Carlos Sainz Jr.

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Carlos Sainz Jr.
Formel12021-SchlossGabelhofen(15) (cropped).jpg
Sainz in 2021
SinhCarlos Sainz Vázquez de Castro
1 tháng 9, 1994 (27 tuổi)
Madrid, Spain
Sự nghiệp đua xe Công thức 1
Quốc tịchTây Ban Nha Spanish
Đội đua 2021Ferrari[1]
Số xe55
Số chặng đua tham gia136 (135 starts)
Vô địch0
Chiến thắng0
Podium5
Điểm494.5
Pole0
Fastest lap1
Chặng đua đầu tiên2015 Australian Grand Prix
Chặng đua cuối cùngChặng đua GP Hoa Kỳ 2021
Kết quả 20206th (105 pts)
SignatureF1divrerCarlosSainz jr signature.png
WebsiteTrang web chính thức
Previous series
201314
2013
2012
2012
2011
201011
2010
2010
Formula Renault 3.5 Series
GP3 Series
FIA European F3 Championship
British Formula 3
Formula Renault 2.0 NEC
Eurocup Formula Renault 2.0
Formula BMW Europe
Formula BMW Pacific
Championship titles
2014
2011
Formula Renault 3.5 Series
Formula Renault 2.0 NEC

Carlos Sainz Vázquez de Castro hay Carlos Sainz Jr. hoặc đơn giản là Carlos Sainz, (sinh ngày 01/09/1994) là một tay đua Công thức 1 người Tây Ban Nha. Carlos Sainz đã nhiều lần lên bục podium F1. Mùa giải 2021, Carlos Sainz thi đấu cho đội đua Scuderia Ferrari.

Sự nghệp[sửa | sửa mã nguồn]

Trước năm 2015: Sainz là thành viên của học viện tay đua trẻ của Red Bull Racing. Anh giành chức vô địch giải đua Formula Renault 3.5 Series năm 2014.

Từ năm 2015-2017: Carlos Sainz bắt đầu sự nghiệp F1 vào năm 2015 ở đội đua Toro Rosso, vệ tinh của Red Bull. Anh là đồng đội với một tân binh khác là Max Verstappen[2].

Do Verstsappen có kết quả thi đấu ấn tượng hơn nên đầu mùa giải 2016, Verstappen được Red Bull chọn để hoán đổi vị trí với Danill Kvyat[3]. Sainz vì thế có người đồng đội mới là người bạn cùng khóa-Kvyat. Trong quãng thời gian khoảng 2 năm thi đấu chung nhau thì Sainz thường có kết quả tốt hơn. Và thành tích tốt nhất của Sainz trong thời kỳ này là vị trí thứ 4 ở GP Singapore 2017.

Sau đó, Sainz xảy ra bất đồng với đội đua chủ quản Red Bull dẫn đến việc anh chuyển sang Renault ở 4 chặng đua cuối cùng (và toàn bộ năm 2018) theo hình thức cho mượn.[4].

Mùa giải 2018: Sainz ghi điểm ít hơn đồng đội Nico Hulkenberg. Kết quả tốt nhất là vị trí thứ 5 ở chặng đua GP Azerbaijan.

Mùa giải 2019: Carlos Sainz chính thức chấm dứt quan hệ với Red Bull để chuyển đến đội đua Mclaren[5]. Anh đã có kết quả vượt trội so với người đồng đội tân binh Lando Norris. Ở GP Brasil, do Lewis Hamilton bị phạt nên Sainz được đôn lên vị trí podium[6]. Đây là podium đầu tiên trong sự nghiệp của Sainz, cũng là podium đầu tiên của đội đua Mclaren sau rất nhiều năm.

Mùa giải 2020: Carlos Sainz liên tục được nhắc tên ở 4 chặng đua liên tiếp từ chặng 7-GP Bỉ đến chặng 10 GP Nga. Chặng 7-GP Bỉ, anh gặp sự cố động cơ nên phải bỏ cuộc trước khi cuộc đua chính diễn ra[7]. Đúng một tuần sau, Sainz có cơ hội tấn công Pierre Gasly để giành chiến thắng chặng 8-GP Italia nhưng không thành công, đành chấp nhận vị trí thứ 2[8]. Chặng 9-GP Tuscany thì Sainz vướng vào tai nạn liên hoàn với Kevin Magnussen, Antonio Giovinazzi và Nicholas Latifi khiến anh phải bỏ cuộc[9]. Ở chặng 10-GP Nga thì Sainz phải bỏ cuộc ngay từ vòng 1 do để mất lái tông rào.

Nhưng chung cuộc thì Sainz vẫn ghi được nhiều điểm hơn đồng đội Norris

Mùa giải 2021: Carlos Sainz chuyển đến Ferrari[10] để đua cặp với Charles Leclerc. Anh đã có lần đầu tiên lên bục podium cho đội đua Italia ở chặng đua GP Monaco[11] khi mà Leclerc không thể thi đấu dù đã giành pole[12].

