZE
Azerbaijan
FRA
Pháp
STY
Áo
AUT
Áo
GBR
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland
HUN
Hungary
BEL
Bỉ
NED
Hà Lan
ITA
Ý
RUS
Nga
TUR
Thổ Nhĩ Kỳ
USA
Hoa Kỳ
MXC
México
SAP
Brasil
QAT
Qatar
SAU
Ả Rập Xê Út
ABU
Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất
Points
Source:
Chú thích
Màu Ý nghĩa
Vàng Chiến thắng
Bạc Hạng nhì
Đồng Hạng ba
Lá cây Ghi điểm
Xanh nhạt Được xếp hạng
Không xếp hạng, có hoàn thành(NC)
Tím Không xếp hạng, bỏ cuộc(Ret)
Cam Không phân hạng (DNQ)
Did not pre-qualify (DNPQ)
Đen Hủy kết quả(DSQ)
Trắng Không đua chính(DNS)
Cuộc đua bị hủy (C)
Ô trống Không đua thử (DNP)
Loại trừ(EX)
Không đến (DNA)
Rút lui(WD)
Annotation Meaning
P Pole position
F Fastest lap
Superscript number[A] Position in sprint qualifying
  1. ^ Sprint qualifying position is only included for points scoring positions

Notes:

  • dagger – Driver did not finish the Grand Prix but was classified, as he completed more than 90% of the race distance.
  • double-dagger – Half points were awarded at the Belgian Grand Prix as less than 75% of the scheduled distance was completed. Fastest laps were not recognised in the final classification.

Bảng xếp hạng đội đua[sửa | sửa mã nguồn]

Stt Đội đua BHR
Bahrain
EMI
Ý
POR
Bồ Đào Nha
ESP
Tây Ban Nha
MON
Monaco
AZE
Azerbaijan
FRA
Pháp
STY
Áo
AUT
Áo
GBR
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland
HUN
Hungary
BEL
Bỉ
NED
Hà Lan
ITA
Ý
RUS
Nga
TUR
Thổ Nhĩ Kỳ
USA
Hoa Kỳ
MXC
México
SAP
Brasil
QAT
Qatar
SAU
Ả Rập Xê Út
ABU
Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất
Điểm
1 Đức Mercedes 1 2PF 1 1P 7F 12 2 2F 2 12 2P 3 2F 31 1 1PF 2F 2 1 Ret 546.5
3F Ret 3PF 3 Ret 15 4 3 4 33 Ret 12 3 Ret 5 5 6 15PF 31 P 1P
2 Áo Red Bull Racing-Honda 2P 1 2 2F 1 1 1PF 1P 1PF 16F 9 1P 1P 5 2 2 1P 1 22 2F 541.5
5 11 4 5 4 18†F 3 4 6 Ret1 P Ret 19 8 Ret2 P 9 3 3 3 4F 4
3 Ý Ferrari 6 4 6 4 2 4P 11 6 5 2 3 8 5 4 3 4 4 5 5 8 297.5
8 5 11 7 DNSP 8 16 7 8 6 Ret 10 7 6 15 8 7 6 63 7
4 Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland McLaren-Mercedes 4 3 5 6 3 5 5 5 3 4 11 4 10 13 F 4 7 5 10 10 9 258
7 6 9 8 12 9 6 13 7 5 Ret 14 11 2 7PF 13 8 12 Ret 12
5 Pháp Alpine-Renault 13 9 7 9 9 6 8 9 10 7 1 7 6 8 6 10 Ret 9 8 3 137
Ret 10 8 17 13 Ret 14 14 Ret 9 4 11 9 10 14 16 Ret 13 9 5
6 Ý AlphaTauri-Honda 9 7 10 10 6 3 7 10 9 10 5F 6 4 Ret 13 6 9 4 7 11 112
17† 12 15 Ret 16 7 13 Ret 12 11 6 15 Ret DNS 17 14 Ret Ret 15 13
7 Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Aston Martin-Mercedes 10 8 13 11 5 2 9 8 13 8 Ret 5 12 7 11 9 10 7 11 6 77
15 15† 14 13 8 Ret 10 12 17† Ret DSQ 20 13 12 12 18 12 14 Ret 10
8 Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Williams-Mercedes 14 Ret 16 14 14 16 12 17 11 12 7 2 16 9 10 15 14 16 13 Ret 23
18† Ret 18 16 15 17† 18 Ret 16 14 8 9 17† 11 19† 17 15 17 16 17
9 Thụy Sĩ Alfa Romeo Racing-Ferrari 11 13 12 12 10 10 15 11 14 13 10 13 14 13 8 11 11 8 12 15 11
12 14 Ret 15 11 11 17 15 15 15 13 18 15 14 16 12 13 11 14 14
10 Hoa Kỳ Haas-Ferrari 16 16 17 18 17 13 19 16 18 17 12 16 18 15 18 19 16 18 17 18 0
Ret 17 19 19 18 14 20 18 19 18 Ret 17 Ret Ret Ret 20 17 Ret 18 16
Pos. Constructor BHR
Bahrain
EMI
Ý
POR
Bồ Đào Nha
ESP
Tây Ban Nha
MON
Monaco
AZE
Azerbaijan
FRA
Pháp
STY
Áo
AUT
Áo
GBR
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland
HUN
Hungary
BEL
Bỉ
NED
Hà Lan
ITA
Ý
RUS
Nga
TUR
Thổ Nhĩ Kỳ
USA
Hoa Kỳ
MXC
México
SAP
Brasil
QAT
Qatar
SAU
Ả Rập Xê Út
ABU
Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất
Points
Source:[62]
Chú thích
Màu Ý nghĩa
Vàng Chiến thắng
Bạc Hạng nhì
Đồng Hạng ba
Lá cây Ghi điểm
Xanh nhạt Được xếp hạng
Không xếp hạng, có hoàn thành(NC)
Tím Không xếp hạng, bỏ cuộc(Ret)
Cam Không phân hạng (DNQ)
Did not pre-qualify (DNPQ)
Đen Hủy kết quả(DSQ)
Trắng Không đua chính(DNS)
Cuộc đua bị hủy (C)
Ô trống Không đua thử (DNP)
Loại trừ(EX)
Không đến (DNA)
Rút lui(WD)
Annotation Meaning
P Pole position
F Fastest lap
Superscript number[A] Position in sprint qualifying
  1. ^ Sprint qualifying position is only included for points scoring positions

Notes:

  • † – Driver did not finish the Grand Prix, but was classified as he completed more than 90% of the race distance.
  • ‡ – Half points were awarded at the Belgian Grand Prix as less than 75% of the scheduled distance was completed. Fastest laps were not recognised in the final classification.
  • Rows are not related to the drivers: within each team, individual Grand Prix standings are sorted purely based on the final classification in the race (not by total points scored in the event, which includes points awarded for fastest lap and sprint qualifying).

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Hamilton lần thứ 7 vô địch F1, cân bằng với huyền thoại Michael Schumacher”. VTV.
  2. ^ “Hamilton nhất chặng mở màn F1 2021”. Vnexpress.
  3. ^ “Verstappen đánh bại Hamilton tại Imola”. Vnexpress.
  4. ^ “Lewis Hamilton ngược dòng tại Portimao”. VNexpress.
  5. ^ “Hamilton đoạt pole thứ 100”. 24h.
  6. ^ “Hamilton thắng ngược tại Catalunya”. Vnexpress.
  7. ^ “Leclerc giành pole dù gặp nạn ở Monaco”. Vnexpress.
  8. ^ “Verstappen chiếm ngôi đầu của Hamilton”. VNexpress.
  9. ^ “Charles Leclerc giành vị trí xuất phát đầu tiên tại GP Azerbaijan”. VTV.
  10. ^ “Verstappen vuột chiến thắng vì nổ lốp ở Baku”. VNexpress.
  11. ^ “F1: Sergio Perez về nhất tại GP Azerbaijan”. VTV.
  12. ^ “Max Verstappen xây chắc ngôi đầu”. VNexpress.
  13. ^ “Verstappen lại gieo sầu cho Hamillton và Mercedes”. VNexpress.
  14. ^ “Verstappen nới rộng cách biệt với Hamilton”. VNexpress.
  15. ^ “Verstappen phanh cháy lốp vẫn giành pole”. Vnexpress.
  16. ^ “GP Anh 2021: Chiến thắng gọi tên Hamilton, nỗi buồn cho Verstappen”. Thể thao văn hóa.
  17. ^ “Esteban Ocon thắng chặng Hungary GP”. Vnexpress.
  18. ^ “Kimi Raikkonen sẽ không dự GP Hà Lan vì nhiễm COVID-19”. VTV.
  19. ^ “Daniel Ricciardo vô địch GP Italia”. VTV.
  20. ^ “Hamilton thoát chết khi bị xe của Verstappen đè đầu”. Vnexpress.
  21. ^ “Lando Norris giành pole tại GP Nga”. VTV.
  22. ^ “Hamilton lập kỷ lục thắng 100 chặng F1”. Vnexpress.
  23. ^ “Verstappen lấy lại đỉnh bảng, Mercedes chia nửa buồn vui”. Vnexpress.
  24. ^ “Verstappen nới rộng cách biệt với Hamilton”. Vnexpress. 25 tháng 10 năm 2021.
  25. ^ “Max Verstappen về nhất tại chặng đua Mexico GP”. VTV. 8 tháng 11 năm 2021.
  26. ^ “Lewis Hamilton bị hủy kết quả phân hạng, Max Verstappen bị phạt 50 ngàn Euro-GP Sao Paulo”. Thể thao tốc độ. 14 tháng 11 năm 2021.
  27. ^ “Hamilton thắng ngược Verstappen ở Interlagos”. Vnexpress. 15 tháng 11 năm 2021.
  28. ^ “Hamilton 'thổi lửa vào gáy' Verstappen”. VNexpress. 22 tháng 11 năm 2021.
  29. ^ Franco Nugnes (19 tháng 1 năm 2021). “Alfa Romeo: si chiamerà C41 la monoposto 2021” (bằng tiếng Italy). Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2021.
  30. ^ “Alfa Romeo Racing C41”. Alfa Romeo Racing. Sauber Group. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2021.
  31. ^ “AlphaTauri name date to reveal 2021 F1 car – the AT02”. F1. 4 tháng 2 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2021.
  32. ^ “AT02 Fire Up: 8D Audio | Scuderia AlphaTauri”. 16 tháng 2 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2021.
  33. ^ “Renault to rebrand as Alpine F1 Team in 2021”. F1. 6 tháng 9 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2020.
  34. ^ Smith, Luke (14 tháng 1 năm 2021). “Alpine to launch A521 F1 car next month after livery tease”. Autosport.com. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2021.