Thống kê thành tích[sửa | sửa mã nguồn]

(Tính đến hết chặng đua GP Anh 2021)

Năm Giải đua Đội đua Races Poles Wins F/Laps Podiums Điểm Kết quả
2010 Formula BMW Europe EuroInternational 16 2 1 2 5 227 4th
Formula BMW Pacific 9 3 2 2 5 N/A NC†
Eurocup Formula Renault 2.0 Epsilon Euskadi 2 0 0 2 1 N/A NC†
Tech 1 Racing 2 0 0 0 0
European F3 Open De Villota Motorsport 4 0 0 0 1 N/A NC†
Formula Renault UK Winter Series Koiranen Bros. Motorsport 2 0 0 0 0 18 18th
2011 Eurocup Formula Renault 2.0 Koiranen Motorsport 14 4 2 5 10 200 2nd
Formula Renault 2.0 NEC 20 8 10 12 17 489 1st
Formula 3 Euro Series Signature 3 0 0 0 0 N/A NC†
Macau Grand Prix 1 0 0 0 0 N/A 17th
2012 British Formula 3 Championship Carlin 26 1 5 2 9 224 6th
Formula 3 Euro Series 24 2 0 0 2 112 9th
FIA Formula 3 European Championship 20 2 1 1 5 161 5th
Masters of Formula 3 1 0 0 0 0 N/A 4th
Macau Grand Prix 1 0 0 0 0 N/A 7th
2013 GP3 Series MW Arden 16 1 0 2 2 66 10th
Formula Renault 3.5 Series Zeta Corse 9 0 0 1 0 22 19th
2014 Formula Renault 3.5 Series DAMS 17 7 7 6 7 227 1st
2015 Formula One Scuderia Toro Rosso 19 0 0 0 0 18 15th
2016 Formula One Scuderia Toro Rosso 21 0 0 0 0 46 12th
2017 Formula One Scuderia Toro Rosso 16 0 0 0 0 54 9th
Renault Sport F1 Team 4 0 0 0 0
2018 Formula One Renault Sport F1 Team 21 0 0 0 0 53 10th
2019 Formula One McLaren F1 Team 21 0 0 0 1 96 6th
2020 Formula One McLaren F1 Team 17 0 0 1 1 105 6th
2021 Formula One Scuderia Ferrari Mission Winnow 10 0 0 0 1 68* 7th*

* Mùa giải đang diễn ra

Cuộc sống cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Carlos Sainz Jr sinh ra ở Madrid, Tây Ban Nha, tên đầy đủ là Carlos Sainz Vázquez de Castro nên được gọi ngắn gọn là Carlos Sainz. Để phân biệt với người bố là huyền thoại giải đua Rally Carlos Sainz (tên đầy đủ Carlos Sainz Cenamor), nên tên của Sainz-con được gắn kèm chữ Jr (Junior).

Ngoài người bố của mình thì thần tượng đua xe của Sainz là tay đua đồng hương Fernando Alonso[13]. Giống như Alonso và bố của mình, Sainz cũng là một cổ động viên của câu lạc bộ Real Madrid.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Coch, Mat (ngày 14 tháng 5 năm 2020). “Ferrari confirms Sainz as Vettel's replacement”. speedcafe.com. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2020.
  2. ^ “Sainz to race alongside Verstappen at Toro Rosso in 2015”. Trang chủ Formula1.
  3. ^ “Red Bull replace Kvyat with Verstappen”. Trang chủ Formula1.
  4. ^ “Sainz to join Renault 'on loan' in 2018”. Trang chủ Formula1.
  5. ^ “Đua xe F1: Carlos Sainz Jr chuyển sang McLaren vào mùa giải 2019”. VTV.
  6. ^ “Sainz takes maiden podium as Hamilton handed post-race penalty for Albon clash”. Trang chủ Formula1.
  7. ^ “Sainz's Belgian GP over before it starts after exhaust failure on lap to grid”. Trang chủ Formula1.
  8. ^ “F1: Pierre Gasly giành chiến thắng lịch sử tại GP Italia”. VTV.
  9. ^ “Tuscan Grand Prix 2020: Muốn bao nhiêu hỗn loạn cũng có”. Dân trí.
  10. ^ “Ferrari chiêu mộ Carlos Sainz”. Vnexpress.
  11. ^ “Sainz says P2 in Monaco a 'bittersweet feeling' as he 'genuinely thought we could win'. Trang chủ Formula1.
  12. ^ “Vì sao Leclerc bỏ cuộc ở Grand Prix Monaco?”. Vnexpress.
  13. ^ “Carlos Sainz on filling childhood hero Alonso's shoes at McLaren”. Trang chủ Formula1.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]