  35. ^ Alpine F1 Team [@AlpineF1Team] (2 tháng 3 năm 2021). “Alpine A521 Renault E-TECH 20B @OconEsteban @alo_oficial #A521Launch Blue heart in the comments if you're in love!” (Tweet). Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2021 – qua Twitter.
  36. ^ Adam Cooper (7 tháng 1 năm 2021). “Aston Martin set to drop pink livery as it reveals title sponsor”. motorsport.com. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2021.
  37. ^ “Aston Martin reveal name of 2021 F1 challenger ahead of next week's launch”. F1. 24 tháng 2 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2021.
  38. ^ “The AMR21”. Aston Martin Formula One Team. 3 tháng 3 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2021.
  39. ^ “Ferrari reveals SF21 name, launch plan ahead of 2021 F1 test”. motorsport.com. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2020.
  40. ^ “SF21, the New Ferrari Single-Seater – Ferrari.com”. Ferrari.com. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2021.
  41. ^ “Uralkali Announced as Haas F1 Team Title Partner”. Haas F1 Team. 4 tháng 3 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2021.
  42. ^ “Haas become final team to reveal 2021 launch date”. F1. 25 tháng 2 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2021.
  43. ^ “VF-21”. Haas F1 Team. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2021.
  44. ^ Rencken, Dieter; Collantine, Keith (3 tháng 11 năm 2020). "No nasty surprises" designing Mercedes installation for McLaren MCL35M – Key”. RaceFans.net. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2020.
  45. ^ “McLaren MCL35M Technical Specification”. McLaren. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2021.
  46. ^ Noble, Jonathan (2 tháng 2 năm 2021). “Mercedes announces launch date for 2021 F1 car”. motorsport.com. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2021.
  47. ^ “Mercedes W12: ecco la scheda tecnica”. motorsport.com (bằng tiếng Italy). 2 tháng 3 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2021.
  48. ^ Rencken, Dieter; Collantine, Keith (14 tháng 10 năm 2020). “Red Bull will address current car problems in RB16B - Horner”. RaceFans. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2020.
  49. ^ “Meet The RA621H”. Honda.Racing. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2021.
  50. ^ Smith, Luke. “Williams reveals launch date for 2021 FW43B Formula 1 car”. Autosport. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2021.
  51. ^ Luca Manacorda (5 tháng 3 năm 2021). “La scheda tecnica della Williams FW43B”. MotorBox (bằng tiếng Italy). Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2021.
  52. ^ “Zak Brown: 'Động cơ Mercedes không giúp McLaren tranh chức vô địch'. Vnexpress.
  53. ^ “Fernando Alonso trở lại F1 sau 2 năm vắng bóng”. Thể thao tốc độ.
  54. ^ “Vettel đến Aston Martin: Xây "đế chế" mới cùng tỷ phú Lawrence Stroll”. 24h.
  55. ^ “Sergio Perez đạt thỏa thuận gia nhập Red Bull từ mùa 2021”. VTV.
  56. ^ “Hủy chặng đua Canada”. Thể thao tốc độ.
  57. ^ “Giải đua xe Công thức 1 tại Singapore bị hủy năm thứ hai”. Tuổi trẻ.
  58. ^ “Hủy chặng đua GP Úc 2021”. Thể Thao Tốc Độ.
  59. ^ “F1 sẽ có thêm chặng đua ở Ả-rập Xê-út trong năm 2021”. VTV.
  60. ^ “F1 chính thức thông qua phương án đua sprint-race”. Thể thao tốc độ.
  61. ^ “2021 RACE RESULTS”. Trang chủ Formula1.
  62. ^ “2021 Classifications”. FIA. 2021. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2021.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]